Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 3805/2024/DS-ST

Ngày: 16-08-2024.

V/v Tranh chấp về hợp đồng vay tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TP. THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Thực.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phạm Văn Phước.
  2. Bà Nguyễn Hương Thủy.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thảo – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 08 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 201/2024/TLST-DS ngày 24 tháng 01 năm 2024 về “Tranh chấp về hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 4356/2024/QĐXXST-DS ngày 18 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 5563/2024/QĐST-DS ngày 18/7/2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Hoàng H, sinh năm: 1985.

Địa chỉ: Số E đường N, phường T, quận H, Thành phố Đà Nẵng.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Lê Văn T, sinh năm: 2000; địa chỉ: A B, khối T, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam – Là đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền số 004072, quyển số 01/2022 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 12/12/2022 lập tại Văn phòng C).

Bị đơn: Ông Hà Thúc H1, sinh năm: 1981.

Địa chỉ: E N, tổ A, khu phố B, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Ông T vắng mặt và có đơn xin vắng mặt, ông H1 vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, các biên bản trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Nguyễn Hoàng H có ông Lê Văn T là đại diện theo ủy quyền trình bày:

Ngày 01/11/2010, ông Nguyễn Hoàng H có cho ông Hà Thúc H1 vay số tiền là 120.000.000 đồng, hai bên đã lập giấy vay tiền với thoả thuận lãi suất 1%/tháng. Thời hạn phải thanh toán cả gốc lẫn lãi vào tháng 05/2011, tức vào tháng 05/2011 ông Hà Thúc H1 phải trả cho ông H tiền gốc: 120.000.000 đồng, tiền lãi từ ngày 01/11/2010 đến tháng 05/2011 là 06 tháng tương đương 6% là 7.200.000 đồng. Tổng số tiền gốc và lãi là 127.200.000 đồng.

Đến thời gian mà hai bên đã thỏa thuận, nhiều lần ông H liên hệ ông H1 để yêu cầu ông H1 thanh toán lại số tiền trên nhưng ông H1 cố tình trốn tránh, không hợp tác. Ông H cũng đã nhiều lần đến địa chỉ nhà ông H1 nhưng đóng cửa nên ông H không thể tìm được tiếng nói chung, do ông H1 cố tình thay đổi địa chỉ liên tục để ông H không thể nào biết được, từ đó gây khó khăn cho ông H trong việc tìm đến để gặp và trao đổi về vấn đề trên. Nhận thấy, cũng đã gần 13 năm và ông H1 đang cố tình trốn tránh việc trả lại số tiền trên nhằm chiếm đoạt số tiền mà ông H1 đã mượn của ông H.

Nay ông H khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông H1 có nghĩa vụ phải thanh toán cho ông H tổng số tiền tính đến ngày 16/08/2024 là: 294.883.562 đồng, cụ thể như sau:

+ Số tiền gốc: 120.000.000 đồng, tiền lãi từ ngày 01/11/2010 đến tháng 05/2011 là 06 tháng tương đương 6% là 7.200.000 đồng. Tổng số tiền gốc và lãi là 127.200.000 đồng.

+ Số tiền nợ lãi chậm trả theo lãi suất 10%/năm tính từ ngày 01/06/2011 đến ngày 16/08/2024 là 167.883.562 đồng.

Bị đơn ông Hà Thúc H1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm nên không có ý kiến trình bày.

Tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn có đơn xin vắng mặt, bị đơn ông Hà Thúc H1 mặc dù đã được tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về tuân theo pháp luật tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến tại phiên tòa trước khi Hội đồng xét xử nghị án, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và phía nguyên đơn đã chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về quan điểm giải quyết vụ án:

Căn cứ Giấy vay tiền ngày 01/11/2010 và các tài liệu chứng cứ khác có cơ sở xác định bị đơn còn nợ nguyên đơn số tiền 120.000.000 đồng, ngày đến hạn trả nợ là tháng 05/2011 nhưng bị đơn không trả cho nguyên đơn cả tiền gốc và lãi. Bị đơn đã vi phạm các nghĩa vụ theo Hợp đồng vay tiền này. Do đó, căn cứ Điều 153, Điều 305, Điều 401, Điều 471, Điều 474, Điều 476 của Bộ luật Dân sự năm 2005, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 và hướng dẫn tại Điều 2, Điều 4, Điều 5, Điều 6 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn phải trả khoản tiền gốc 120.000.000 đồng, tiền lãi trong hạn là 7.200.000 đồng, tiền lãi chậm trả là 156.237.500 đồng, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về số tiền lãi chậm trả là: 11.446.062 đồng.

Về án phí đề nghị xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.

XÉT THẤY:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật có tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án:

Ông H khởi kiện yêu cầu ông H1 trả nợ theo Giấy vay tiền ngày 01/11/2010, do đó quan hệ tranh chấp trong vụ án này là tranh chấp về Hợp đồng vay tài sản. Bị đơn ông Hà Thúc H1 có nơi cư trú cuối cùng tại thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh nên căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

[2] Về thủ tục tố tụng:

Bị đơn ông Hà Thúc H1 đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm không có lý do. Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Lê Văn T có đơn xin xét xử vắng mặt. Xét việc vắng mặt của các đương sự, người đại diện hợp pháp của các đương sự không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên căn cứ quy định tại Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.

Về thời hiệu khởi kiện: Các đương sự trong vụ án không yêu cầu tính thời hiệu khởi kiện nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về nội dung vụ án và yêu cầu của đương sự:

Từ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và lời trình bày, xác nhận của đương sự, Hội đồng xét xử có cơ sở để xác định:

Ngày 01/10/2010, ông Hà Thúc H1 có viết Giấy vay tiền với nội dung thể hiện ông H1 vay của ông Nguyễn Hoàng H số tiền 120.000.000 đồng, lãi suất là 01%/tháng, thời hạn trả nợ cả gốc lẫn lãi là tháng 05/2011.

Xét thấy Giấy vay tiền nêu trên có nội dung là hợp đồng vay tài sản, về hình thức và nội dung được thực hiện đúng theo quy định tại Điều 401, Điều 471 của Bộ luật Dân sự năm 2005 và Điều 119, Điều 463 của Bộ luật Dân sự năm 2015, ông H1 tự nguyện viết, ký tên vào giấy vay tiền nêu trên. Do đó, Giấy vay tiền nêu trên có giá trị pháp lý ràng buộc các bên thực hiện các quyền và nghĩa vụ đã thỏa thuận.

Các bên thỏa thuận thời hạn trả tiền gốc, tiền lãi là tháng 05/2011, theo quy định tại Điều 153 của Bộ luật Dân sự năm 2005 về cách tính thời hạn thì thời hạn này sẽ kết thúc vào ngày cuối cùng của tháng 05/2011 tức là ngày 31/05/2011. Hết thời hạn này, phía ông H1 không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ tiền gốc, tiền lãi trong hạn cho ông H, vi phạm quy định tại Điều 474 của Bộ luật Dân sự năm 2005 về nghĩa vụ trả nợ của bên vay. Do đó, việc ông H yêu cầu ông H1 phả trả khoản tiền gốc 120.000.000 đồng cùng tiền lãi trong hạn, tiền lãi chậm trả là có cơ sở để xem xét chấp nhận, phù hợp với quy định tại Điều 305 của Bộ luật Dân sự năm 2005.

Về việc xác định số tiền lãi trong hạn: Tại Quyết định số 2561/QĐ-NHNN ngày 27/10/2010 của Ngân hàng N xác định lãi suất cơ bản là 8%/năm, Quyết định số 2619/QĐ-NHNN ngày 05/11/2010 của Ngân hàng N xác định lãi suất cơ bản là 9%/năm, Quyết định số 2868/QĐ-NHNN ngày 01/12/2010 của Ngân hàng N xác định lãi suất cơ bản là 9%/năm, căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 476 của Bộ luật Dân sự năm 2005 thì lãi suất các bên thỏa thuận không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng N công bố. Do đó, việc các bên thỏa thuận lãi suất trong hạn là 01%/ tháng (tương đương 12%/năm) là phù hợp với các quy định của pháp luật đã nêu trên.

Do đó, việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả khoản tiền lãi trong hạn trong thời gian là 06 tháng (từ ngày 01/11/2010 đến ngày 31/05/2011) theo lãi suất 01%/tháng là phù hợp với quy định của pháp luật và có cơ sở để chấp nhận.

Tiền lãi trong hạn được tính cụ thể như sau: 120.000.000 đồng X 06 tháng X 01%/tháng = 7.200.000 đồng.

Về việc xác định số tiền lãi quá hạn chậm trả: Xét tại Giấy vay tiền ngày 01/11/2010 các bên không thỏa thuận về việc trả tiền lãi chậm trả và lãi suất chậm trả, bị đơn cũng chưa trả tiền gốc và lãi đúng hạn cho nguyên đơn theo thỏa thuận nên việc nguyên đơn yêu cầu tính lãi chậm trả từ ngày 01/6/2011 đến ngày xét xử sơ thẩm là ngày 16/08/2024 là có cơ sở, phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 305 của Bộ luật Dân sự năm 2005 và hướng dẫn tại Điều 6 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.

Như đã nhận định nêu trên, ông H1 chưa thực hiện việc trả nợ gốc và tiền lãi đúng hạn như các bên đã thỏa thuận tại Giấy vay tiền lập ngày 01/10/2010, do đó Giấy vay tiền này thuộc trường hợp đang được thực hiện theo hướng dẫn tại điểm c khoản 1 Điều 2 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao. Các bên thỏa thuận lãi suất trong hạn là 1%/ tháng (tương đương 12%/năm) là phù hợp với quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, do đó việc xác định lãi, lãi suất được thực hiện theo hướng dẫn tại điểm c khoản 1 Điều 2, Điều 4, Điều 5 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao. Tiền lãi chậm trả trong các khoảng thời gian được tính cụ thể như sau:

+ Từ ngày 01/6/2011 đến ngày 31/12/2016 (05 năm 06 tháng): Trong thời gian này tiền lãi chậm trả được tính trên số tiền nợ gốc 120.000.000 đồng và theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng N công bố (theo Quyết định số 2868/QĐ-NHNN ngày 01/12/2010 của Ngân hàng N thì lãi suất cơ bản hiện nay là 9%/năm), tiền lãi chậm trả được tính như sau:

120.000.000 đồng X 05 năm 06 tháng X 9%/năm = 59.400.000 đồng.

+ Từ ngày 01/01/2017 đến ngày xét xử sơ thẩm là ngày 16/08/2024 (07 năm 07 tháng 15 ngày) : Trong thời gian này tiền lãi chậm trả được tính trên nợ gốc quá hạn chưa trả 120.000.000 đồng theo lãi suất là 150% mức lãi suất vay do các bên thỏa thuận trong hợp đồng (150%X12%/năm = 18%/năm), tiền lãi chậm trả tính trên khoản nợ lãi trong hạn chưa trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 (10%/năm). Tuy nhiên, nguyên đơn xác định yêu cầu bị đơn trả tiền lãi theo mức lãi suất chậm trả là 10%/năm nên Hội đồng xét xử xác định lãi suất để tính cả hai khoản lãi nêu trên đều là 10%/năm. Tiền lãi chậm trả được tính như sau:

(120.000.000 đồng + 7.200.000 đồng) X 07 năm 07 tháng 15 ngày X 10%/năm = 96.837.500 đồng.

Tổng cộng các khoản tiền lãi chậm trả theo hai mốc thời gian trên là: 96.837.500 đồng + 59.400.000 đồng = 156.237.500 đồng.

Xét phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận toàn bộ.

Từ các nhận định nêu trên, có cơ sở để chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn, buộc ông Hà Thúc H1 phải trả cho ông Nguyễn Hoàng H tổng cộng là: 283.437.500 đồng, trong đó số tiền nợ gốc là 120.000.000 đồng, tiền lãi trong hạn là 7.200.000 đồng, tiền lãi chậm trả là: 156.237.500 đồng. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông H về việc buộc ông H1 trả số tiền lãi chậm trả còn lại là: 11.446.062 đồng.

[4] Về án phí và quyền kháng cáo:

Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, bị đơn phải chịu án phí sơ thẩm trên số tiền 283.437.500 đồng là phần yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận, nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm trên số tiền 11.446.062 đồng là phần yêu cầu không được Tòa án chấp nhận.

Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a, khoản 1, Điều 35; điểm a, khoản 1, Điều 39; khoản 1 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 153, Điều 305, Điều 401, Điều 471, Điều 474, Điều 476 của Bộ luật Dân sự năm 2005;

- Căn cứ Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng về án phí, lệ phí Tòa án;

- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Hoàng H:

Buộc bị đơn ông Hà Thúc H1 phải trả cho nguyên đơn ông Nguyễn Hoàng H tổng số tiền là: 283.437.500 đồng (Hai trăm tám mươi ba triệu, bốn trăm ba mươi bảy nghìn, năm trăm đồng), trong đó nợ gốc là 120.000.000 đồng (Một trăm hai mươi triệu đồng), tiền lãi trong hạn là 7.200.000 đồng (Bảy triệu, hai trăm nghìn đồng), tiền lãi chậm trả là: 156.237.500 đồng (Một trăm năm mươi sáu triệu, hai trăm ba mươi bảy nghìn, năm trăm đồng). Trả ngay sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hoàng H về việc buộc bị đơn ông Hà Thúc H1 phải trả số tiền nợ lãi chậm trả là: 11.446.062 đồng (Mười một triệu, bốn trăm bốn mươi sáu nghìn, không trăm sáu mươi hai đồng).

Các bên thi hành dưới sự giám sát của Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Về án phí:

Án phí dân sự sơ thẩm bị đơn ông Hà Thúc H1 phải chịu là 14.171.875 đồng (Mười bốn triệu, một trăm bảy mươi mốt nghìn, tám trăm bảy mươi lăm đồng). Ông H1 chưa đóng án phí.

Án phí dân sự sơ thẩm nguyên đơn ông Nguyễn Hoàng H phải chịu là 572.303 đồng (Năm trăm bảy mươi hai nghìn, ba trăm lẻ ba đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ông H đã nộp là 6.492.500 đồng (Sáu triệu, bốn trăm chín mươi hai nghìn, năm trăm đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002968 do Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê, Thành phố Đà Nẵng lập ngày 20/11/2023. Ông H đã nộp đủ án phí, hoàn lại cho ông H số tiền tạm ứng án phí còn lại là 5.920.197 đồng (Năm triệu, chín trăm hai mươi nghìn, một trăm chín mươi bảy đồng).

3. Về quyền kháng cáo:

Ông Nguyễn Hoàng H, ông Hà Thúc H1 được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7,7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Tp.Thủ Đức;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự Tp. Thủ Đức;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ – VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đã ký

Nguyễn Trung Thực

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 3805/2024/DS-ST ngày 16/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TP. THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp về hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 3805/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TP. THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hoàng H- Hà Thúc H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger