|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
|
Bản án số: 380/2024/HNGĐ-ST Ngày: 24-9-2024 V/v: “Tranh chấp ly hôn, con chung". |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Văn Chánh – Cán bộ hưu trí.
2. Bà Thiều Thị Phi Loan – Cán bộ hưu trí.
Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Tiến – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Đông - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa - tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 1302/2024/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 309/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 410/2024/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Y U, sinh năm 1976.
Địa chỉ: 3, khu phố B, phường T, TP ., tỉnh Đồng Nai.
- Bị đơn: Ông Trần Thanh H, sinh năm 1971.
Địa chỉ: 1, tổ B, khu phố B, phường T, TP ., Đồng Nai.
(Bà U có đơn xin vắng mặt, ông H vắng mặt không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn bà Trần Thị Y U trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông H tìm hiểu, chung sống trên cơ sở tự nguyện và đã được Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B cấp giấy chứng nhận kết hôn số 132/1998 ngày 08/8/1998. Sau một thời gian chung sống thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do quan điểm sống bất đồng, thường xuyên cãi vã. Nay bà xác định không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được nên xin được ly hôn với ông H.
Về con chung: Có 03 con chung tên Trần Mai T, sinh năm 1998, Trần Thế T1, sinh năm 1999 và Trần Minh N, sinh ngày 07/7/2007. Ly hôn, đối với cháu T và cháu T1 đã trên 18 tuổi, có khả năng lao động nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bà đề nghị được trực tiếp chăm sóc, giáo dục cháu N, không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn ông Trần Thanh H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt, không có bản tự khai nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông H.
* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:
Về thủ tục tố tụng: Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, kể từ khi thụ lý vụ án là phù hợp, đúng với quy định của pháp luật. Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án:
- - Về quan hệ hôn nhân: Xét cuộc sống vợ chồng của bà U, ông H không hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, bà U yêu cầu ly hôn với ông H là có căn cứ.
- - Về con chung: Đối với cháu Trần Mai T và Trần Thế T1 đã trên 18 tuổi, có khả năng lao động nên không đặt ra xem xét, giải quyết. Giao cháu Trần Minh N cho bà U trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Tạm thời ông H không phải cấp dưỡng nuôi con do bà U không yêu cầu.
- - Về tài sản chung, nợ chung: Do chưa có lời khai của ông H nên tách ra giải quyết bằng một vụ kiện dân sự khác nếu sau này các bên có yêu cầu.
- - Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà U phải nộp án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về quan hệ pháp luật, tư cách đương sự: Bà Trần Thị Y U yêu cầu được ly hôn với ông Trần Thanh H, yêu cầu được nuôi con chung. Căn cứ vào Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật tranh chấp của vụ án là “Tranh chấp ly hôn, con chung”; bà Trần Thị Y U là nguyên đơn, ông Trần Thanh H là bị đơn.
- Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà U nộp đơn yêu cầu giải quyết ly hôn với ông H hiện đang cư trú tại phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
- Về thủ tục tố tụng: Bà U có đơn xin xét xử vắng mặt, ông H đã được tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt nên tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà U, ông H theo quy định tại các Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Y U và ông Trần Thanh H kết hôn trên cơ sở tự nguyện và đã được Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B cấp giấy chứng nhận kết hôn số 132/1998 ngày 08/8/1998 nên được xác định là hôn nhân hợp pháp.
Từ khi hai vợ chồng bà kết hôn đã phát sinh nhiều mâu thuẫn trong cuộc sống. Bên cạnh đó quan điểm sống của hai vợ chồng bất đồng, vì vậy thường xuyên cãi vã, không tôn trọng lẫn nhau. Nay bà U xác định không còn tình cảm nên xin được ly hôn với ông H.
Tòa án đã nhiều lần tống đạt các văn bản tố tụng và triệu tập ông H đến Tòa làm việc nhưng ông H vẫn vắng mặt không rõ lý do, không có ý kiến phản hồi thể hiện việc ông H không tích cực trong việc hòa giải, hàn gắn quan hệ vợ chồng, không thiết tha cuộc sống hôn nhân với bà U. Qua kết quả xác minh tại Công an phường T, thành phố B thể hiện nội dung: Ông Trần Thanh H hiện vẫn đang sinh sống tại địa phương. Kết quả xác minh tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B thể hiện địa phương không nắm rõ mâu thuẫn của bà U và ông H.
Từ đó cho thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng bà U và ông H là có thật, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà U, giải quyết cho bà U được ly hôn với ông H để trả tự do cả hai là phù hợp.
- Về con chung: Có 03 con chung tên Trần Mai T, sinh năm 1998, Trần Thế T1, sinh năm 1999 và Trần Minh N, sinh ngày 07/7/2007. Đối với cháu T và T1 đã trên 18 tuổi, có khả năng lao động, không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét, giải quyết. Bà U đề nghị được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu N, không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con. Tại bản tự khai cháu N cũng có nguyện vọng muốn được ở với mẹ. Quá trình giải quyết vụ án ông H không có ý kiến về vấn đề con chung. Do đó, xét thấy cần giao cháu N cho bà U chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với nguyện vọng của con chung và cũng để đảm bảo sự ổn định cuộc sống của con chung. Tạm thời ông H không phải cấp dưỡng nuôi con do bà U không yêu cầu.
- Về tài sản chung, nợ chung: Do chưa có lời khai của ông H nên tách ra giải quyết bằng một vụ kiện dân sự khác nếu sau này các đương sự có yêu cầu.
- Về án phí: Bà U phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 273 Bộ Luật tố tụng dân sự;
Áp dụng các Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Y U. Bà Trần Thị Y U được ly hôn với ông Trần Thanh H.
- Về con chung: Đối với cháu Trần Mai T, sinh năm 1998 và Trần Thế T1, sinh năm 1999 đã trên 18 tuổi, có khả năng lao động nên không đặt ra xem xét, giải quyết. Giao cháu Trần Minh N, sinh ngày 07/7/2007 cho bà U trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Tạm thời ông H không phải cấp dưỡng nuôi con.
Ông H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con khi cần thiết các bên được quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Tách ra giải quyết bằng một vụ kiện dân sự khác nếu sau này các đương sự có yêu cầu.
- Về án phí: Bà Trần Thị Y U phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) bà U đã nộp theo biên lai thu tiền số 0003837 ngày 17/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa. Bà U đã nộp xong án phí.
Bà U, ông H được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo qui định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Thúy |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
|
Trần Văn Chánh |
Thiều Thị Phi L |
Trần Thị Thúy |
Bản án số 380/2024/HNGĐ-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp ly hôn, con chung
- Số bản án: 380/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Uyên - Huy
