Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 380/2024/HS-PT

Ngày: 15/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Hạnh

Các thẩm phán: Ông Nguyễn Công Sự

Bà Thái Thị Thanh Bình

- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Minh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Tống Thị Thu Hiền – Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai tiến hành xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 140/2024/TLPT-HS ngày 03 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Thị M và đồng phạm, do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị M và Lê Thị Huyền T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 34/2024/HS-ST ngày 01/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai.

Bị cáo kháng cáo:

  1. Nguyễn Thị M, sinh năm 1974 tại Bà Rịa Vũng Tàu; Giới tính: Nữ; Nơi cư trú: Ấp B, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai; Trình độ học vấn: 01/12; Nghề nghiệp: Công nhân; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Phạm Văn H (đã chết) và bà Nguyễn Thị S (đã chết); Bị cáo là con duy nhất trong gia đình; Bị cáo có chồng tên Lê Văn P, sinh năm 1970 và có 03 con, lớn nhất sinh năm 1992 và nhỏ nhất sinh năm 2003. Tiền án, tiền sự: Không;
  2. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/4/2022 đến ngày 20/4/2022 được huỷ bỏ biện pháp tạm giữ và bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai. (Bị cáo có mặt).

  3. Lê Thị Huyền T, sinh năm 1988 tại Đồng Nai; Giới tính: Nữ; Nơi cư trú: Ấp B, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai; Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: Nội trợ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Lê Văn C, sinh năm 1955 và bà Phạm Thị Q, sinh năm 1955; Gia đình bị cáo có 02 chị em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình. Bị cáo có chồng tên Nguyễn Chí V, sinh năm 1987 và có 03 con, lớn nhất sinh năm 2011 và nhỏ nhất sinh năm 2018. Tiền án, tiền sự: Không;
  4. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/4/2022 đến ngày 20/4/2022 được huỷ bỏ biện pháp tạm giữ và bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai. (Bị cáo có mặt).

- Luật sư bào chữa theo yêu cầu của bị cáo T: Luật sư Lê Huy H1, sinh năm 1982, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đ.

Ngoài ra, trong vụ án còn có những bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nhưng do không có kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có việc làm ổn định, nên bắt đầu từ tháng 03 năm 2022, Nguyễn Thị M, sinh năm 1974, nơi đăng ký thường trú: Ấp Bà T1, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai đứng ra làm chủ lô đề và sử dụng nhà mình làm địa điểm tổ chức đánh bạc bằng hình thức mua bán lô đề, dựa vào kết quả xổ số kiến thiết miền B và miền N. Để có người chơi nên Nguyễn Thị M thoả thuận với Mai Xuân T2, sinh năm 1980, đăng ký thường trú: Ấp V, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai là chiết khấu 4% tiền hoa hồng trên tổng số tiền có trong các phơi đề mà T2 giao lại cho M. Sau khi có kết quả xố số, M nhờ Lê Thị Huyền T dò kết quả xố số và tính tiền thắng thua để chung cho các con bạc, M trả công cho T từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng.

Cách thức thắng thua: Nếu người mua đề chọn đầu đuôi 02 số (hai số của giải tám và hai số đuôi của giải đặc biệt) hoặc ghi bao lô 02 số (bao tất cả các lô của kết quả xổ số) trùng với kết quả xổ số thì thắng được số tiền gấp 70 lần. Tương tự, nếu người mua chọn một cặp 02 số (số đá) trùng với kết quả xổ số thì thắng được số tiền gấp 500 lần. Nếu người mua chọn xỉu chủ trùng với kết quả xổ số thì thắng được số tiền gấp 600 lần; các số không trùng với kết quả xổ số thì chủ đề thắng toàn bộ số tiền của người mua đề đã mua.

Vào các ngày 08/4/2022 và 09/4/2022, Mai Xuân T2 nhận ghi đề thắng thua trực tiếp với Dương Thị N, cụ thể:

Ngày 08/4/2022, N ghi đài Vĩnh Long, Bình Dương, Trà Vinh bao lô các số 73, 41 với số tiền 5.000 đồng/số. Ghi đài Vĩnh Long, Bình Dương các số: xỉu chủ 973 với số tiền 12.000 đồng/số; số đá 11-13, 31-67, 62-63, 42-83, 91-71, 09-54 với số tiền 2.000 đồng/số; đầu đuổi 41 với số tiền 12.000 đồng/số. Ghi đài miền B các số: số đá 42-62-31, 54-79, 41-13, 43-83, 63-68, 92-71, 64-24-38 với số tiền 2.000 đồng/số. Tổng số tiền trên phơi đài miền N là 1.548.000 đồng, đài miền B là 864.000 đồng. Đối chiếu với kết quả xổ số, N trúng 375.000 đồng đài miền N, miền B trúng 3.900.000 đồng. Tổng số tiền N dùng vào việc đánh bạc đài miền N là 1.923.000 đồng, đài miền B là 4.764.000 đồng. Bị cáo T2 và N đã thanh toán tiền cho nhau.

Ngày 09/4/2022, N ghi đài TP Hồ Chí Minh, Long An, Bình Phước bao lô 52 với số tiền 10.000 đồng/số. Ghi đài TP Hồ Chí Minh, Long An các số: Số đá 10-42, 39-41, 63-92, 62-76, 69-68 với số tiền 2.000 đồng/số. Ghi đài miền B các số: số đá 39-08, 10-42, 63-76, 82-92, 75-73, 41-30, 25-87 với số tiền 2.000 đồng/số; bao lô 52 với số tiền 20.000 đồng/số. Đối chiếu với kết quả xổ số, N không trúng. Tổng số tiền N dùng vào việc đánh bạc đài miền N là 1.260.000 đồng, đài miền B là 1.296.000 đồng. Bị cáo T2 và N đã thanh toán tiền cho nhau.

Đến ngày 10/4/2022, Mai Xuân T2 trực tiếp ghi đề thắng thua trực tiếp với Nguyễn Thị M, cụ thể:

T2 ghi hai đài Tiền Giang và Kiên Giang các số: đầu 32 với số tiền 1.000.000 đồng/số; đuôi 32 với số tiền 200.000 đồng/số; bao lô 16, 61, 69, 96 với số tiền 25.000 đồng/số; bao lô 32, 09, 90 với số tiền 50.000 đồng/số; số đá 32-90, 69-96 với số tiền 10.000 đồng/số; số đá 32-09 với số tiền 20.000 đồng/số. Tổng số tiền trên phơi là 14.280.000 đồng. Đối chiếu với kết quả xổ số, T2 trúng 5.625.000 đồng. Tổng số tiền T2 dùng vào việc đánh bạc đài miền N là 19.905.000 đồng.

T2 ghi đài miền B các số: số đá 19-59-99 với số tiền 25.000 đồng/số; số đá 76-79-61 với số tiền 10.000 đồng/số; số đá 34-10 với số tiền 30.000 đồng/số; số đá 16-49 với số tiền 25.000 đồng/số; bao lô 34, 43, 01, 10, 44, 99 với số tiền 50.000 đồng/số; bao lô 32, 23, 69, 96, 21, 12, 42 với số tiền 40.000 đồng/số; bao lộ 46, 45, 40 với số tiền 20.000 đồng/số; bao lô 04, 40, 37, 73, 03, 30, 34, 43 với số tiền 30.000 đồng/số; bao lô 76, 67, 79, 97, 71, 17 với số tiền 35.000 đồng/số; đầu đuôi 79 với số tiền 150.000 đồng/số; đầu đuôi 71, 76 với số tiền 60.000 đồng/số; đầu đuôi 34, 43, 44, 99 với số tiền 120.000 đồng/số. Tổng số tiền trên phơi là 36.735.000 đồng. Đối chiếu với kết quả xổ số, T2 trúng 16.875.000 đồng. Tổng số tiền T2 dùng vào việc đánh bạc đài miền B là 53.610.000 đồng. Các bị cáo chưa thanh toán tiền cho nhau.

Sau khi nhận phơi đề của T2 và có kết quả sổ xố, M nhờ Lê Thị Huyền T tính tiền thắng thua để chung cho T2.

Cùng ngày, T2 còn nhận ghi đề thắng thua với Phan Lệ T3, Dương Thị N, nhưng không chuyển cho bị cáo M, mà bị cáo giữ lại trực tiếp thắng thua với các con bạc cụ thể:

- Phơi đề của T3 (T3 ghi cho nhiều người mua đề chưa rõ nhân thân) gồm các số: Ghi đài Tiền Giang đầu đuôi 01 với số tiền 60.000 đồng/số, bao lô 01 với số tiền 30.000 đồng/số. Ghi hai đài Tiền Giang, Kiên Giang các số: bao lộ 86, 68 với số tiền 30.000 đồng số; số đá 86-68, 35-75 với số tiền 10.000 đồng/số; số đá 86-68, 19-91, 11-51, 11-91, 51-19 với số tiền 5.000 đồng/số; số đá 86-68-59, 59-84 với số tiền 2.000 đồng/số; đầu đuôi 59, 99, 20 với số tiền 180.000 đồng/số; đầu đuôi 94, 59 với số tiền 60.000 đồng/số; bao lô 19, 91, 11, 51 với số tiền 10.000 đồng/số; bao lô 43, 34, 59, 48 với số tiền 5.000 đồng/số. Ghi đài miền B các số bao lô 68, 08, 80, 25, 65, 59, 70 với số tiền 5.000 đồng/số; số đá 05-85-87 với số tiền 5.000 đồng/số; sổ đá 45-56-68, 07-59-70 với số tiền 2.000 đồng/số; bao lô 00 với số tiền 10.000 đồng/số; đuôi 00, 11, 22, 33, 66, 77 với số tiền 10.000 đồng/số; bao lô 54, 79 với số tiền 10.000 đồng/số; số đá 35-75, 94-70 với số tiền 10.000 đồng/số; đầu đuôi 59 với số tiền 72.000 đồng/số; bao lô 16 với số tiền 50.000 đồng/số. Tổng số tiền trên phơi đài miền N là 9.900.000 đồng, đài miền B là 4.942.000 đồng. Đối chiếu với kết quả xổ số, T3 trúng 3.000.000 đồng đài miền N, miền B không trúng. Tổng số tiền T3 dùng vào việc đánh bạc đài miền N là 12.900.000 đồng, đài miền B là 4.942.000 đồng. Các bị cáo chưa giao nhận tiền với nhau.

Nhàn trực tiếp ghi đề các số: Ghi hai đài Tiền Giang và Đ đầu đuôi 24, 42, 11, 51, 18 với số tiền 12.000 đồng/số. Ghi hai đài Tiền Giang và Kiên Giang: số đá 18-51 với số tiền 5.000 đồng/số; số đá 24-18, 65-42, 24-42 với số tiền 2.000 đồng/số; số đá 92-71, 62-83 với số tiền 1.000 đồng/số. Ghi ba đài Tiền Giang, Kiên Giang và Đ bao lô 56, 28 với số tiền 5.000 đồng/số. Ghi đài miền B các số: đầu đuôi 52, 24, 11, 51, 18 với số tiền 12.000 đồng/số; số đá 18-24, 28- 42, 63-07, 92-71, 72-32, 09-94, 62-82 với số tiền 2.000 đồng/số. Tổng số tiền trên phơi đài miền N là 1.572.000 đồng, đài miền B là 876.000 đồng. Đối chiếu với kết quả xổ số, N trúng 1.500.000 đồng đài miền N, miền B không trúng. Tổng số tiền N dùng vào việc đánh bạc đài miền N là 3.072.000 đồng, đài miền B là 876.000 đồng.

Đến ngày 11/4/2022, các bị cáo Nguyễn Thị M, Lê Thị Huyền T, Mai Xuân T2, Phan Lệ T3 đến cơ quan công an đầu thú.

* Vật chứng thu giữ gồm: 01 điện thoại di động Samsung, gắn sim 0938.459.655 của Phan Lệ T3 sử dụng vào việc ghi đề; 01 điện thoại di động Oppo, gắn sim 0783.364.864 của Nguyễn Thị M sử dụng vào việc ghi đề; 01 điện thoại di động Iphone, gắn sim 0797.359.xxx của Mai Xuân T2 sử dụng vào việc ghi đề; 01 điện thoại di động Realme của Lê Thị Huyền T.

Số tiền 57.200.000 đồng thu lợi bất chính các bị cáo tự nguyện giao nộp. (gồm M 10.000.000 đồng; T3 10.000.000 đồng; T2 37.200.000 đồng).

Số tiền 206.100.000 đồng, do không liên quan đến hành vi phạm tội nên đã trả lại cho Mai Xuân T2.

- Tại cáo trạng số 202/CT-VKSLT ngày 03 tháng 8 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch truy tố các bị cáo Nguyễn Thị M, Mai Xuân T2 và Lê Thị Huyền T về tội “Đánh bạc” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 321 của Bộ luật hình sự. Truy tố bị cáo Phan Lệ T3 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

- Tại bản án hình sự sơ thẩm số 34/2024/HS-ST ngày 01/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai quyết định:

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị M, Lê Thị Huyền T phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị M: 03 (Ba) năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 11/4/2022 đến ngày 20/4/2022.

Xử phạt bị cáo Lê Thị Huyền T: 03 (Ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án, nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 11/4/2022 đến ngày 20/4/2022.

Ngoài ra án sơ thẩm còn quyết định về hình phạt đối với các bị cáo khác, nghĩa vụ thi hành án, xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp, án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo.

Ngày 06/02/2024, bị cáo Nguyễn Thị M có đơn kháng cáo xin cho hưởng án treo và kèm theo đơn kháng cáo có Đơn xin xác nhận hoàn cảnh gia đình khó khăn.

Ngày 09/02/2024, bị cáo Lê Thị Huyền T có đơn kháng cáo xin cho hưởng án treo và kèm theo đơn kháng cáo có Đơn xin xác nhận hoàn cảnh gia đình khó khăn.

- Ý kiến của Luật sư bào chữa cho bị cáo T: Hành vi đánh bạc của bị cáo T chỉ phạm tội với vai trò đồng phạm giúp sức không đáng kể, không được phân chia lợi nhuận, không giúp cho bị cáo Mai thầu đề. Cấp sơ thẩm sắp xếp vị trí người phạm tội chưa phù hợp với quy định của pháp luật dẫn đến áp dụng sai lầm pháp luật. Theo quy định tại khoản 3 Điều 28 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi giúp sức đánh bạc trái pháp luật. Do đó, hành vi của bị cáo T chỉ xử phạt vi phạm hành chính, việc truy tố bị cáo T về tội “Đánh bạc” là không đúng pháp luật.

Nếu bị cáo T có tội thì truy tố bị cáo T theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Bị cáo T phạm tội lần đầu với vai trò đồng phạm giúp sức không đáng kể, hoàn cảnh gia đình khó khăn, có con còn nhỏ. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được hưởng án treo là phù hợp.

- Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai:

Về thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị M, Lê Thị Huyền T phù hợp về nội dung, hình thức và trong thời hạn luật định nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

Về nội dung: Các bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, hưởng án treo và tại phiên tòa các bị cáo có cung cấp Đơn xác nhận hoàn cảnh gia đình khó khăn. Tuy nhiên, Bản án sơ thẩm xử phạt các bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị M, Lê Thị Huyền T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị M và Lê Thị Huyền T làm trong hạn luật định, đúng quy định pháp luật nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về tội danh và hình phạt: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Thị M và Lê Thị Huyền T thừa nhận hành vi phạm tội như mô tả tại bản án sơ thẩm, thể hiện:

Từ tháng 03 năm 2022, Nguyễn Thị M đứng ra làm chủ lô đề và sử dụng nhà mình làm địa điểm tổ chức đánh bạc bằng hình thức mua bán lô đề, dựa vào kết quả xổ số kiến thiết miền B và miền N. Để có người chơi nên Nguyễn Thị M thoả thuận với Mai Xuân T2 là chiết khấu 4% tiền hoa hồng trên tổng số tiền có trong các phơi đề mà T2 giao lại cho M. Sau khi có kết quả xố số, M nhờ Lê Thị Huyền T dò kết quả xố số và tính tiền thắng thua để chung cho các con bạc, M trả công cho T từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng. Cụ thể:

Ngày 08/4/2022, T2 đánh bạc với Dương Thị N với số tiền dùng vào việc đánh bạc đài miền N 1.923.000 đồng và đài miền B 4.764.000 đồng.

Ngày 09/4/2022, T2 đánh bạc với Dương Thị N số tiền dùng vào việc đánh bạc đài miền N 1.260.000 đồng và đài miền B 1.296.000 đồng.

Ngày 10/4/2022, T2 đánh bạc với Nguyễn Thị M với số tiền dùng vào việc đánh bạc đài miền N 19.905.000 đồng và đài miền Bắc 53.610.000 đồng; đánh bạc với Phan Lệ T3 với số tiền dùng vào việc đánh bạc đài miền N 12.900.000 đồng và đài miền Bắc 4.942.000 đồng; đánh bạc với Dương Thị N với số tiền dùng vào việc đánh bạc đài miền N 3.072.000 đồng và đài miền B 876.000 đồng.

Do đó, hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “Đánh bạc” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo Nguyễn Thị M 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù; Lê Thị Huyền T 03 (ba) năm tù là có cơ sở, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.

[3] Về nội dung kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Thị M kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, cho hưởng án treo và có cung cấp Đơn xin xác nhận hoàn cảnh khó khăn. Tuy nhiên, Bản án sơ thẩm xử phạt các bị cáo M với mức án như trên là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Vì vậy hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo M.

Bị cáo T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, cho hưởng án treo và có cung cấp Đơn xin xác nhận hoàn cảnh khó khăn. Xét thấy, bị cáo tham gia với vai trò đồng phạm giúp sức, bị cáo có 03 con còn nhỏ và tại cấp phúc thẩm bị cáo có cung cấp Đơn xác nhận hoàn cảnh gia đình khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo T.

[5] Về án phí: Bị cáo M phải chịu án phí hình sự phúc thẩm do kháng cáo không được chấp nhận. Bị cáo T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm do kháng cáo được chấp nhận.

[6] Đối với các quyết định khác trong Bản án hình sự sơ thẩm số 34/2024/HS-ST ngày 01/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[7] Ý kiến của Luật sư bào chữa cho bị cáo T không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.

[8] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa phù hợp một phần với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận phần phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự.
  2. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị M.

    Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Thị Huyền T.

    Sửa một phần bản án hình sự sơ thẩm số 34/2024/HS-ST ngày 01/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai.

  3. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự.
  4. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị M 03 (Ba) năm 06 tháng tù, về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 11/4/2022 đến ngày 20/4/2022.

    Xử phạt bị cáo Lê Thị Huyền T 02 (hai) năm tù, về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án, nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 11/4/2022 đến ngày 20/4/2022.

  5. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
  6. Bị cáo Nguyễn Thị M phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

    Bị cáo Lê Thị Huyền T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

  7. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm 34/2024/HS-ST ngày 01/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  8. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Đồng Nai; VKS sơ thẩm;
  • - TAND cấp sơ thẩm;
  • - Công an cấp quận/huyện;
  • - Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền;
  • - Phòng PV27-Công an tỉnh Đồng Nai;
  • - Nhà tạm giữ/Trại tạm giam;
  • - Bị cáo, đương sự trong vụ án;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Mỹ Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 380/2024/HS-PT ngày 15/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự - đánh bạc

  • Số bản án: 380/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 15/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị M + đp phạm tội "Đánh bạc"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger