|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK Bản án số: 380/2024/HS-ST Ngày 29 – 11 – 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Tiến Dũng
- Ông Trương Vĩnh Mai
- Thư ký phiên tòa: Ông Y Kăn Niê - Thư ký Toà án nhân dân TP. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Y Khang ÊBan - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2024 tại Trụ sở Toà án nhân dân TP. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 374/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 378/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2024, đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Lê Phúc T; Sinh ngày 16 tháng 5 năm 2000; Tại: Tỉnh Đắk Lắk;
Nơi cư trú: Tổ dân phố I, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Con ông Lê Phúc T1 - sinh năm 1966 và con bà Lê Thị N – Sinh năm: 1969. Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Cẩm T2, sinh năm 2000; có 01 con sinh năm 2019.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B từ ngày 18/6/2024 cho đến nay- Có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Nguyễn Văn Hồng T3; Sinh ngày 01 tháng 9 năm 1994; Tại: Tỉnh Đắk Lắk;
Nơi cư trú: Thôn A, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk.
Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 08/12; Con ông Nguyễn Xuân D - sinh năm 1972 và con bà Cao Thị Hồng V – Sinh năm: 1975. Bị cáo có vợ là Cao Thị Mỹ T4, sinh năm 1997 (Đã ly hôn); có 01 con sinh năm 2017.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B từ ngày 18/6/2024 cho đến nay- Có mặt tại phiên tòa.
3. Họ và tên: Đào Vĩnh H; Sinh ngày 29 tháng 8 năm 2003; Tại: Tỉnh Đắk Lắk;
Nơi cư trú: Buôn M, phường E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật giáo; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 07/12; Con ông Đào Duy H1 (Đã chết) và con bà Lê Thị H2 – Sinh năm: 1983. Bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B từ ngày 18/6/2024 cho đến nay- Có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Lê Thị Minh P, sinh năm 1969.
- Bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1978.
- Bà Nguyễn Thị Cẩm T2, sinh năm 2000.
- Ông Phạm Hữu P1, sinh năm 2001.
- Bà Nguyễn Thị Q, sinh năm 1975.
Địa chỉ: Tổ dân phố F, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt).
Địa chỉ: Tổ dân phố I, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt).
Địa chỉ: Tổ dân phố I, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn C, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt).
Địa chỉ: Số C A, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt).
* Người chứng kiến:
- Ông Nguyễn Bá Chí C, sinh năm 1987.
- Ông Vũ Xuân H3, sinh năm 1998.
Địa chỉ: Số C P, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt).
Địa chỉ: Số A L, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Phúc T với Nguyễn Văn Hồng T3 có mối quan hệ bạn bè với nhau. Do không có nghề nghiệp ổn định, cần tiền tiêu xài cá nhân nên T và T3 thoả thuận với nhau về việc mua loại chất lỏng có chứa ma tuý, còn gọi là tinh dầu Chill, CBD về bán lại cho người khác kiếm lời. Cụ thể, T là người bỏ tiền ra mua chất lỏng có chứa ma tuý, chia chất lỏng ra thành nhiều lọ nhỏ hơn rồi đưa cho T3 một phần để cùng nhau bán kiếm lời, mỗi lọ 5ml chất lỏng có chứa ma tuý T và T3 bán với số tiền 150.000 đồng, người mua với số lượng nhiều thì được giảm giá, số tiền thu được qua việc bán ma tuý Thiệu được hưởng 20.000 đồng/lọ và tiền công giao ma tuý do người mua trả.
Ngày 05/6/2024, T sử dụng tài khoản Zalo tên “Lê Phúc T” đăng nhập trên điện thoại di động Iphone gắn sim thuê bao số 0843.202.302 liên lạc với một người sử dụng tài khoản Zalo tên “Hihihaha” (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) hỏi mua 200ml chất lỏng có chứa ma tuý thì người này đồng ý bán với số tiền 2.800.000 đồng. T cung cấp thông tin số điện thoại, địa chỉ nhận hàng tại chỗ ở của mình ở địa chỉ Tổ dân phố I, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Đến ngày 09/6/2024, T nhận được một gói hàng từ nhân viên giao hàng (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) và đưa số tiền 2.800.000 đồng cho người nhân viên thu hộ. Sau đó, T kiểm tra xem thì thấy bên trong gói hàng có 02 lọ nhựa chứa chất lỏng màu trắng và màu vàng có chứa ma tuý. Trường C1 trong 02 lọ nhựa này ra thành 42 lọ, mỗi lọ khoảng 5ml chất lỏng rồi cất giấu tại nơi ở với mục đích cùng với T3 bán lại cho người khác kiếm lời. Ngày 17/6/2024, tại khu vực đường H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, T đưa cho T3 32 lọ chất lỏng có chứa ma tuý còn T cất giấu 10 lọ chất lỏng có chứa ma tuý trong cốp xe Mô tô hiệu Honda SH Mode biển số 47B2 – 693.96 để khi có người hỏi mua thì cả hai đem bán. Trong ngày 17/6/2024, T và T3 cùng nhau bán trái phép chất ma tuý 02 lần cho Đào Vĩnh H và cho 02 lần cho người khác. H sau khi mua được chất lỏng có chứa ma tuý cua T và T3 thì bán trái phép chất ma tuý 02 lần cho người khác cụ thể như sau:
Lần 1:
Khoảng 16 giờ ngày 17/6/2024, khi T3 đang ở khu vực đường P, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk thì H sử dụng số điện thoại 0327.177.xxx gắn trên điện thoại di động Iphone gọi đến số 0344.446.xxx gắn trên điện thoại di động Iphone của T3 hỏi mua 02 lọ chất lỏng có chứa ma tuý thì T3 đồng ý bán với số tiền 300.000 đồng và hẹn địa điểm bán tại khu vực đường P, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Sau đó, tại khu vực đường V, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, H đã bán lại 02 lọ chất lỏng có chứa ma tuý vừa mua của T3 cho một người nam giới (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) sử dụng tài khoản Facebook tên “Phong Huu”, tài khoản Ngân hàng M1 số 19012001799999 với số tiền 500.000 đồng.
Lần 2:
Khoảng 19 giờ ngày 17/6/2024, T và T3 đang ngồi nhậu tại khu vực đường P, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk thì H tiếp tục liên lạc với T3 hỏi mua 10 lọ chất lỏng có chứa ma tuý, T3 nói lại với T thì T đồng ý bán với số tiền 1.000.000 đồng. Do T3 với T đang nhậu không giao ma tuý được nên T nói T3 liên lạc với H đến địa chỉ số A A, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk để bán ma tuý. Thời điểm này, chị Nguyễn Thị Cẩm T2 (là vợ của T) đang sử dụng xe Mô tô biển số 47B2 – 693.96 đi làm tại địa chỉ số A A, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Khi H điều khiển xe Mô tô biển số 47B3 – 142.26 đến nơi thì T liên lạc nói chị T2 mở cốp xe Mô tô biển số 47B2 – 693.96 lấy 01 túi zip bên trong chứa 10 lọ chất lỏng có chứa ma tuý được quấn kín bằng khẩu trang đưa cho H và lấy số tiền 1.000.000 đồng cho T, chị T2 không biết bên trong có chứa ma tuý. Mua được ma tuý xong, H bỏ vào trong cốp xe rồi điều khiển xe đến khu vực đường Y, phường E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Tại đây, H mở túi zip ra kiểm tra bên trong lớp khẩu trang quấn kín có 10 lọ nhựa chứa chất lỏng có chất ma tuý. H lấy ra 01 lọ sử dụng cho bản thân, 09 lọ chất lỏng có chứa ma tuý còn lại H cất giấu trong cốp xe để khi có người hỏi mua thì bán lại kiếm lời. Sau đó, một người (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) sử dụng tài khoản Facebook tên “An Nguyễn” liên lạc qua tài khoản Facebook của H tên “Chill Li” hỏi mua 04 lọ chất lỏng có chứa ma tuý thì H đồng ý bán với số tiền 800.000 đồng và hẹn địa điểm bán tại khu vực đường L, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Khi H điều khiển xe Mô tô biển số 47B3 – 142.26 đi đến điểm hẹn bán ma tuý nhưng chưa kịp bán thì bị lực lượng Công an phát hiện, xử lý.
Lần 3:
Khoảng 20 giờ 35 phút ngày 17/6/2024, T sử dụng tài khoản Zalo tên “Lê Phúc T” đăng nhập trên điện thoại Iphone gắn sim thuê bao số 0843.202.302 nhắn tin qua tài khoản Zalo tên “Nguyễn Văn Hồng T3” của T3 thông tin một người mua ma tuý sử dụng số điện thoại 0793.622.xxx (chưa xác định được nhân thân, lai lịch). Địa điểm bán ma tuý tại trước số E C, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk thì T3 điều khiển xe Mô tô biển số 47T1 – 476.81 đến địa điểm trên bán cho người này 01 lo chất lỏng có chứa ma tuý với số tiền 170.000 đồng.
Lần 4:
Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 17/6/2024, T tiếp tục nhắn tin qua Zalo cho T3 thông tin một người mua ma tuý sử dụng số điện thoại 0384.194.xxx (chưa xác định được nhân thân, lai lịch). Địa điểm bán ma tuý tại trước số C N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk thì T3 điều khiển xe Mô tô biển số 47T1 – 476.81 đến địa điểm trên bán cho người này 01 lo chất lỏng có chứa ma tuý với số tiền 190.000 đồng.
Ngày 18/6/2024, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của T3 tại số A N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk và chỗ ở của T tại Tổ dân phố I, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk phát hiện thu giữ vật chứng liên quan đến vụ án, để xử lý.
Tại bản Kết luận giám định số 5276/KL-KTHS, ngày 18/7/2024 của V1 Bộ C2 kết luận:
Tìm thấy chất MDMB-INACA, MDMB-BUTINACA và chất ma tuý MDMB-4en-PINACA trong mẫu chất lỏng chứa trong 07 lọ nhựa màu vàng gửi giám định; tổng thể tích mẫu: 28,0mL; nồng độ MDMB-4en-PINACA trung bình: 0,346mg/mL; tổng khối tượng MDMB-4en-PINACA trong mẫu là 0,009gam.
Tìm thấy chất ma tuý MDMB-4en-PINACA trong mẫu chất lỏng chứa trong 02 lọ nhựa màu trắng gửi giám định; tổng thể tích mẫu: 6,0mL; nồng độ MDMB-4en-PINACA trung bình: 0,672mg/mL; tổng khối lượng MDMB-4en-PINACA trong mẫu là 0,004gam.
Tìm thấy chất ma tuý MDMB-4en-PINACA trong mẫu chất lỏng chứa trong 28 lọ nhựa gửi giám định; tổng thể tích mẫu: 112,0mL; nồng độ MDMB-4en-PINACA trung bình: 0,575mg/mL; tổng khối lượng MDMB-4en-PINACA trong mẫu là 0,064gam.
Ở điều kiện bình thường, chất MDMB-4en-INACA, MDMB-BUTINACA và chất ma tuý MDMB-4en-PINACA đều tồn tại ở thể rắn.
Hiện nay, C09 chưa có mẫu chuẩn định lượng chất MDMB-4en-INACA và MDMB-BUTINACA, nên không giám định được hàm lượng và khối lượng chất MDMB-4en-INACA và MDMB-BUTINACA có trong các mẫu.
MDMB-4en-PINACA là chất ma tuý nằm trong Danh mục IIC, STT: 241, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
MDMB-BUTINACA là chất ma tuý nằm trong Danh mục IIC, STT: 342; MDMB-4en-INACA là chất ma tuý nằm trong Danh mục IIC, STT: 343, Nghị định 90/2024/NĐ-CP ngày 17/7/2022 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung danh mục chất ma tuý và tiền chất ban hành kèm theo Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất.
Cáo trạng số 372/CT-VKS ngày 07/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột truy tố các bị cáo Lê Phúc T, Nguyễn Văn Hồng T3, Đào Vĩnh H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà các bị cáo Lê Phúc T, Nguyễn Văn Hồng T3, Đào Vĩnh H thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến và đúng theo nội dung bản cáo trạng mà đại diện Viện kiểm sát đã công bố.
Quá trình tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột đã phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của các bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Lê Phúc T, Nguyễn Văn Hồng T3, Đào Vĩnh H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Lê Phúc T từ 07 (bảy) năm 06 (Sáu) tháng đến 08 (T5) năm tù; Bị cáo Nguyễn Văn H4 Thiệu từ 07 (bảy) năm 06 (Sáu) tháng đến 08 (T5) năm tù; Bị cáo Đào Vĩnh H từ 07 (bảy) năm 06 (Sáu) tháng đến 08 (T5) năm tù.
Các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Đối với mẫu vật còn lại sau giám định và các vỏ bao gói được hoàn lại trong niêm phong số 5276/KL-KTHS, trên mép dán có các chữ ký ghi tên Hà Minh H5, Hoàng Thế T6, Hoàng Ngọc M và đóng dấu tròn màu đỏ của V1 - Bộ C2; 20 lọ nhựa rỗng màu trắng không còn giá trị sử dụng của Lê Phúc T là tang vật của vụ án, cần tịch thu tiêu hủy.
Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone gắn sim số 0327.177.xxx, số Imei: 353357670406526, đã qua sử dụng của bị cáo Đào Vĩnh H; 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone gắn sim số 0843.202.xxx, số Imei: 353892100851826, đã qua sử dụng của bị cáo Lê Phúc T là phương tiện liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo.
Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 xe Mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe hai bánh từ 50 – 175cm³, số chỗ ngồi 2, số loại Wave@, màu sơn xanh bạc, số máy JA39E3141883, số khung RLHJA3929PY511595, dung tích xi lanh 109.1cm³, biển số 47T1 – 476.81; 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone gắn sim số 0344.446.xxx, số Imei: 355347082092541, đã qua sử dụng của bị cáo Nguyễn Văn Hồng T3 là phương tiện liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.
Đối với xe Mô tô kiểu dáng Honda SH, biển số 47B3 – 142.26 mà Cơ quan điều tra tạm giữ của bị cáo Đào Vĩnh H. Qua điều tra xác định chủ sở hữu chiếc xe trên là bà Lê Thị Minh P là người quen của bị cáo H. Ngày 17/6/2024, bị cáo H mượn chiếc xe trên của bà P làm phương tiện đi lại rồi sử dụng làm phương tiện phạm tội, việc bị cáo H sử dụng xe làm phương tiện phạm tội thì bà P không biết. Nên, Cơ quan điều tra đã trả lại xe Mô tô biển số 47B3 – 142.26 cho bà P là chủ sở hữu là phù hợp.
Đối với xe Mô tô dáng Honda SH Mode, biển số 47B2 – 693.96 mà Cơ quan điều tra tạm giữ của bị cáo Lê Phúc T. Qua điều tra xác định chủ sở hữu chiếc xe trên là bà Nguyễn Thị N1 là mẹ vợ của bị cáo T. Ngày 17/6/2024, bị cáo T mượn chiếc xe trên của bà N1 làm phương tiện đi lại rồi sử dụng làm phương tiện phạm tội, việc bị cáo T sử dụng xe làm phương tiện phạm tội thì bà N1 không biết. Nên, Cơ quan điều tra đã trả lại xe Mô tô biển số 47B2 – 693.96 cho bà N1 là chủ sở hữu là phù hợp.
Đối với chiếc điện thoại di động kiểu dáng Iphone, số Imei: 353902102880804 mà chị Nguyễn Thị Cẩm T2 tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra. Qua điều tra xác định là tài sản của chị T2, không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo, nên Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc điện thoại cho chị T2 là phù hợp.
Truy thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 1.000.000 đồng đối với bị cáo Lê Phúc T; 660.000 đồng đối với bị cáo Nguyễn Văn Hồng T3; 500.000 đồng của bị cáo Đào Vĩnh H là số tiền các bị cáo thu lợi bất chính từ hành vi phạm tội mà có đã tiêu xài cá nhân hết.
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận và không bào chữa cho mình, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ai khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét thấy lời khai của các bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định: Ngày 17/6/2024, tại địa bàn thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Lê Phúc T cùng với Nguyễn Văn Hồng T3 cùng nhau 04 lần bán trái phép chất lỏng chứa ma tuý loại MDMB-4en-INACA, MDMB-BUTINACA và MDMB-4en-PINACA cho bị cáo Đào Vĩnh H và những người khác thu lợi bất chính số tiền 1.660.000 đồng. Đào Vĩnh H sau khi mua được chất lỏng chứa ma tuý loại MDMB-4en-INACA, MDMB-BUTINACA và MDMB-4en-PINACA của bị cáo Lê Phúc T và Nguyễn Văn Hồng T3 thì bán lại 02 lần cho người khác thu lợi bất chính số tiền 500.000 đồng thì bị phát hiện xử lý.
[3] Xét hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến trật tự quản lý Nhà nước về việc cất giữ, vận chuyển, trao đổi chất ma tuý, nguyên nhân gây mất ổn định trị an xã hội, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống, sức khoẻ con người, gia tăng các tệ nạn xã hội. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đầy đủ năng lực nhận thức được chất ma tuý được Nhà nước thống nhất quản lý, mọi hành vi mua bán, sử dụng, tàng trữ trái phép đều bị pháp luật nghiêm cấm. Nhưng do ý thức coi thường pháp luật, các bị cáo đã mua bán trái phép chất ma tuý nhiều lần để kiếm lời. Vì vậy, các bị cáo hoàn toàn phải chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội của mình gây ra.
Hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
...
b) Phạm tội 02 lần trở lên ...”
[4] Phân hóa tính chất, mức độ hành vi phạm tội:
Bị cáo Lê Phúc T là người trực tiếp dùng tiền mua ma túy trên mạng, về phân chia ra các lọ nhỏ giao cho Nguyễn Văn H4 Thiệu để T3 đi giao hàng bán cho những người có nhu cầu. Thiệu được hưởng hoa hồng trên mỗi lần bán được hàng. Đối với Đào Vĩnh H là người sử dụng ma túy, mua ma túy về để bán lại cho những người khác nhằm kiếm lợi. Do đó khi định lượng hình phạt thì hình phạt của bị cáo T phải cao hơn hình phạt của bị cáo T7 và bị cáo H, hình phạt của bị cáo T7 và bị cáo H ngang bằng nhau, là phù hợp.
[5] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết giảm nhẹ: Xét thấy trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội. Do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự thể hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội.
Về tình tiết tăng nặng: Không.
Với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng mức hình phạt cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.
[5] Các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Đối với mẫu vật còn lại sau giám định và các vỏ bao gói được hoàn lại trong niêm phong số 5276/KL-KTHS, trên mép dán có các chữ ký ghi tên Hà Minh H5, Hoàng Thế T6, Hoàng Ngọc M và đóng dấu tròn màu đỏ của V1 - Bộ C2; 20 lọ nhựa rỗng màu trắng không còn giá trị sử dụng của Lê Phúc T là tang vật của vụ án, cần tịch thu tiêu hủy.
Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone gắn sim số 0327.177.xxx, số Imei: 353357670406526, đã qua sử dụng của bị cáo Đào Vĩnh H; 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone gắn sim số 0843.202.xxx, số Imei: 353892100851826, đã qua sử dụng của bị cáo Lê Phúc T là phương tiện liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo.
Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 xe Mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe hai bánh từ 50 – 175cm³, số chỗ ngồi 2, số loại Wave@, màu sơn xanh bạc, số máy JA39E3141883, số khung RLHJA3929PY511595, dung tích xi lanh 109.1cm³, biển số 47T1 – 476.81; 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone gắn sim số 0344.446.xxx, số Imei: 355347082092541, đã qua sử dụng của bị cáo Nguyễn Văn Hồng T3 là phương tiện liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.
Đối với xe Mô tô kiểu dáng Honda SH, biển số 47B3 – 142.26 mà Cơ quan điều tra tạm giữ của bị cáo Đào Vĩnh H. Qua điều tra xác định chủ sở hữu chiếc xe trên là bà Lê Thị Minh P là người quen của bị cáo H. Ngày 17/6/2024, bị cáo H mượn chiếc xe trên của bà P làm phương tiện đi lại rồi sử dụng làm phương tiện phạm tội, việc bị cáo H sử dụng xe làm phương tiện phạm tội thì bà P không biết. Nên, Cơ quan điều tra đã trả lại xe Mô tô biển số 47B3 – 142.26 cho bà P là chủ sở hữu là phù hợp.
Đối với xe Mô tô dáng Honda SH Mode, biển số 47B2 – 693.96 mà Cơ quan điều tra tạm giữ của bị cáo Lê Phúc T. Qua điều tra xác định chủ sở hữu chiếc xe trên là bà Nguyễn Thị N1 là mẹ vợ của bị cáo T. Ngày 17/6/2024, bị cáo T mượn chiếc xe trên của bà N1 làm phương tiện đi lại rồi sử dụng làm phương tiện phạm tội, việc bị cáo T sử dụng xe làm phương tiện phạm tội thì bà N1 không biết. Nên, Cơ quan điều tra đã trả lại xe Mô tô biển số 47B2 – 693.96 cho bà N1 là chủ sở hữu là phù hợp.
Đối với chiếc điện thoại di động kiểu dáng Iphone, số Imei: 353902102880804 mà chị Nguyễn Thị Cẩm T2 tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra. Qua điều tra xác định là tài sản của chị T2, không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo, nên Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc điện thoại cho chị T2 là phù hợp.
Truy thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 1.000.000 đồng đối với bị cáo Lê Phúc T; 660.000 đồng đối với bị cáo Nguyễn Văn Hồng T3; 500.000 đồng của bị cáo Đào Vĩnh H là số tiền các bị cáo thu lợi bất chính từ hành vi phạm tội mà có đã tiêu xài cá nhân hết.
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận và không bào chữa cho mình, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố:
Các bị cáo Lê Phúc T, Nguyễn Văn Hồng T3, Đào Vĩnh H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt:
Bị cáo Lê Phúc T 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 18/6/2024.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Hồng T3 07 (Bảy) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 18/6/2024.
Xử phạt: Bị cáo Đào Vĩnh H 07 (Bảy) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 18/6/2024.
Các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Tịch thu tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định và các vỏ bao gói được hoàn lại trong niêm phong số 5276/KL-KTHS, trên mép dán có các chữ ký ghi tên Hà Minh H5, Hoàng Thế T6, Hoàng Ngọc M và đóng dấu tròn màu đỏ của V1 - Bộ C2.
Tịch thu tiêu hủy 20 lọ nhựa rỗng màu trắng không có giá trị sử dụng của Lê Phúc T.
Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone gắn sim số 0327.177.xxx, số Imei: 353357670406526 của bị cáo Đào Vĩnh H; 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone gắn sim số 0843.202.xxx, số Imei: 353892100851826 của bị cáo Lê Phúc T.
Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 xe Mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe hai bánh 50 – 175cm³, số chỗ ngồi 2, số loại Wave@, màu xanh bạc, số khung RLHJA3929PY511595, số máy JA39E3141883, dung tích xi lanh 109.1cm³, biển số 47T1 – 476.81; 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone gắn sim số 0344.446.xxx, số Imei: 355347082092541 của bị cáo Nguyễn Văn Hồng T3.
(Vật chứng nêu trên có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 15/11/2024 giữa Công an thành phố B với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột).
Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe mô tô biển số 47B3 – 142.26 cho bà Lê Thị Minh P là chủ sở hữu nhận quản lý và sử dụng.
Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe mô tô Honda SH Mode, biển số 47B2 – 693.96 cho bà Nguyễn Thị N1 là chủ sở hữu nhận quản lý và sử dụng.
Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc điện thoại di động kiểu dáng Iphone, số Imei: 353902102880804 cho chị Nguyễn Thị Cẩm T2 là chủ sở hữu nhận quản lý và sử dụng.
Truy thu sung Ngân sách Nhà nước số tiền 1.000.000 đồng thu lợi bất chính của bị cáo Lê Phúc T; số tiền 660.000 đồng thu lợi bất chính của bị cáo Nguyễn Văn Hồng T3; số tiền 500.000 đồng thu lợi bất chính của bị cáo Đào Vĩnh H.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Mỗi bị cáo Lê Phúc T, Nguyễn Văn Hồng T3, Đào Vĩnh H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Mỹ Hạnh |
Bản án số 380/2024/HS-ST ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 380/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Phúc T + đồng bọn bị truy tó về tội Mua bán trái phép chất ma túy
