|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 381/2024/DS-PT Ngày: 30 - 5 - 2024 V/v Tranh chấp đòi quyền sử dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Chung Văn Kết
Các Thẩm phán: Ông Hoàng Minh Thịnh
Bà Bùi Thị Thu
- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Thế Mạnh - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Phượng - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 689/2023/TLPT-DS ngày 20 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp đòi quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 46/2023/DS-ST ngày 15 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 2643/2024/QĐPT-DS ngày 03 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Hồ Văn T, sinh năm 1969; nơi cư trú: Khu phố L, phường L, thị xã T, tỉnh Tây Ninh (có mặt).
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1965; nơi cư trú: Khu phố L, phường L, thị xã T, tỉnh Tây Ninh (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- 3.1. Bà Lê Thị S, sinh năm 1975 (có mặt);
- 3.2. Bà Phạm Thị N1, sinh năm 1966 (vắng mặt);
- 3.3. Anh Nguyễn Hải Â, sinh năm 1987 (vắng mặt);
- 3.4. Chị Nguyễn Thị Huyền T1, sinh năm 1988 (vắng mặt);
Cùng trú: Khu phố L, phường L, thị xã T, tỉnh Tây Ninh
- 3.5. Ủy ban nhân dân thị xã T, tỉnh Tây Ninh.
Đại diện theo pháp luật: ông Trần Tương Q, chức vụ: Chủ tịch UBND (vắng mặt).
- Người kháng cáo: Ông Hồ Văn T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Hồ Văn T trình bày:
Ông T khởi kiện yêu cầu ông N trả lại tôi toàn bộ phần đất ông N đang quản lý và sử dụng có diện tích theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) là 697,0 m², đo đạc thực tế là 759,6 m², thửa 109, tờ bản đồ số 62, tọa lạc tại khu phố L, phường L, thị xã T, tỉnh Tây Ninh.
Nguồn gốc đất đất tranh chấp là của ông bà, cha mẹ chết để lại cho ông T. Ông T sử dụng phần đất này từ năm 1975 đến khoảng năm 1994 khi ông C là em ông N đến phần đất tranh chấp cất nhà ở thì ông T mới ngưng sử dụng đất cho đến nay.
Năm 1994, ông T được cấp GCNQSDĐ đối với các thửa 6889, 6881, 6884, tờ bản đồ số 8 (bản đồ 299), tọa lạc tại khu phố L, phường L, thị xã T, tỉnh Tây Ninh, trong này có phần đất tranh chấp là thửa 439, tờ bản đồ 51 (thửa mới theo BĐĐC 2000), theo giấy CNQSDĐ cấp cho ông N là thửa 109, tờ bản đồ 62.
Phần đất tranh chấp có vị trí ngay cửa ngõ nhà ông T khoảng độ chừng 40 mét ngang theo mặt đường do ông T mua vào ngày 15/7/1990 của ông Nguyễn Văn S1 có giấy tay, đã cung cấp cho Tòa án. Phần còn lại là của cha mẹ ông T chết để lại. Trong quá trình sử dụng, ông N xây nhà thì ông T có ngăn cản bằng miệng chứ không có làm đơn khởi kiện hay tranh chấp gì.
Ông T xác định phần đất tranh chấp là của ông T và đã được cấp GCNQSDĐ theo quy định. Nay ông T yêu cầu ông N trả lại phần đất trên và yêu cầu hủy GCNQSDĐ đã cấp cho vợ chồng ông N, bà N1. Ông T thống nhất về kết quả khảo sát, đo đạc, thẩm định đất tranh chấp và việc định giá tài sản tranh chấp, ngoài ra không có ý kiến gì khác.
* Bị đơn ông Nguyễn Văn N trình bày:
Nhà ông N và nhà ông T ở gần nhau. Phần đất mà hiện nay ông T đang tranh chấp có nguồn gốc là do ông cố của ông N khai phá từ thời chiến tranh, sau đó để lại cho ông nội của ông là cụ Nguyễn Văn D, ông nội ông cho lại bác của ông là Nguyễn Văn X (chết). Đến năm 1988, bác của ông cho lại em ruột ông là Nguyễn Văn C1 và cháu nội của người thứ 6 em ruột cha ông là Nguyễn Thị C2 và con của bác ông là ông Nguyễn Văn N2 cất nhà ở trên phần đất này.
Đến năm 1993, ông N2 về ở chung với ông X, còn bà N2 thì về bên chồng ở nên để lại toàn bộ phần đất này cho ông C1 quản lý sử dụng. Sau đó, ông C1 mua phần đất khác để ở nên ông C1 kêu cho ông N là anh ruột dọn về nhà ông C1 cho đến nay.
Năm 1993, Khi ông N về ở trên phần đất này thì khu vực này chưa ai được cấp GCNQSDĐ cả. Đến năm 2005, ông N mới đi làm thủ tục kê khai đăng ký và được UBND huyện T cấp GCNQSDĐ ngày 08/11/2005. Xung quanh khu đất nhà ông N mặt trước và hai bên hông nhà ông xây hàng rào, còn mặt phía sau giáp với đất nhà ông T thì do ông T xây hàng rào, nhưng xây năm nào thì ông không nhớ nhưng cách nay khoảng 15 năm.
Nay ông T khởi kiện yêu cầu ông N trả lại phần đất có diện tích 697,0 m², đo đạc thực tế là 759,6 m², thửa 109, tờ bản đồ số 62, tọa lạc tại khu phố L, phường L, thị xã T, tỉnh Tây Ninh, ông N không đồng ý. Do phần đất này do ông bà ông N để lại, ông N đã sống trên đất này từ trước năm 1993 đến nay và đã được cấp GCNQSDĐ nên ông N không đồng ý trả đất theo yêu cầu của ông T và không đồng ý yêu cầu hủy giấy chứng nhận QSDĐ của ông T đối với ông N.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Bà Lê Thị S trình bày: Bà là vợ của ông T, bà thống nhất với ý kiến và yêu cầu của ông T.
- - Bà Phạm Thị N1 trình bày: Bà là vợ của ông N, bà thống nhất với ý kiến của ông N là không đồng ý theo yêu cầu của ông T.
- - Anh Nguyễn Hải Â, chị Nguyễn Thị Huyền T1 trình bày: Anh Â, chị T1 là con của ông N, đang sống chung nhà với ông N; anh chị thống nhất với ý kiến của ông N và giao toàn quyền quyết định cho cha là ông N.
- - Đại diện Ủy ban nhân dân thị xã T trình bày tại Văn vản số 55/UBND ngày 15/3/2023, Văn bản ngày 14/9/2023 như sau: Giấy chứng nhận QSDĐ số H00803 ngày 08/11/2005 cấp cho ông Nguyễn Văn N và bà Phạm Thị N1 tại thửa đất số 109, tờ bản đồ số 62, diện tích 697m² trùng lên giấy chứng nhận QSDĐ số 00471 QSDĐ/716/QĐ-UB(H) ngày 10/6/1994 cấp cho ông Hồ Văn T tại thửa số 6884, 6889 tờ bản đồ số 8. Nhưng diện tích đất nêu trên, gia đình ông N đã quản lý, sử dụng ổn định lâu dài từ trước năm 1993 đến nay. Việc cấp giấy chứng nhận QSDĐ cho ông N là đúng vị trí, hiện trạng và đối tượng sử dụng đất.
- Việc cấp giấy CNQSDĐ cho ông T vào năm 1994 là không có đo đạc cụ thể nên không đúng vị trí, hiện trạng đất ông T đang quản lý sử dụng. Vì vậy, việc thu hồi, hủy bỏ giấy CNQSDĐ của ông N là không cần thiết. Đối với GCNQSDĐ cấp cho ông T là không đúng vị trí, hiện trạng sử dụng đất nên đề nghị Tòa án thu hồi một phần GCNQSDĐ của ông T để điều chỉnh cho đúng với vị trí, hiện trạng sử dụng đất của ông T đang sử dụng.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 46/2023/DS-ST ngày 15 tháng 9 năm 2023
của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh, quyết định:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hồ Văn T về việc "Đòi quyền sử dụng đất" đối với ông Nguyễn Văn N trả lại phần đất có diện tích 697,0 m² (đo đạc thực tế là 759,6 m²), thửa 109, tờ bản đồ số 62, tọa lạc tại khu phố L, phường L, thị xã T, tỉnh Tây Ninh.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hồ Văn T về việc "Yêu cầu hủy giấy CNQSDĐ" số H00803 ngày 08/11/2005 cấp cho ông Nguyễn Văn N và bà Phạm Thị N1 tại thửa đất số 109, tờ bản đồ số 62, diện tích 697m², tọa lạc tại khu phố L, phường L, thị xã T, tỉnh Tây Ninh.
- Đề nghị UBND thị xã T, tỉnh Tây Ninh thu hồi, điều chỉnh giấy CNQSDĐ số 00471 QSDĐ/716/QĐ-UB(H) ngày 10/6/1994 cấp cho ông Hồ Văn T thửa số 6884, 6889 tờ bản đồ số 8 để điều chỉnh vị trí, diện tích hiện trạng và đối tượng sử dụng đất cho phù hợp với thực tế đất ông T đang quản lý, sử dụng.
Bản án sơ thẩm còn quyết định về chi chi phí tố tụng, án phí, việc thi hành án và quyền kháng cáo vụ án theo luật định.
* Sau khi xét xử sơ thẩm: Ngày 30/9/2023, nguyên đơn ông Hồ Văn T có đơn kháng cáo yêu cầu sửa án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- - Người kháng cáo nguyên đơn – ông T giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm: Thẩm phán, Hội đồng xét xử tiến hành đúng theo quy định của pháp luật tố tụng và các đương sự cũng chấp hành đúng với quyền và nghĩa vụ của các đương sự được pháp luật quy định. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm bác kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng: Tại phiên tòa, các đương sự vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Thấy rằng các đương sự đã được tòa án triệu tập hợp lệ 02 lần; Căn cứ Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định pháp luật.
[2]. Xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Hồ Văn T, thấy rằng:
[2.1]. Về nguồn gốc và quá trình quản lý sử dụng phần đất tranh chấp:
Phía nguyên đơn kháng cáo cho rằng phần đất có diện tích theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp (GCNQSDĐ) là 697,0 m², đo đạc thực tế là 759,6 m², thửa 109, tờ bản đồ số 62, tọa lạc tại khu phố L, phường L, thị xã T, tỉnh Tây Ninh là do ông bà chết để lại.
Còn bị đơn ông Nguyễn Văn N cho rằng nguồn gốc đất là do ông cố của ông N khai phá từ thời chiến tranh, sau đó để lại cho ông nội của ông là cụ Nguyễn Văn D, ông nội ông cho lại bác của ông là Nguyễn Văn X (chết). Đến năm 1988, bác của ông cho lại em ruột ông là Nguyễn Văn C1 và cháu nội của người thứ 6 em ruột cha ông là Nguyễn Thị C2 và con của bác ông là ông Nguyễn Văn N2 cất nhà ở trên phần đất này. Đến năm 1993, ông N2 về ở chung với ông X, còn bà N2 thì về bên chồng ở nên để lại toàn bộ phần đất này cho ông C1 quản lý sử dụng. Sau đó, ông C1 mua phần đất khác để ở nên ông C1 kêu cho ông N là anh ruột dọn về nhà ông C1 ở cho đến nay.
Hồ sơ thể hiện:
- - Phần diện tích đất đang tranh chấp phía ông T cũng đã được cấp GCNQSD đất năm 1994, ông N cũng được cấp GCNQSD đất năm 2005.
- - Quan điểm Ủy ban nhân dân thị xã T cho rằng việc cấp trùng phần diện tích đất trên là do khi cấp GCNQSD đất cho ông T vào năm 1994 “không được đo đạc, xác định hiện trạng vị trí đất cụ thể nên việc cấp giấy CNQSDĐ cho ông T không đúng vị trí, hiện trạng đất ông T đang sử dụng, ông T được cấp giấy CNQSDĐ nhưng thực tế ông T không quản lý, sử dụng. Còn việc cấp giấy chứng nhận QSDĐ số H00803 ngày 08/11/2005 cấp cho ông Nguyễn Văn N và bà Phạm Thị N1 tại thửa đất số 109, tờ bản đồ số 62, diện tích 697m² là đúng vị trí, hiện trạng và đối tượng sử dụng đất và ông N đã quản lý sử dụng ổn định”
- - Như vậy, có đủ cơ sở xác định: Nguồn gốc phần đất tranh chấp là của ông bà, dòng họ của ông N đã khai phá. Phía gia đình bị đơn ông N cũng đã quản lý, sử dụng, cất nhà ở ổn định từ năm 1988 cho đến nay.
[2.2]. Tòa sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu đòi đất của nguyên đơn là có cơ sở. Nguyên đơn kháng cáo nhưng không cung cấp thêm được chứng cứ nào mới để chứng minh cho yêu cầu của mình. Do đó, quan điểm của Viện kiểm sát đề nghị bác kháng cáo, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
[3]. Về án phí dân sự phúc thẩm: Người kháng cáo ông Hồ Văn T phải chịu 300.000 đồng.
[4]. Các phần khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
Không chấp nhận kháng cáo của ông Hồ Văn T. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 46/2023/DS-ST ngày 15 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hồ Văn T về việc "Đòi quyền sử dụng đất" đối với ông Nguyễn Văn N trả lại phần đất có diện tích 697,0 m² (đo đạc thực tế là 759,6 m²), thửa 109, tờ bản đồ số 62, tọa lạc tại khu phố L, phường L, thị xã T, tỉnh Tây Ninh.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hồ Văn T về việc "Yêu cầu hủy giấy CNQSDĐ" số H00803 ngày 08/11/2005 cấp cho ông Nguyễn Văn N và bà Phạm Thị N1 tại thửa đất số 109, tờ bản đồ số 62, diện tích 697m², tọa lạc tại khu phố L, phường L, thị xã T, tỉnh Tây Ninh.
- Đề nghị UBND thị xã T, tỉnh Tây Ninh thu hồi, điều chỉnh giấy CNQSDĐ số 00471 QSDĐ/716/QĐ-UB(H) ngày 10/6/1994 cấp cho ông Hồ Văn T thửa số 6884, 6889 tờ bản đồ số 8 để điều chỉnh vị trí, diện tích hiện trạng và đối tượng sử dụng đất cho phù hợp với thực tế đất ông T đang quản lý, sử dụng.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn ông Hồ Văn T phải chịu án phí dân sự phúc thẩm 300.000 đồng được khấu trừ vào số tiền đã nộp theo biên lai thu tiền số 0000075 ngày 03/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh (đã nộp xong).
- Các phần khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Chung Văn Kết |
Bản án số 381/2024/DS-PT ngày 30/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp đòi quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Số bản án: 381/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 30/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của ông Hồ Văn T. Giữ nguyên bản ản dân sự sơ thẩm.
