Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ DĨ AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 380/2023/HS-ST

Ngày 06 - 12 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

· Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Nam.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Hoàn.
  2. Bà Hoàng Lệ Chi.

Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hương Giang, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Lê Thanh Tùng – Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 12 năm 2023, tại điểm cầu trung tâm phòng xử án A trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương và điểm cầu thành phần phòng hỏi cung Nhà tạm giữ công an thành phố D, tỉnh Bình Dương mở phiên tòa trực tuyến xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 405/2023/TLST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 518/2023/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 11 năm 2023, đối với bị cáo:

Đỗ Đình Đ, sinh năm 1985 tại tỉnh Nam Định; thường trú: Số G đường B, khu phố G, phường H, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: Căn hộ F Chung cư C, khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương.; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 10/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Đỗ Hải K (đã chết) và bà Phạm Thị M, sinh năm 1951; có 03 anh, chị em (lớn nhất sinh năm 1977, nhỏ nhất là bị cáo); bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 04/10/2022, bị Công an thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” xử phạt số tiền 2.500.000 đồng theo quyết định số 16942 ngày 04/10/2022, nộp phạt ngày 10/10/2022; nhân thân: Ngày 31/3/2008, bị Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 6 tháng tù giam về tội “Cướp giật tài sản” theo bản án số 49/2008/HSST, chấp hành xong hình phạt ngày 27/4/2009, nộp án phí xong ngày 18/9/2008; Ngày 11/4/2017, bị Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xử phạt 27 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo bản án số 108/2017/HSST, chấp hành xong hình phạt ngày 01/12/2018, nộp án phí xong ngày 02/8/2017; Ngày 16/8/2016, bị công an phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0037069, đóng phạt ngày 16/10/2023; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/5/2023 cho đến nay. Có mặt.

· Người chứng kiến: Ông Nguyễn Hữu S, sinh năm 1989. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đỗ Đình Đ là đối tượng sử dụng ma túy (Heroin). Khoảng 12 giờ 10 phút ngày 24/5/2023, Đội Cảnh sát kinh tế - ma túy Công an thành phố D phối hợp với Công an phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương tuần tra trên địa bàn. Khi đến khu vực trước nhà số I khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương, phát hiện Đỗ Đình Đ đang đi bộ có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra phát hiện trong ví da của Đ cất trong túi quần phía sau bên phải có 01 (một) gói nylon hàn kín, bên trong chứa chất màu trắng và 01 (một) túi nylon miệng kéo dính chứa chất màu trắng. Đề khai nhận 02 túi nylon chứa chất màu trắng là ma túy loại Heroine nên lực lượng Công an phường D lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Qua làm việc, Đ khai nhận: Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 24 tháng 5 năm 2023, Đ đi bộ ra gần ngã tư E thuộc phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương để kiếm người bán ma tuý mua về sử dụng thì gặp lại T (không rõ nhân thân, lai lịch) là bạn bè quen biết ngoài xã hội. Đ nói với T là Đ đang đi kiếm người bán ma tuý để mua ma tuý về sử dụng, T có bán ma tuý nên Đ mua 500.000 đồng ma tuý loại Heroine. T đưa cho Đ 02 (hai) túi nylon miệng kéo dính chứa chất màu trắng nói là ma tuý loại Heroine. Lúc này, Đ cầm 02 (hai) gói ma tuý đi tìm chỗ vắng người ở gần khu vực ngã tư E để sử dụng, Đ lấy một gói ma tuý ra sử dụng một phần, số ma tuý còn lại, Đ dùng bật lửa hàn kín lại rồi bỏ cả hai gói ma tuý vào trong bóp da màu nâu, cất vào túi quần bên phải đang mặc. Sau khi sử dụng ma tuý xong, Đ tiếp tục đi công việc, khi đi đến trước số nhà I đường N, khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện. Quá trình điều tra Đỗ Đình Đ1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Vật chứng thu giữ:

  • 01 (một) gói nylon miệng kéo dính chứa chất màu trắng; 01 (một) gói nylon miệng hành kín chứa chất màu trắng; 01 (một) bóp da.

Tại bản Kết luận giám định số 281/MT-PC09 ngày 31 tháng 5 năm 2023 của Phòng K1, Công an tỉnh B kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có khối lượng: 0,4786gam (M1), 0,2986gam (M2).

Quá trình điều tra bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về Kết luận giám định số: 281/MT-PC09 ngày 31 tháng 5 năm 2023 của Phòng K1 Công an tỉnh B.

Ngày 02/6/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố D ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự; Quyết định khởi tố bị can và tạm giam đối với Đỗ Đình Đ để điều tra về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Cáo trạng số: 407/CT-VKS-DA ngày 08 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Đỗ Đình Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định tại Điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo Đỗ Đình Đề t 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.

Về xử lý vật chứng:

  • Đối với số ma túy loại Heroine còn lại sau giám định có khối lượng: M1= 0,3513 gam; M2 = 0,2604 gam cần tịch thu tiêu hủy.
  • Đối với người tên T (chưa rõ nhân thân, lai lịch) bán ma túy cho Đ, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đang tiếp tục điều tra, xác minh xử lý sau.

Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về điều luật áp dụng, khung hình phạt, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xử lý vật chứng đồng thời bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Căn cứ vào lời khai của bị cáo, người chứng kiến; biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, xác định: Khoảng 12 giờ 10 phút ngày 24/5/2023, tại trước số nhà I đường N, khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương, Đỗ Đình Đ đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với tổng khối lượng 0,7772 gam, loại Heroine.

[3] Như vậy, hành vi trên đây của bị cáo Đỗ Đình Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do đó, Cáo trạng số: 407/CT-VKS-DA ngày 08 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố bị cáo Đỗ Đình Đ, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định Điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; bị cáo hoàn toàn đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.

[4] Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, đã xâm phạm vào sự quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy, gây tác hại cho xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Để có ma túy sử dụng mà bị cáo đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.

[5] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có

[6] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[7] Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu, có tiền sự và là người nghiện ma tuý.

[8] Về hình phạt:

- Hình phạt chính: Xét bị cáo phạm tội nghiêm trọng, đã xâm phạm vào sự quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma tuý, gây tác hại cho xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương, ma túy là tiền đề của các tội trộm cắp, cướp giật, giết người và nhiều tội phạm khác đồng thời bị cáo là người nghiện ma túy. Vì vậy Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.

- Hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Tuy nhiên, áp dụng phạt tù cũng đủ để răn đe, giáo dục bị cáo nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[9] Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ số ma túy còn lại sau giám định là M1= 0,3513 gam; M2 = 0,2604 gam ma túy loại Heroine, được niêm phong trong một bì thư của Phòng K1 Công an tỉnh B.

[10] Đối với người đàn ông tên T (chưa rõ nhân thân, lai lịch) bán ma túy cho Đ, hiện chưa rõ nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đang tiếp tục điều tra, xác minh xử lý sau.

[11] Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy ngày 12/8/2016 bị công an phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 750.000 đồng theo quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0037069 ngày 16/8/2016. Sau khi ban hành quyết định xử phạt hành chính đến ngày 16/10/2023, công an phường H mới tống đạt quyết định xử phạt vi phạm hành chính cho Đ (thông qua mẹ ruột của Đ là bà Phạm Thị M), ngày 16/10/2023 bị cáo đã nộp tiền xử phạt. Do đó Hội đồng xét xử không xác định hành vi vi phạm hành chính ngày 12/8/2016 là tiền sự đối với bị cáo.

[12] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo và xử lý vật chứng là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[13] Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Đ2 a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Đỗ Đình Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51, Điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Đỗ Đình Đ 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/5/2023.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy 01 bì thư được niêm phong ghi số 281/PC09 chứa M1=0,3513 gam; M2 = 0,2604 gam ma túy loại Heroin còn lại sau giám định.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/11/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố D với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Dĩ An).

3. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo Đỗ Đình Đ phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo (01);
  • - VKSND thành phố Dĩ An (01);
  • - VKSND tỉnh Bình Dương (01);
  • - Công an thành phố Dĩ An (01);
  • - Trại tạm giam CA tỉnh BD (01);
  • - Chi cục THADS thành phố Dĩ An (01);
  • - TAND tỉnh Bình Dương (01);
  • - Sở tư pháp tỉnh Bình Dương (01);
  • - Phòng PV06 CA tỉnh Bình Dương (01);
  • - UBND nơi cư trú của bị cáo (01);
  • - Lưu: VT, HSVA (02).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Viết Nam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 380/2023/HS-ST ngày 06/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 380/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger