Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN HÀ ĐÔNG

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 380/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 30/5/2025

Về việc: Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Hiền

Ông Phùng Văn Tầu

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Đức – Thư ký Toà án nhân dân quận Hà Đông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông tham gia phiên toà:

Ông Nguyễn Ngọc Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 30/5/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 71/2025/TLST-HNGD ngày 13/02/2025 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2025/QĐXX-ST ngày 05/5/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 18/2025/QĐHPT-ST ngày 23/5/2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Bùi Tuyết N, sinh ngày 02/1/1980. Nơi thường trú: G Q, tổ H, phường P, quận H, Thành phố Hà Nội. Nơi tạm trú: B603 CT2, trung tâm hành chính mới, phường H, quận H, Thành phố Hà Nội. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

2. Bị đơn: Anh Vũ Xuân T, sinh ngày 30/10/1980. Nơi thường trú: G Q, tổ H, phường P, quận H, Thành phố Hà Nội. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

  1. [1]. Tại Đơn xin ly hôn, các Bản tự khai, Biên bản phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, nguyên đơn là chị Bùi Tuyết N trình bày:

    Chị N và anh Vũ Xuân T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu và đăng ký kết hôn ngày 06/01/2005 tại Ủy ban nhân dân phường T, quận H, Thành phố Hà Nội. Trước khi kết hôn anh chị chưa kết hôn lần nào. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống tại địa chỉ: G Q, tổ H, phường P, quận H, Thành phố Hà Nội. Quá trình chung sống hạnh phúc đến năm 2007 chị phát hiện anh T có sử dụng chất ma tuý, đến năm 2011 anh T đã bị Toà án nhân dân quận Hà Đông xét xử về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Theo chị trình bày, do chị và anh T có tính cách, quan điểm, lối sống khác nhau nên cuộc sống vợ chồng thường nảy sinh những bất đồng, căng thẳng dẫn tới mâu thuẫn không thể giải quyết được. Bản thân anh T không có công việc ổn định để nuôi sống bản thân cũng như lo cho gia đình, thậm chí anh T còn thường xuyên uống rượu, chửi bới đánh vợ, con làm ảnh hưởng đến tâm lý, sinh hoạt của chị và các con. Chị đã nhiều lần trình báo với chính quyền địa phương như công an phường, tổ dân phố. Chính quyền địa phương đã nhắc nhở, hoà giải nhưng anh T không thay đổi nên chị đã phải đưa hai con đến ở tại chỗ mới từ năm 2021 đến nay. Sau khi chuyển đến nơi ở mới thì anh T vẫn tìm đến để gây sự, chửi bới ba mẹ con chị khiến cuộc sống của ba mẹ con áp lực và không ổn định.

    Nay chị N xác định mâu thuẫn giữa anh chị đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, hai vợ chồng sống ly thân từ năm 2021, không còn liên lạc, quan tâm, chăm sóc nhau. Sau thời gian suy nghĩ kỹ, chị gửi đơn đến Tòa án quận Hà Đông yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Vũ Xuân T để chị sớm ổn định cuộc sống và tư tưởng.

    Về con chung: Chị xác nhận chị và anh T có 02 con chung là Vũ Đăng C sinh ngày 22/10/2005, giới tính nam và Vũ Khánh An sinh ngày 29/11/2015, giới tính nữ. Hai con chung hiện nay đều khoẻ mạnh phát triển bình thường. Cháu Vũ Đăng C đã đủ 18 tuổi nên chị N không yêu cầu Toà án giải quyết. Chị đề nghị Toà án giao con chung là cháu Vũ Khánh A cho chị N là người trực tiếp nuôi dưỡng và không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung.

    Về tài sản chung: Chị xác nhận anh chị không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

    Về vay nợ chung: Chị xác nhận chị và anh T không vay nợ của ai và cũng không cho ai vay nên không yêu cầu Toà giải quyết.

  2. [2]. Bị đơn là anh Vũ Xuân T:

    Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã triệu tập, thông báo nhiều lần nhưng anh T đều vắng mặt không có lý do, anh T không đến Tòa án làm việc, không tham dự các buổi hoà giải, không gửi văn bản nêu quan điểm, ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên toà sơ thẩm:

Chị Bùi Tuyết N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và giữ nguyên quan điểm, ý kiến đã gửi cho Toà án. Anh Vũ Xuân T vắng mặt không có lý do, không gửi văn bản, ý kiến trình bày quan điểm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

  • Về tố tụng: Quá trình Tòa án thụ lý và giải quyết vụ án, Thẩm phán và thư ký đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tiến hành tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

  • Về nội dung:

    Trên cơ sở các tài liệu trong hồ sơ cũng như lời trình bày của đương sự nhận thấy: Quá trình chung sống hạnh phúc đến năm 2007 chị N phát hiện anh T có sử dụng chất ma tuý. Năm 2011 anh T đã bị Toà án nhân dân quận Hà Đông xét xử về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng do tính cách, quan điểm, lối sống hai bên khác nhau, nên cuộc sống vợ chồng thường nảy sinh những bất đồng, căng thẳng mà không thể giải quyết được. Ngoài ra anh T còn thường xuyên đánh chị N. Chị N và anh T đã ly thân từ năm 2021 đến nay. Nay chị N xác nhận tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên đề nghị Tòa án cho chị N được ly hôn với anh T. Xét thấy mâu thuẫn của chị N và anh T đã trầm trọng, không có khả năng hàn gắn, cuộc sống chung không thể tiếp tục, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Bùi Tuyết N.

  • - Về con chung: Anh chị có 02 con chung là cháu Vũ Đăng C sinh ngày 22/10/2005, giới tính nam và cháu Vũ Khánh An S ngày 29/11/2015, giới tính nữ. Hai cháu khoẻ mạnh phát triển bình thường. Từ khi ly thân 02 con chung ở với chị N. Sau ky hôn, chị N có nguyện vọng được chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Vũ Khánh A, đối với cháu Vũ Đăng C hiện nay đã trên 18 tuổi không yêu cầu giải quyết.

    Xét thấy: Để đảm quyền lợi cho cháu Vũ Khánh A thì việc giao cháu A chị N chăm sóc, nuôi dưỡng sau ly hôn là phù hợp.

Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147 BLTTDS năm 2015; Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị HĐXX:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Bùi Tuyết N đối với anh Vũ Xuân T.

  • - Về con chung: Giao cháu Vũ Khánh An S ngày 29/11/2015 cho chị Bùi Tuyết N chăm sóc nuôi dưỡng sau ly hôn.

  • - Về cấp dưỡng nuôi con: Không xem xét giải quyết.

  • - Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.

  • - Về án phí: Chị Bùi Tuyết N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về tố tụng:

    1. 1.1. Về thẩm quyền giải quyết vụ án:

      Chị Bùi Tuyết N khởi kiện xin ly hôn đối với bị đơn là anh Vũ Xuân T, có hộ khẩu thường trú và nơi cư trú cuối cùng tại: G Q, tổ H, phường P, quận H, Thành phố Hà Nội. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội.

    2. 1.2. Về việc xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn:

      Qua xác minh nơi cư trú của anh Vũ Xuân T, có cơ sở xác định anh T có nơi cư trú cuối cùng tại: G Q, tổ H, phường P, quận H, thành phố Hà Nội. Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã triệu tập, thông báo nhiều lần nhưng anh T vắng mặt không có lý do. Tòa án đã tống đạt trực tiếp và niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Vũ Xuân T tại địa chỉ nơi cư trú để anh T biết được yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Tuyết N và thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng của bị đơn nhưng anh T đều vắng mặt, không trình bày ý kiến đối với yêu cầu của chị N, không cung cấp tài liệu chứng cứ, không chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, không có yêu cầu phản tố và không tham gia phiên họp, phiên hòa giải, phiên tòa. Như vậy, anh T đã không thực hiện các quyền và nghĩa vụ khi tham gia tố tụng, vắng mặt không có lý do trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án nên Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ mà chị Bùi Tuyết N giao nộp và Tòa án thu thập theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự để giải quyết vụ án. Tại phiên tòa, anh T vắng mặt lần thứ hai nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh T.

      Chị Bùi Tuyết N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và giữ nguyên quan điểm, ý kiến đã gửi cho Toà án.

  2. Về nội dung: Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Bùi Tuyết N đối với anh Vũ Xuân T:

    1. 2.1. Về quan hệ hôn nhân:

      Chị Bùi Tuyết N và anh Vũ Xuân T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu và đăng ký kết hôn ngày 06/01/2005 tại Ủy ban nhân dân phường T, quận H, Thành phố Hà Nội. Trước khi kết hôn anh chị chưa kết hôn lần nào. Tuân thủ các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, xác định là hôn nhân hợp pháp.

      Sau khi kết hôn, năm 2007 chị N phát hiện anh T có sử dụng chất ma tuý. Trong cuộc sống sinh hoạt anh T có thường xuyên uống rượu, chửi bới đánh vợ con gây áp lực cho cuộc sống gia đình và ảnh hưởng đến tâm lý, sinh hoạt của chị và các con. Tổ dân phố, chính quyền địa phương đã nhắc nhở, hoà giải nhưng anh T không thay đổi. Năm 2021 chị và hai con phải chuyển ra ở nơi khác, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2021 đến nay, không còn liên lạc, quan tâm, chăm sóc nhau. Tuy nhiên anh T vẫn đến chỗ ở mới để gây sự, chửi bới ba mẹ con khiến cuộc sống của ba mẹ con áp lực và không ổn định. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng do tính cách, quan điểm, lối sống hai bên khác nhau, nên cuộc sống vợ chồng thường nảy sinh những bất đồng, căng thẳng mà không thể giải quyết được. Anh T đã không thực hiện các nghĩa vụ của vợ chồng được quy định tại Điều 19, 21 của Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 là: thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, chia sẻ, thực hiện các công việc của gia đình. Lời khai của chị N cũng phù hợp với Biên bản xác minh ngày 24/4/2025 tại địa phương nên có cơ sở chấp nhận. Nay chị N xác định tình cảm vợ chồng không còn và có nguyện vọng muốn ly hôn để ổn định cuộc sống.

      Xét quan hệ hôn nhân giữa chị N với anh T đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Yêu cầu ly hôn của chị N là chính đáng do đó Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị N với anh T.

    2. 2.2. Về con chung:

      Chị N, anh T có 02 con chung là Vũ Đăng C sinh ngày 22/10/2005, giới tính nam và Vũ Khánh An sinh ngày 29/11/2015, giới tính nữ. Hiện nay hai con chung đều khoẻ mạnh phát triển bình thường. Cháu Vũ Đăng C đã đủ 18 tuổi nên chị N không yêu cầu Toà án giải quyết.

      Chị N đề nghị Toà án giao con chung là cháu Vũ Khánh A cho chị là người trực tiếp nuôi dưỡng và không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thấy: trong cuộc sống sinh hoạt thường ngày, anh T có việc đánh, chửi bới vợ con, không quan tâm, chăm sóc các con. Anh T có nhân thân xấu, đã từng bị Tòa án nhân dân quận Hà Đông xét xử về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý (theo bản án hình sự sơ thẩm số 298/2011/HSST ngày 28/9/2011). Quá trình Tòa án giải quyết vụ án đã thông báo, triệu tập hợp lệ nhưng anh T không gửi cho Toà án quan điểm, ý kiến về việc nuôi con. Chị N nộp cho Toà án hợp đồng lao động có nghề nghiệp là kế toán, hiện đã có chỗ ở ổn định, thời gian làm việc theo giờ hành chính nên có đủ điều kiện về thời gian, vật chất để nuôi con. Cháu Vũ Khánh A cũng có ý kiến nguyện vọng muốn được ở cùng với mẹ. Do đó, để con chung không bị ảnh hưởng bởi bạo lực gia đình, phát triển bình thường về tâm sinh lý và để đảm bảo quyền lợi cho con, cần chấp nhận đề nghị của chị N, giao chị N là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Vũ Khánh A kể từ khi anh chị ly hôn cho đến khi cháu Vũ Khánh A đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác về quyền nuôi con. Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung theo quy định của pháp luật mà không ai được cản trở.

      Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của chị N không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung là cháu Vũ Khánh A.

    3. 2.3. Về tài sản chung, vay vợ chung:

      Chị N xác nhận chị và anh T không có tài sản chung, không vay nợ ai và cũng không cho ai vay nợ chung, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Toà án không xem xét.

  3. 3. Về án phí:

    Chị N là nguyên đơn, phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • - Các Điều: 19, 51, 56, 57, 58, 81,82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

  • - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 235, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Bùi Tuyết N đối với anh Vũ Xuân T. Chị Bùi Tuyết N được ly hôn anh Vũ Xuân T.

  2. Về con chung: Chị Bùi Tuyết N và anh Vũ Xuân T có 02 con chung là cháu Vũ Đăng C sinh ngày 22/10/2005 giới tính nam và cháu Vũ Khánh An S ngày 29/11/2015 giới tính nữ. Hai con chung đều khoẻ mạnh phát triển bình thường. Cháu Vũ Đăng C đã trên 18 tuổi.

    Giao chị Bùi Tuyết N là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Vũ Khánh A kể từ khi anh chị ly hôn cho đến khi cháu Vũ Khánh A đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác về quyền nuôi con. Anh Vũ Xuân T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung theo quy định của pháp luật mà không ai được cản trở.

    Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của chị Bùi Tuyết N không yêu cầu anh Vũ Xuân T phải cấp dưỡng nuôi con chung là cháu Vũ Khánh A.

  3. Về tài sản chung: Chị Bùi Tuyết N xác nhận chị và anh Vũ Xuân T không có tài sản chung, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Toà án không xem xét.

    Về vay nợ chung: Chị Bùi Tuyết N xác nhận chị và anh Vũ Xuân T không vay nợ ai và cũng không cho ai vay nợ chung, chị không yêu cầu Toà án giải quyết nên Tòa án không xem xét.

  4. Về án phí: Chị Bùi Tuyết N phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0044806 ngày 13/2/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hà Đông, Hà Nội.

  5. Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai, vắng mặt chị Bùi Tuyết N và anh Vũ Xuân T. Chị Bùi Tuyết N và anh Vũ Xuân T có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Nguyễn Mạnh T1

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - TAND TP.Hà Nội;
  • - VKSND TP.Hà Nội;
  • - VKSND quận Hà Đông;
  • - Chi cục THADS quận Hà Đông;
  • - UBND phường Trương Định, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Mạnh Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 380/2025/HNGĐ-ST ngày 30/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về ly hôn

  • Số bản án: 380/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: BA.380.Nhung - Thể.30.5.25
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger