| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 380/2024/DS-PT | |
| Ngày: 29-08-2024 | |
| V/v: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quyến
Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Minh Trang, Bà Nguyễn Thị Tuyết Loan
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Trang - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân Thành phố Cần Thơ
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: ông Lâm Thành Them - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 08 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm vụ án thụ lý số: 80/2024/TLPT-DS ngày 04 tháng 04 năm 2024 về việc "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản".
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 31/2024/DSST ngày 05 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 197/2024/QĐPT-DS ngày 08 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Châu Thủy N, sinh năm 1982; Địa chỉ: 1 đường T, phường H, quận N, thành phố Cần Thơ.
- - Người đại diện hợp pháp: ông Đoàn Thanh S, sinh năm 1975(VBUQ ngày 28/12/2022); Địa chỉ: số A T, phường H, quận N, thành phố Cần Thơ. Có mặt
- - Bị đơn: 1/ Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1984; 2/Bà Nguyễn Thị Mỹ N1, sinh năm 1988; Cùng địa chỉ: 3 đường N, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ. Có mặt
- - Người đại diện hợp pháp: Ông Lê Văn C1 (VBUQ ngày 25/02/2023); Địa chỉ: A Đ, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ. Có mặt
- - Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Nguyễn Thế S1 – Đoàn luật sư thành phố C. Có mặt
- - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Cảnh H, sinh năm 1983; Địa chỉ: H L, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ. Vắng mặt
* Người kháng cáo: Bị đơn Nguyễn Văn C, Nguyễn Thị Mỹ N1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết nguyên đơn và đại diện ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Do chỗ quan hệ quan biết, phía vợ chồng ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị Mỹ N1 có đến tìm phía nguyên đơn (Châu T) để vay mượn tiền làm ăn, tổng cộng vay 03 lần.
- Lần 1: Vào ngày 14/03/2022, phía nguyên đơn đã tiến hành ký kết Hợp đồng vay tài sản và đã được Văn phòng công chứng Nguyễn Thị Bích L chứng nhận. Ông C, bà N1 vay của phía nguyên đơn số tiền là 15.000.000.000 đồng (Mười lăm tỷ đồng) với lãi suất thỏa thuận theo quy định của pháp luật, thời hạn trả nợ là 06 (sáu) thảng.
- Lần 2: Ngày 06/05/2022, ông C, bà N1 lại tiếp tục vay của phía nguyên đơn thêm số tiền là 2.000.000.000 đồng (Hai tỷ đồng) với lãi suất thỏa thuận theo quy định của pháp luật, thời hạn trả nợ là 07 (bảy) ngày. Phía nguyên đơn cũng đã tiến hành ký kết Hợp đồng vay tài sản và đã được Văn phòng công chứng Nguyễn Thị Bích L chứng nhận.
- Lần 3: Ngày 27/10/2022, ông C, bà N1 tiếp tục vay của phía nguyên đơn thêm số tiền là 60.000.000 đồng (Sáu mươi triệu đồng) và cam kết thời hạn trả nợ là trong vòng 15 (mười lăm) ngày. Lần vay này, phía nguyên đơn không tiến hành ký kết Hợp đồng vay mà phía vợ chồng ông C, bà N1 tự viết biên nhận nợ bằng tay giao cho phía nguyên đơn.
Tổng số tiền gốc mà ông C, bà N1 vay của phía nguyên đơn là 17.060.000.000 đ.
Khi đến hạn thanh toán tiền gốc và lãi của các khoản vay, phía ông C, bà N1 tuy không thực hiện trả nợ đúng hạn nhưng đã liên tục gặp phía nguyên đơn thỏa thuận, lập các Cam kết trả nợ và thế chấp thêm tài sản cho phía nguyên đơn để làm tin, do cũng chỗ quen biết nên phía nguyên đơn chấp nhận cho thêm thời gian để ông C, bà N1 xoay sở tiền để trả cho phía nguyên đơn. Ông C, bà N1 đã lập 03 giấy Cam kết trả nợ và thế chấp tài sản và được lập vào các ngày 13/06/2022, ngày 01/09/2022 và ngày 01/11/2022.
Nay nguyên đơn yêu cầu ông C và bà N1 trả cho nguyên đơn tổng số vốn là 17.060.000.000₫ và lãi suất chậm trả theo mức 10%/năm, thời gian tính lãi từ khi vay đến ngày 02/02/2024. Tổng số tiền nợ gốc và lãi là 20.243.825.960đ, trong đó nợ gốc là 17.060.000.000đ và nợ lãi 3.183.825.960₫
Đối với trình bày của bị đơn cho rằng các giao dịch vay mượn tiền giữa nguyên đơn và bị đơn các năm 2020, 2021, 2022 theo trình bày của bị đơn thì nguyên đơn xác định là có các giao dịch vay mượn với bị đơn qua nhiều năm, việc thực hiện cho vay và trả tiền được thực hiện nhiều lần qua việc chuyển khoản và qua việc đưa tiền mặt vì là chỗ bạn bè thân nên hoàn toàn tin tưởng lẫn nhau. Thời gian đầu để tạo lòng tin khi mượn tiền bị đơn có viết Biên Nhận Tiền và thanh toán đúng hạn, sau dần có sự tin tưởng tuyệt đối lẫn nhau bị đơn không viết giấy biên nhận nữa mà cùng thống nhất với nguyên đơn ra phòng công chứng lập Hợp Đồng Vay Tài Sản. Bị đơn nói rằng bị đơn sống rất có trách nhiệm vay thì sẽ trả không ngại gì việc công chứng Hợp Đồng Vay Tài Sản cũng như thế chấp tài sản cho nguyên đơn.
* Bị đơn ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị Mỹ N1 và đại diện ủy quyền của bị đơn ông Lê Văn C1 trình bày ý kiến:
Theo đơn khởi kiện bà N yêu cầu, bị đơn phải trả cho bà N số tiền nợ gốc và lãi tạm tính là 18.302.300.306 đồng, trong đó nợ gốc là 17.060.000.000 đồng, nợ lãi tạm tính là 1.242.300.306 đồng.
Căn cứ vào bảng thống kê do nguyên đơn – bà C2 Thuỷ Ngân cung cấp, trong các năm 2020, 2021, 2022, bảng sao kê ngân hàng V và ngân hàng N2, các biên nhận nhận tiền, các tin nhắn qua zalo, kể cả không có biên nhận nhận tiền.
Bị đơn thống kê số liệu như sau:
- Năm 2020, ông C, bà N1 8 lần mượn tiền tổng cộng 1.370.000.000 đồng, đã trả được số tiền lãi là: 42.600.000 đồng, chưa trả tiền gốc.
- Năm 2021, tổng cộng 51 lần ông C, bà N1 nhận 5.672.352.000 đồng, đã trả tổng số tiền gốc và lãi cho bà N tổng cộng là 3.948.928.000 đồng (không xác định được tiền gốc và tiền lãi đã trả cụ thể).
- Năm 2022, ông C, bà N1 nhận của bà N 5 lần, tổng số tiền là 440.000.000 đồng, đã trả cho bà N 3.929.950.000 đồng (không xác định được tiền gốc và tiền lãi đã trả cụ thể trong tổng số tiền đã mượn từ năm 2020 đến năm 2022).
Tổng số tiền gốc bị đơn đã mượn của nguyên đơn từ năm 2020 đến năm 2022 là 7.482.352.000 đồng. Tổng số tiền gốc và lãi đã trả là 7.921.478.000 đồng (không xác định được tiền gốc và tiền lãi đã trả cụ thể trong tổng số tiền đã mượn từ năm 2020 đến năm 2022). Đề nghị cấn trừ số tiền bị đơn đã trả cho nguyên đơn vào số tiền gốc bị đơn đã mượn, số tiền gốc còn lại bị đơn sẽ trả tiền lãi tính theo lãi suất 10%/năm cho nguyên đơn. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bị đơn xác định như sau:
Hợp đồng vay tài sản ngày 14/03/2022 số tiền mượn 15.000.000.000 đồng, đây là hợp đồng nguyên tắc do nguyên đơn yêu cầu bị đơn ký. Bị đơn thừa nhận có kỷ hợp đồng nhưng thực tế bị đơn không có nhận số tiền này và nguyên đơn cũng không có giao số tiền này cho bị đơn, nguyên đơn không có bất kỳ giấy tờ chứng minh đã giao số tiền này cho bị đơn theo hợp đồng.
Đối với hợp đồng vay tài sản ngày 06/05/2022 số tiền mượn 2.000.000.000 đồng, đây là hợp đồng nguyên tắc do nguyên đơn yêu cầu bị đơn ký. Bị đơn thừa nhận có ký hợp đồng nhưng thực tế bị đơn không có nhận số tiền này và nguyên đơn cũng không có giao số tiền này cho bị đơn, nguyên đơn không có bất kỳ giấy tờ chứng minh đã giao số tiền này cho bị đơn theo hợp đồng.
Đối với biên nhận nợ ngày 27/10/2022 số tiền mượn là 60.000.000 đồng, bị đơn thừa nhận có ký tên và thực tế có nhận số tiền này.
Đối với các hợp đồng bị đơn đã uỷ quyền cho nguyên đơn, các tài sản trong hợp đồng uỷ quyền bị đơn đã vay tiền và thế chấp cho ngân hàng N2. Do bị đơn làm ăn khó khăn nên không có khả năng trả nợ cho ngân hàng, phía bị đơn cũng có yêu cầu nguyên đơn đến ngân hàng trả số tiền bị đơn còn nợ để lấy các tài sản thế chấp cho nguyên đơn cấn trừ nợ nhưng nguyên đơn không thực hiện. Bị đơn đã tự nguyện ký bàn giao các tài sản thế chấp cho ngân hàng bán để trừ nợ.
Từ những trình bày nêu trên, bị đơn không chấp nhận với toàn bộ các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Lê Cảnh H tại bản tự khai ngày 26/01/2024 trình bày:
Nội dung giao dịch qua lại của ông và bà Châu Thủy N đều do ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị Mỹ N1 chỉ định. Lý do vì ông không quen biết bà N.
Ông chỉ cho ông C và bà N1 mượn tiền và giao dịch theo chỉ định của ông C, bà N1.
Về giao dịch ngày 06/5 và 16/5/2022 ông đều làm việc theo chỉ định của ông C, bà N1 vì lúc đó ông C, bà N1 mượn tiền của ông. Đối với tin nhắn qua lại trong zalo của ông ông với bà N là khi nào nhận đủ tiền thì ông sẽ xác nhận.
Những vấn đề nội dung khác giữa hai bên bà Châu Thủy N và ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị Mỹ N1 thì ông không biết.
Do điều kiện công việc nên ông có đơn xin được xét xử vắng mặt.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 31/2024/DS-ST ngày 05/02/2024 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều đã quyết định:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà C2 Thủy Ngân đối với bị đơn ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị Mỹ N1. Buộc ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị Mỹ N1 có nghĩa vụ trả cho bà C2 Thủy Ngân số tiền nợ gốc và lãi là 20.243.825.960 đồng.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Ngoài ra, Bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 06/02/2024 bị đơn kháng cáo một phần bản án sơ thẩm, đề nghị cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn trả 17.000.000.000₫ gốc và tiền lãi.
Tại phiên toà phúc thẩm:
- Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị đơn.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn cho rằng việc nguyên đơn cho bị đơn vay có dấu hiệu cho vay lãi nặng, cấp sơ thẩm xét xử có dấu hiệu hợp thức hóa cho vay lãi nặng. Đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị đơn.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến như sau:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, thư ký và các đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn nộp đơn kháng cáo và tiền tạm ứng án phí phúc thẩm trong thời gian luật định nên xem xét hợp lệ về mặt hình thức.
Về nội dung kháng cáo của bị đơn: thấy rằng bị đơn thừa nhận ký vào hợp đồng cho vay tiền, cam kết trả nợ, cấp sơ thẩm đã xem xét, đánh giá các chứng cứ đương sự cung cấp và chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn không cung cấp được tài liệu, chứng cứ gì mới, đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: bị đơn kháng cáo trong thời hạn luật định nên được xem xét và giải quyết theo thủ tục phúc thẩm. Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật “tranh chấp hợp đồng vay tài sản” và giải quyết là đúng quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa hôm nay, ông Lê Cảnh H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Do vậy, căn cứ vào Khoản 3 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án.
[2] Về nội dung vụ án và kháng cáo của các đương sự, nhận thấy:
[2.1] Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả nợ với các chứng cứ cụ thể như sau:
- “Hợp đồng vay tài sản không có biện pháp bảo đảm” vào ngày 14/3/2022, số công chứng 1607, quyền số 01/2022/TP/CC-SCC/HĐGD tại VPCC N, nội dung bà Châu Thủy N cho ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị Mỹ N1 vay số tiền vay 15 tỷ đồng, thời hạn vay là 06 tháng, mục đích vay là thanh toán nghĩa vụ tài chính với ngân hàng; địa điểm, phương thức giao tài sản: do hai bên tự thỏa thuận.
- “Hợp đồng vay tài sản không có biện pháp bảo đảm” vào ngày 06/5/2022, số công chứng 3280 quyển số 02/2022/TP/CC-SCC/HĐGD tại VPCC N với số tiền vay là 02 tỷ đồng, thời hạn vay là 07 ngày; mục đích vay là: Để trả tiền cho ông Lê Cảnh H; phương thức thanh toán: do hai bên thỏa thuận.
- “Cam kết trả nợ”, Ngày 13/6/2022, nội dung ông C và bà N1 nợ bà N lãi + gốc đến ngày 13/6/2022 là 19 tỷ đồng đến 30/6/2022 sẽ trả 7.000.000.000₫.
- Biên nhận ngày 27/10/2022 với số tiền vay là 60.000.000 đồng.
- Ngày 01/9/2022, bà N1 và ông C làm “Thỏa thuận thế chấp tài sản và cam kết trả nợ”, nội dung căn cứ vào hợp đồng công chứng tại Văn phòng C3 và thỏa thuận trả nợ gốc + lãi giữa ông C, bà N1 và bà Châu Thủy N, thế chấp 03 căn nhà + 317,5m² đất để đảm bảo trả nợ đúng hạn. Đến 30/10/2022, ông C sẽ thanh toán toàn bộ tiền lãi +gốc cho bà N (việc xác nhận tổng tiền lãi+ gốc do bà N và ông C ngồi lại cùng xác nhận...
[2.2] Xét thấy, bị đơn là người có đủ năng lực hành vi dân sự, bị đơn ký vào hợp đồng vay tiền, ký các cam kết trả nợ nhưng cho rằng không nhận tiền, ký là do áp lực... nhưng không đưa ra được căn cứ gì chứng minh, trong khi nguyên đơn không thừa nhận. Cấp sơ thẩm xác định bị đơn có vay của nguyên đơn 17.060.000.000₫ không trả đúng hạn nên buộc bị đơn trả cho nguyên đơn nợ gốc và lãi suất 10%/năm tính từ khi vay đến ngày 02/02/2024 là có căn cứ, phù hợp với quy Điều 357, Điều 466 Bộ luật dân sự.
[2.3] Về số tiền 2.000.000.000đ, bị đơn khai mượn của ông H cho bà C2 Thủy Ngân vay, ông H chuyển cho bà Châu Thủy N vay ngày 16/5/2022, bị đơn không cung cấp được chứng cứ gì chứng minh, nguyên đơn không thừa nhận và cho rằng đây là giao dịch khác; còn ông H thì không rõ ý kiến, quá trình giải quyết tại cấp sơ thẩm, bị đơn không yêu cầu xem xét giải quyết nên cấp sơ thẩm không đặt ra xem xét, giải quyết là phù hợp.
[3] Quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ về việc không chấp nhận kháng cáo của bị đơn là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[4] Về án phí: Bị đơn kháng cáo nhưng không được chấp nhận nên phải chịu án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 463, 466, Bộ luật dân sự;
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị Mỹ N1;
Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 31/2024/DS-ST ngày 05 háng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Châu Thủy N.
Buộc bị đơn ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị Mỹ N1 có nghĩa vụ trả cho bà C2 Thủy Ngân số tiền nợ gốc và lãi là 20.243.825.960₫ (hai mươi tỉ hai trăm bốn mươi ba triệu tám trăm hai mươi lăm ngàn chín trăm sáu mươi đồng), trong đó nợ gốc là 17.060.000.000đ và tiền lãi 3.183.825.960đ.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa thi hành số tiền nêu trên, thì còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Mức lãi suất chậm trả được tính theo quy định tại Điều 357 và Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Về án phí:
Án phí dân sự sơ thẩm:
Bị đơn ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị Mỹ N1 phải chịu 128.243.825 đồng (một trăm hai mươi tám triệu hai trăm bốn mươi ba ngàn tám trăm hai mươi lăm đồng).
Nguyên đơn bà Châu Thủy N được nhận lại 63.151.200 đồng (sáu mươi ba triệu một trăm năm mươi mốt ngàn hai trăm đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0000572 ngày 16/01/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
Về án phí dân sự phúc thẩm:
Bị đơn phải chịu 300.000đ, được khấu trừ vào 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0000922 ngày 06/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều; bị đơn đã nộp đủ án phí phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, 7 và Điều 9; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
| CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | |
| Nguyễn Quyến |
Bản án số 380/2024/DS-PT ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 380/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 29/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Y an sơ thẩm
