TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 380/2024/HS-ST Ngày: 09-8-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Trần Cảnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Trung Tính;
- Bà Phan Thanh Minh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Minh Hải - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Đạt - Kiểm sát viên.
Trong ngày 09 tháng 8 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm là Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và điểm cầu thành phần là Trại tạm giam T30 - Công an Thành phố H, tiến hành xét xử sơ thẩm trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 442/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 3814/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 11257/2024/HSST-QĐ ngày 01 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Thị P, sinh năm 1972 tại tỉnh Đồng Tháp; nơi đăng ký thường trú: Khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: nguyên giúp việc nhà; trình độ học vấn: 05/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B (đã chết) và bà Nguyễn Thị B1 (đã chết); bị cáo có 02 con (lớn nhất sinh năm 1995, nhỏ nhất sinh năm 2000); tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 07/02/2023 chuyển tạm giam từ ngày 16/02/2023, bị cáo trích xuất có mặt tại điểm cầu thành phần.
Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Nguyễn Đình T, Luật sư thuộc Công ty L2, Đoàn Luật sư Thành phố H (có mặt tại phiên tòa).
Địa chỉ: Số E N, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị hại: Bà Phan Thị C, sinh năm 1955 (vắng mặt)
Địa chỉ: Số L Chung cư L, số F M, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Tấn K, sinh năm 1964 (vắng mặt)
- Ông Nguyễn Thanh V, sinh năm 1995 (vắng mặt)
- Bà Trương Thị Quỳnh D, sinh năm 1997 (vắng mặt)
- Ông Trần Đức L, Chủ Doanh nghiệp Tư nhân mua bán vàng Công Bình (vắng mặt)
Địa chỉ thường trú: Khóm S, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.
Địa chỉ thường trú: Khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang; địa chỉ tạm trú: Khu phố C, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ thường trú: Số E, tổ B, ấp H, xã N, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
Địa chỉ: Số C P, thị trấn M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Nguyễn Thị P làm giúp việc nhà cho bà Phan Thị C tại căn hộ L Chung cư L, số F M, khu phố E, phường A, thành phố T từ khoảng tháng 10/2021 và ngủ tại phòng khách của căn hộ trên. Bà C có mua 47 lượng vàng SJC Rồng Vàng 999,9 và cất số vàng này cùng một số giấy tờ trong bao thư cũ, gói vào trong túi lynon màu đỏ để ở ngăn trên của tủ quần áo trong phòng trống không có người ở.
Cuối năm 2022, bị cáo dọn dẹp phòng thì thấy số vàng trên nên nảy sinh ý định chiếm đoạt. Ngày 15/01/2023, bị cáo lấy túi vàng và giấu vào ngăn tủ quần áo phía dưới nhằm mục đích thuận tiện cho việc lấy trộm sau này.
Khi biết bà C về Đà Nẵng chơi thì bị cáo cũng xin về quê. Khoảng 04 giờ 30 phút, ngày 25/01/2023 (mùng 4 Tết), bà C rời khỏi nhà thì bị cáo lấy túi vàng đã cất trước đó bỏ vào ba lô quần áo của mình và nhờ Nguyễn Thị Yên N (con bà C) đặt dùm xe công nghệ cho bị cáo để ra bến xe M về tỉnh Đồng Tháp.
Khi đến tỉnh Đồng Tháp, bị cáo kiểm tra bên trong túi có 47 miếng kim loại màu vàng nên đến tiệm V2 số 036 P, khóm M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp do ông Trần Đức L làm chủ bán 01 miếng vàng được 66.200.000 đồng. Bị cáo cho cháu nội là Nguyễn Ngọc Yến V1 (sinh năm 2019) số tiền 1.000.000 đồng, cho bà Trương Thị Quỳnh D (con dâu) 04 miếng vàng, cho ông Nguyễn Thanh V (con trai) 01 miếng vàng và nói nguồn gốc vàng cho là do trúng vé số mua. Sau đó, bị cáo sang Campuchia bán 01 miếng vàng cho một thanh niên (chưa rõ lý lịch) được 64.500.000 đồng và dùng số tiền này đánh bạc thua hết. Ngày 05/02/2023, bị cáo mang số vàng còn lại để vào túi nylon, dùng khăn vải bọc lại để vào ba lô màu xám mang đến tiệm S ở khóm S, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp do anh Nguyễn Tấn K làm chủ gửi số vàng trên rồi bắt xe về khách sạn tại huyện C, tỉnh Đồng Tháp nghỉ.
Ngày 03/02/2023, bà Phan Thị C về nhà không thấy bị cáo Nguyễn Thị P, kiểm tra tài sản và phát hiện bị mất vàng nên đến Công an phường A, thành phố T để trình báo vụ việc. Qua điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã ra lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Thị P, thu giữ 40 lượng vàng SJC Rồng Vàng 999,9, tiền mặt và chuyển vụ án đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H tiếp tục điều tra, làm rõ.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T và Công an Thành phố H, bị cáo Nguyễn Thị P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Vật chứng thu giữ:
- - 01 hóa đơn bán hàng số 0052486, người mua hàng là Phan Thị C, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho bà Phan Thị C;
- - 01 bảng kê số Seri vàng SJC, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho bà Phan Thị C;
- - 43 lượng vàng SJC Rồng Vàng 999,9 có trọng lượng 37,5gram/01 miếng, có số sê ri lần lượt là: FK38408, GF81808, GF81804, JC13756, FW73662, DY65492, GN36133, NR28549, JF53627, DL92683, GI89429, GI89430, GI89431, JH06993, JH06981, JH06982, JH06983, JH06984, JH06985, JH06986, JH06987, JH06988, JH06989, JH06990, JH06991, JH06992,
JH06994, JH06995, JH06996, JH06997, JH06998, JH06999, JH07000, JH07001, JH07002, JH07003, JH07004, JH07005, JH07006, JH07007, CT45153, FV99149 và EX14027, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho bà Phan Thị C;
- - Tiền Ngân hàng N1: 76.800.000 đồng, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho bà Phan Thị C;
- - 01 (một) ba lô màu xám đã qua sử dụng;
- - 01 (một) khăn hình chữ nhật màu nâu vàng đã qua sử dụng.
Tại Bản cáo trạng số 155/CT-VKS-P2 ngày 06/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố Nguyễn Thị P về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Nguyễn Thị P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh truy tố. Bị cáo thừa nhận việc Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội danh “Trộm cắp tài sản” là đúng, không oan sai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Thị P tại phiên toà hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tại cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở khẳng định: Bị cáo Nguyễn Thị P đã có hành vi lén lút lấy 47 lượng vàng SJC Rồng Vàng 999,9 của bà Phan Thị C có trị giá 3.153.700.000 đồng. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Thị P về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị hại xin bãi nại giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 4 Điều 173, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Thị P từ 12 (Mười hai) đến 14 (Mười bốn) năm tù; đồng thời đề nghị tịch thu tiêu hủy vật chứng còn lại không còn giá trị sử dụng theo quy định.
Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Thống nhất về tội danh và điều khoản như Cáo trạng truy tố. Tuy nhiên đề nghị xem xét về động cơ, mục đích, hoàn cảnh phạm tội của bị cáo; Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ như thành khẩn
khai báo, ăn năn hối cải, có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, đây là lần đầu phạm tội, tài sản đã thu hồi gần như toàn bộ trả cho bị hại; quá trình điều tra, bị hại có đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và không yêu cầu bồi thường; bị cáo có nhận thức pháp luật hạn chế, hiện đang bị nhiều bệnh nên đề nghị Tòa án áp dụng tuyên dưới khung hình phạt của đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh để thấy được sự khoan hồng của pháp luật đối với bị cáo.
Bị cáo đồng ý với luận cứ bào chữa của luật sư, không bổ sung.
Kiểm sát viên tranh luận: Bị cáo chỉ có một tình tiết giảm nhẹ hình phạt quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 nên không đủ điều kiện áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; ngoài ra số tiền bị cáo chiếm đoạt rất lớn so với mức khởi điểm của khung hình phạt nên Viện kiểm sát cũng đã cân nhắc động cơ, mục đích, tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và đã đề nghị mức hình phạt tương xứng.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo biết hành vi của mình là lỗi lầm sai trái, bị cáo xin lỗi bị hại, hiện bị cáo đang bị bệnh tiểu đường tim mạch, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để sớm về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung, bị cáo đều trình bày lời khai hoàn toàn tự nguyện, không bị ép cung, nhục hình. Tại các biên bản lấy lời khai, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều trình bày lời khai hoàn toàn tự nguyện. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh và hình phạt: Bị cáo Nguyễn Thị P đã có hành vi lén lút, lợi dụng sơ hở khi bị hại không có ở nhà chiếm đoạt 47 lượng vàng SJC rồng vàng 999,9 của bị hại để tiêu xài cá nhân. Căn cứ kết luận định giá tài sản số 38-KV1/KLÐG-HĐĐGTS ngày 09/02/22023 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự, Ủy ban nhân dân thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh thì giá trị của 47 lượng vàng SJC 999,9 là 3.153.700.000 đồng. Hành vi của bị cáo Nguyễn Thị P đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phía bị hại đã nhận lại tài sản và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên Hội đồng xét xử xem xét áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
[4] Bị cáo Nguyễn Thị P có nhân thân chưa bị kết án nhưng do tham lam tư lợi, lười nhác lao động bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến tài sản hợp pháp của công dân mà còn gây mất trật tự trị an xã hội. Nên cần phải xử lý bị cáo bằng mức án nghiêm mới có đủ tác dụng cải tạo, giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong xã hội.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Phan Thị C đã nhận lại tài sản và số tiền 76.800.000 đồng, không có yêu cầu bồi thường gì thêm, tại phiên tòa vắng mặt nên Hội đồng xét xử không xét.
[6] Về xử lý vật chứng:
- - Đối với 01 (một) hóa đơn bán hàng số 0052486 - người mua hàng Phan Thị C; 01 (một) bảng kê số Seri vàng SJC; 43 lượng vàng SJC Rồng Vàng 999,9 có trọng lượng 37,5gram/01 miếng, có số sê ri lần lượt là: FK38408, GF81808, GF81804, JC13756, FW73662, DY65492, GN36133, NR28549, JF53627, DL92683, GI89429, GI89430, GI89431, JH06993, JH06981, JH06982, JH06983, JH06984, JH06985, JH06986, JH06987, JH06988, JH06989, JH06990, JH06991, JH06992, JH06994, JH06995, JH06996, JH06997, JH06998, JH06999, JH07000, JH07001, JH07002, JH07003, JH07004,
JH07005, JH07006, JH07007, CT45153, FV99149, EX14027 và 76.800.000 đồng, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là bà Phan Thị C, nên Hội đồng xét xử không xét.
- - Đối với 01 (một) ba lô màu xám đã qua sử dụng và 01 (một) khăn hình chữ nhật màu nâu vàng đã qua sử dụng là công cụ bị cáo dùng vào việc phạm tội, giá trị sử dụng không còn nên cần tịch thu, tiêu hủy.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật Phí và Lệ phí năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án.
[8] Về các vấn đề khác:
Ông Nguyễn Minh L1 và bị hại - bà Phan Thị C đã ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số: 891/2021/QÐST-HNGĐ ngày 20/4/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức và ghi nhận tài sản chung không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bà Phan Thị C khai số vàng bị trộm là tài sản riêng của bà C, trường hợp có tranh chấp về quyền sở hữu đối với 47 lượng vàng SJC Rồng Vàng 999,9 sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác.
Ông Nguyễn Tấn K là người được bị cáo gửi giữ hộ 01 ba lô bên trong có 40 lượng vàng SJC Rồng Vàng 999,9, khi bị cáo P gửi không nói cho ông K bên trong ba lô có vàng và nguồn gốc số vàng từ đâu mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý trách nhiệm hình sự đối với ông K nên Hội đồng xét xử không xét.
Bà Trương Thị Quỳnh D là con dâu của bị cáo P, được bị cáo cho 04 lượng vàng SJC Rồng Vàng 999,9, nhưng không biết đây là tài sản do bị cáo phạm tội mà có. Bà D đã bán 01 lượng vàng SJC Rồng Vàng 999,9 với giá 65.000.000 đồng, khi Cơ quan Cảnh sát điều tra làm việc thì bà D đã giao nộp lại 03 lượng vàng SJC Rồng Vàng 999,9 và 65.000.000 đồng, Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý trách nhiệm hình sự đối với bà D nên Hội đồng xét xử không xét.
Ông Nguyễn Thanh V là con ruột của bị cáo P, được bị cáo cho 01 lượng vàng SJC Rồng Vàng 999,9, nhưng không biết đây là tài sản do bị cáo phạm tội mà có. Ông V đã bán 01 lượng vàng SJC Rồng Vàng 999,9 với giá 66.000.000 đồng, ông V đã tiêu xài chỉ còn lại 11.300.000 đồng. Khi cơ quan Cảnh sát điều
tra làm việc ông V đã giao nộp lại số tiền này, Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý trách nhiệm hình sự đối với ông V nên Hội đồng xét xử không xét.
Ông Trần Đức L là Chủ Doanh nghiệp Tư nhân mua bán vàng Công Bình có mua số vàng của bị cáo P và bà D nhưng không biết tài sản do phạm tội mà có. Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý trách nhiệm hình sự nên Hội đồng xét xử không xét.
[9] Bị cáo và các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm a khoản 4 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Thị P 12 (mười hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 07/02/2023.
Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) ba lô màu xám đã qua sử dụng và 01 (một) khăn hình chữ nhật màu nâu vàng đã qua sử dụng.
(Theo Biên bản giao nhận tang tài vật số NK 2024/377 ngày 11/6/2024 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh).
Căn cứ vào Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Luật Phí và Lệ phí năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án: Bị cáo Nguyễn Thị P phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm..
Căn cứ vào khoản 1 Điều 331, khoản 1 Điều 335 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày tuyên án đối với bị cáo và đương sự có mặt tại phiên tòa; đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Mai Trần Cảnh |
Bản án số 380/2024/HS-ST ngày 09/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 380/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
