Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN ĐỐNG ĐA

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Bản án số: 380/2024/HS-ST

Ngày: 03/12/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vương Thuỳ Dương

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Bá Lung

Bà Nguyễn Thị Cờ

- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thị Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Lương Thuý Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 12 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 387/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 379/2024/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. NGUYỄN TIẾN Đ, sinh ngày 04/8/1996 tại Hải Phòng; HKTT: Tổ 2, khu B phường B, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn M và bà Lê Thị V; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 22/9/2017, Toà án nhân dân quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 24 tháng về tội Tổ chức đánh bạc; Bị tạm giữ từ ngày 29/8/2024 đến ngày 07/9/2024; Bị tạm giam từ ngày 07/9/2024 đến nay; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
  2. NGUYỄN THỊ N, sinh ngày 28/10/1988 tại Hưng Yên; HKTT: Thôn Â, xã H, huyện Â, tỉnh Hưng Yên; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Chí T (đã chết) và bà Nguyễn Thị N1; Tiền án, tiền sự: Không; Bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 07/9/2024 đến nay; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
  3. NGUYỄN CÔNG Q, sinh ngày 10/12/1983 tại Bắc Ninh; HKTT: SỐ A Hồ N, phường P, quận H, Thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Công Q1 và bà Nguyễn Thị H;Vợ: Nguyễn Thị Thu H1; Có 02 con: con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2009; Tiền án, tiền sự: Không; Bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 07/9/2024 đến nay; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
  4. LÊ THẾ H2, sinh ngày 19/5/1992 tại Hà Nội; HKTT và chỗ ở: Số C ngõ C đường L, phường T, quận Đ, Thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn H3 và bà Nguyễn Thị Bích N2; Vợ: Nguyễn Thị Thu T1; Có 02 con: con lớn sinh năm 2018, con nhỏ sinh năm 2024; Tiền án, tiền sự: Không; Bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 07/9/2024 đến nay; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
  5. HOÀNG ĐÌNH D, sinh ngày 02/9/1992 tại Hà Nội; HKTT: Số B ngõ C đường L, phường T, quận Đ, Thành phố Hà Nội; Tạm trú: Số A tổ C T, thị trấn X, huyện C, Thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá (học vấn): 08/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hoàng Đình T2 (đã chết) và bà Đặng Thị L; Vợ: Nguyễn Thị V1; Có 02 con: con lớn sinh năm 2018, con nhỏ sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không; Bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 07/9/2024 đến nay; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
  6. NGUYỄN THANH T3, sinh ngày 30/8/1993 tại Cộng hòa Liên bang N4; HKTT và chỗ ở: P111 A, tập thể V, phường N, quận Đ, Thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T4 và bà Đặng Thị Kim T5; Tiền án, tiền sự: Không; Bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 07/9/2024 đến nay; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
  7. NGUYỄN QUỐC P, sinh năm 13/12/1989 tại Yên Bái; HKTT và chỗ ở: CH A, tòa nhà C, khu đô thị N, phường P, quận T, Thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Quang C và bà Đào Thị H4; Vợ: Nguyễn Huyền T6; Có 01 con sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: Không; Bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 07/9/2024 đến nay; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
  8. TÔ THUẬN HIẾU, sinh ngày 02/02/1986 tại Hà Nội; HKTT và chỗ ở: Số G ngõ C đường N, tổ F, phường Y, quận C, Thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Tô Văn V2 và bà Nguyễn Thị T7; Tiền án, tiền sự: Không; Bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 07/9/2024 đến nay; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 40 phút ngày 29/8/2024, Công an phường L phối hợp cùng Đ1 - Công an quận Đ tiến hành kiểm tra quán cà phê “Hẻm 28” ở địa chỉ số nhà B ngách D đường L, phường L, quận Đ, Thành phố Hà Nội phát hiện các đối tượng Nguyễn Công Q, Nguyễn Tiến Đ, Nguyễn Quốc P, Tô Thuận H5, Lê Thế H2, Nguyễn Thanh T3 và Hoàng Đình D đang có hành vi đánh bạc dưới hình thức chơi poker được thua bằng tiền. Nguyễn Thị N là chủ quán cà phê “Hẻm 28” cũng có mặt tại quán. Cơ quan công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và đưa các đối tượng về trụ sở làm việc.

Tang vật thu giữ tại chiếu bạc gồm:

  • Tạm giữ của Nguyễn Thanh T3: 24 quân chíp các loại; 01 điện thoại di động Realme và số tiền 1.200.000 đồng.
  • Tạm giữ của Nguyễn Quốc P: 4 quân chíp; 01 điện thoại di động Iphone màu trắng và số tiền 470.000 đồng.
  • Tạm giữ của Tô Thuận H5: 14 quân chíp; 01 điện thoại di động Iphone.
  • Tạm giữ của Nguyễn Tiến Đ: 07 quân chíp; 01 điện thoại di động Iphone màu hồng.
  • Tạm giữ của Lê Thế H2: 06 quân chíp; 01 điện thoại di động Iphone và số tiền 130.000 đồng.
  • Tạm giữ của Hoàng Đình D: 34 quân chíp; 01 điện thoại di động Iphone.
  • Tạm giữ của Nguyễn Công Q: số tiền 500.000 đồng; 01 điện thoại Iphone XS màu vàng và 47 quân chíp. Ngoài ra còn tạm giữ của Q: 01 chiếc thảm; 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân bàn; 01 vali đựng 117 chíp và 01 giỏ nhựa đựng 31 quân chíp.

Tại cơ quan điều tra, các đối tượng khai nhận: Hồi 15 giờ 30 phút ngày 29/8/2024, Nguyễn Công Q, Nguyễn Thanh T3, Hoàng Đình D và 01 người nam giới tên Tuấn A tụ tập tại quán cà phê “Hẻm B”. Q là người chủ động đi vào trong quầy pha chế để lấy dụng cụ đánh bạc (hình thức poker) gồm thảm, vali chip, bộ T9 lơ khơ 52 quân bài rồi ngồi vào bàn gọi mọi người tham gia chơi. Ai muốn tham gia chơi thì phải đặt vấn đề mua chip từ Q. Không ai phải thanh toán tiền ngay mà đợi sau khi kết thúc, nếu thua phải trả tiền cho Q, nếu thắng thì Q sẽ thanh toán trả tiền. Tiếp theo trong khoảng thời gian từ 16 giờ 10 phút đến 17 giờ 10 phút, lần lượt các đối tượng Lê Thế H2, Tô Thuận H5, Nguyễn Tiến Đ và Nguyễn Quốc P đến và tham gia đánh bạc. Khoảng 16 giờ 50 phút, Tuấn A thua bạc nên ra về trước và thanh toán trả cho Q số tiền 500.000 đồng. Các đối tượng còn ở lại tiếp tục chơi đến khoảng 17 giờ 40 phút cùng ngày thì bị tổ công tác Công an phường L phối hợp cùng Đ1 - Công an quận Đ kiểm tra phát hiện bắt quả tang 7 đối tượng đang có hành vi đánh bạc và thu giữ 167 quân chip tương đương 13.100.000 đồng trên bàn poker mà các đối tượng đang chơi.

Về tỷ lệ quy đổi và thanh toán như sau: Các đối tượng quy định chip màu đỏ quy đổi tương đương 5.000 đồng; chip màu xanh da trời quy đổi tương đương 10.000 đồng; chip màu xanh lá cây quy đổi tương đương 20.000 đồng; chíp màu đen quy đổi tương đương 100.000 đồng; chip màu trắng quy đổi tương đương 500.000 đồng.

Về số tiền chip sử dụng để tham gia đánh bạc trong ngày 29/8/2024 các đối tượng khai như sau:

  • Nguyễn Công Q khai: Q đã chủ động lấy 4.600 chip tương đương số tiền 4.600.000 đồng để đánh bạc. Thời điểm cơ quan công an kiểm tra bắt quả tang thu giữ tại trước vị trí chỗ Q ngồi 47 quân chip, quy đổi thành 6.195.000 đồng. Ngoài ra còn thu giữ của Q số tiền 500.000 đồng là tiền đối tượng Tuấn A thanh toán cho Q để trả tiền mua chip; giỏ nhựa đựng 31 quân chip tương đương 585.000 đồng là số tiền các đối tượng chơi thắng sẽ bỏ vào để cuối ngày trả tiền nước và cho thêm Nguyễn Thị N – chủ quán cà phê.
  • Hoàng Đình D khai: Khi tham gia đánh bạc, D mua 2.000 chip của Q, tương đương số tiền 2.000.000 đồng để chơi. Thời điểm cơ quan công an kiểm tra bắt quả tang thu giữ tại trước chỗ D ngồi 34 quân chip quy đổi thành 2.965.000 đồng.
  • Nguyễn Thanh T3 khai: Khi tham gia đánh bạc, T3 mua 2.000 chip của Q, tương đương số tiền 2.000.000 đồng để chơi. Thời điểm cơ quan công an kiểm tra bắt quả tang thu giữ tại trước chỗ T3 ngồi 24 quân chip, quy đổi thành 1.840.000 đồng. Ngoài ra, còn thu giữ của T3 số tiền 1.200.000 đồng là tiền T3 mang theo sử dụng để đánh bạc.
  • Lê Thế H2 khai: Khi tham gia đánh bạc, H2 mua tổng cộng 500 chip tương đương số tiền 500.000 đồng để chơi. Thời điểm cơ quan công an kiểm tra bắt quả tang thu giữ tại trước chỗ H2 ngồi 06 quân chip, quy đổi thành 130.000 đồng. Ngoài ra, còn thu giữ của hiển số tiền 130.000 đồng là tiền H2 mang theo sử dụng để đánh bạc.
  • Tô Thuận H5 khai: Khi tham gia đánh bạc, H5 mua 1.500 chip tương đương số tiền 1.500.000 đồng để chơi. Thời điểm cơ quan công an kiểm tra bắt quả tang thu giữ tại trước chỗ H5 ngồi 14 quân chip, quy đổi thành 555.000 đồng.
  • Nguyễn Quốc P khai: Khi tham gia đánh bạc, P mua 1.500 chip tương đương số tiền 1.500.000 đồng để chơi. Thời điểm cơ quan công an kiểm tra bắt quả tang thu giữ tại trước chỗ P ngồi 04 quân chip, quy đổi thành 400.000 đồng. Ngoài ra còn thu giữ của P số tiền 470.000 đồng, là tiền Phong mang theo sử dụng để đánh bạc.
  • Nguyễn Tiến Đ khai: Khi tham gia đánh bạc, Đ mua 500 chip tương đương số tiền 500.000 đồng để chơi. Thời điểm cơ quan công an kiểm tra bắt quả tang thu giữ tại trước chỗ Đ ngồi 07 quân chip, quy đổi thành 430.000 đồng.
  • Khi tham gia đánh bạc, Tuấn A mua từ Nguyễn Công Q 500 chip tương đương số tiền 500.000 đồng để chơi và thua hết.Khi dừng chơi, Tuấn A đã thanh toán trả 500.000 đồng cho Q.

Tại cơ quan công an, Nguyễn Thị N đầu thú và khai nhận: Nguyệt thuê nhà tại địa chỉ số B ngách D đường L, phường L, quận Đ, Thành phố Hà Nội để kinh doanh quán cà phê. Tuy nhiên, thời gian gần đây quán cà phê vắng khách nên để tăng doanh thu cho quán, N3 đã đồng ý để các đối tượng tụ tập đánh bạc được thua bằng tiền. Nguyệt không nhớ ai là người đã mang vali đựng chip và dụng cụ đánh bạc đến. Sau mỗi lần chơi, các đối tượng sẽ cất vali chip và thảm ở vị trí giữa tủ lạnh và quầy pha chế để lần sau tiếp tục sử dụng và cho N thêm khoản tiền từ 50.000 đồng đến 100.000 đồng ngoài tiền nước đã gọi. Nguyệt cho các đối tượng đánh bạc ở quán được khoảng vài tháng. Số tiền N được hưởng lợi khoảng 2.000.000 đồng.

Cơ quan điều tra đã xác định tổng số tiền các bị cáo dùng vào mục đích đánh bạc là 15.400.000 đồng.

Cáo trạng số: 386/CT-VKSĐĐ ngày 08/11/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội đã truy tố Nguyễn Công Q, Nguyễn Tiến Đ, Nguyễn Thị N, Lê Thế H2, Hoàng Đình D, Nguyễn Quốc P, Nguyễn Thanh T3, Tô Thuận H5 về tội Đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã nêu, sau khi đánh giá chứng cứ, phân tích hành vi của bị cáo đã kết luận Nguyễn Công Q, Nguyễn Tiến Đ, Nguyễn Thị N, Lê Thế H2, Hoàng Đình D, Nguyễn Quốc P, Nguyễn Thanh T3, Tô Thuận H5 phạm tội Đánh bạc. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt: Nguyễn Tiến Đ từ 10 đến 12 tháng tù;

Áp dụng khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt:

  • Nguyễn Công Q, Nguyễn Thị N từ 10 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách từ 20 đến 24 tháng.
  • Lê Thế H2, Hoàng Đình D, Nguyễn Quốc P, Nguyễn Thanh T3, Tô Thuận H5 từ 08 đến 10 tháng cải tạo không giam giữ.

Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo; Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước điện thoại và số tiền 2.300.000 đồng thu giữ của các bị cáo; Truy thu sung ngân sách nhà nước số tiền thu lời bất chính của bị cáo N; Tịch thu tiêu hủy 01 thảm, 01 bộ tú lơ khơ 52 quân bài, 167 chip, 01 vali hình chữ nhật đựng 117 quân chip, 01 giỏ nhựa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Đ, Thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền về trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi của các bị cáo:

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng đã thu được của vụ án và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 17 giờ 40 phút ngày 29/8/2024, tại quán cà phê “Hẻm 28” địa chỉ: số B, ngách D đường L, phường L, quận Đ, Thành phố Hà Nội, tổ công tác Công an phường L phối hợp cùng với Đ1 - Công an quận Đ bắt quả tang Nguyễn Tiến Đ, Nguyễn Công Q, Lê Thế H2, Hoàng Đình D, Nguyễn Quốc P, Nguyễn Thanh T3 và Tô Thuận H5 đang đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức chơi Poker. Tổng số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc là 15.400.000 đồng. Nguyễn Thị N là chủ quán cà phê, là đồng phạm giúp sức cho các bị cáo đánh bạc tại quán cà phê. Hành vi nêu trên của các bị cáo đã phạm vào tội Đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa truy tố các bị cáo theo tội danh và điều luật trên là có căn cứ và đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội ở địa phương, gây ảnh hưởng xấu đến nếp sống văn minh của xã hội ở cộng đồng dân cư và làm phát sinh những tệ nạn khác. Do đó, cần xử phạt mức án tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội mà các bị cáo đã gây ra mới đảm bảo tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, nên khi lượng hình cần xem xét đến vai trò, tính chất, mức độ, hành vi phạm tội, nhân thân của từng bị cáo, để quyết định hình phạt phù hợp.

Đối với bị cáo Nguyễn Công Q, Nguyễn Thị N: Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi đánh bạc trái phép là vi phạm pháp luật, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương nhưng các bị cáo vẫn tham gia. Trong vụ án này, bị cáo Q là người khởi xướng, là người chủ động đi vào trong quầy pha chế để lấy dụng cụ đánh bạc rồi ngồi vào bàn gọi mọi người tham gia chơi, đồng thời bị cáo Q cũng là người trực tiếp đổi chip cho các bị cáo khác để tham gia chơi, thanh toán thắng thua với mọi người khi kết thúc. Bị cáo N là người giúp sức tích cực, cung cấp địa điểm, phương tiện, dụng cụ cho các bị cáo khác thực hiện hành vi đánh bạc và hưởng lợi bất chính. Do đó, tính chất hành vi của bị cáo Q và N nguy hiểm hơn các bị cáo khác trong cùng vụ án. Tuy nhiên, khi lượng hình, HĐXX xem xét: trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS cho các bị cáo. Riêng đối với bị cáo N, sau khi hành vi phạm tội bị phát hiện, bị cáo đã tự nguyện đầu thú nên áp dụng thêm cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng nên xét thấy không cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà cho các bị cáo được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 BLHS cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo các bị cáo và phòng ngừa tội phạm.

Đối với các bị cáo Lê Thế H2, Hoàng Đình D, Nguyễn Thanh T3, Tô Thuận H5 và Nguyễn Quốc P: Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi đánh bạc trái phép là vi phạm pháp luật nhưng vẫn tham gia đánh bạc. Trong vụ án, các bị cáo là người trực tiếp tham gia đánh bạc, mặc dù không phải là người khởi xướng nhưng tính chất hành vi của các bị cáo vẫn là nguy hiểm nên cần có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo để răn đe giáo dục và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi lượng hình, HĐXX xem xét: trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên toà, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Nhân thân của các bị cáo tốt, đây là lần đầu các bị cáo phạm tội; hành vi phạm tội của các bị cáo thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc không lớn nên áp dụng điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS để giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt. Các bị cáo H2, D, T3, H5 và P có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, tính chất nguy hiểm của hành vi của các bị cáo không lớn nên xét thấy không cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà cho các bị cáo được cải tạo không giam giữ theo quy định tại Điều 36 BLHS cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo các bị cáo và phòng ngừa tội phạm.

Đối với bị cáo Nguyễn Tiến Đ: Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi đánh bạc trái phép là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn tham gia đánh bạc. Nhân thân bị cáo đã từng bị kết án về tội tổ chức đánh bạc cho thấy bị cáo là người đã từng được giáo dục, cải tạo nhưng không thay đổi. Do đó, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, nhằm răn đe giáo dục và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi lượng hình, HĐXX xem xét: trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; số tiền dùng đánh bạc của bị cáo không lớn, tính chất sát phạt không cao, nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS để giảm cho bị cáo một phần hình phạt.

Ngoài hình phạt chính, lẽ ra các bị cáo phải chịu thêm hình phạt bổ sung bằng tiền theo quy định tại khoản 3 điều 321 của Bộ luật hình sự. Xong xét các bị cáo không có thu nhập ổn định, không có khả năng thi hành án, nên miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho các bị cáo.

[3] Xử lý vật chứng:

Xét vật chứng của vụ án là 01 thảm, 01 bộ tú lơ khơ 52 quân bài, 167 chip, 01 vali đựng 117 quân chip là công cụ, phương tiện các bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu tiêu huỷ.

Xét 07 điện thoại di động và số tiền 2.300.000 đồng thu giữ của các bị cáo Q, Đ, H2, D, P, T3, H5 có liên quan đến hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Xét số tiền 2.000.000 đồng bị cáo N khai là tiền hưởng lợi từ việc cho các đối tượng mượn địa điểm để thực hiện hành vi đánh bạc, đây là số tiền hưởng lợi bất chính nên cần truy thu sung ngân sách nhà nước.

[4] Các bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Công Q, Nguyễn Tiến Đ, Nguyễn Thị N, Lê Thế H2, Nguyễn Quốc P, Nguyễn Thanh T3, Hoàng Đình D, Tô Thuận H5 phạm tội "Đánh bạc".

Căn cứ: Khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Nguyễn Tiến Đ 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/8/2024.

Căn cứ: Khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt:

  • Nguyễn Công Q 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách là 18 (Mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Nguyễn Công Q cho Ủy ban nhân dân phường phường P, quận H, Thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

  • Nguyễn Thị N 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách là 18 (Mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Nguyễn Thị N cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện Â, tỉnh Hưng Yên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Người được hưởng án treo đã chấp hành được một phần hai thời gian thử thách và có nhiều tiến bộ thì theo đề nghị của cơ quan, tổ chức có trách nhiệm giám sát, giáo dục, Tòa án có thể quyết định rút ngắn thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp người được hưởng án treo phạm tội mới trong thời gian thử thách thì Tòa án quyết định hình phạt đối với tội phạm mới và tổng hợp với hình phạt tù của bản án trước theo quy định tại Điều 55, 56 của Bộ luật hình sự, nếu họ đã bị tạm giam, tạm giữ thì thời gian bị tạm giam, tạm giữ được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù.

Căn cứ: Khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 36 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt:

  • Hoàng Đình D 09 tháng cải tạo không giam giữ.

Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện C, thành phố Hà Nội nhận được Quyết định thi hành án.

Giao bị cáo Hoàng Đình D cho Ủy ban nhân dân thị trấn X, huyện C, Thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo D có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân thị trấn X, huyện C, Thành phố Hà Nội trong việc giám sát, giáo dục bị cáo T8.

  • Lê Thế H2 09 tháng cải tạo không giam giữ.

Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an quận Đ, thành phố Hà Nội nhận được Quyết định thi hành án.

Giao bị cáo Lê Thế H2 cho Ủy ban nhân dân phường T, quận Đ, Thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo H2 có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường T, quận Đ, Thành phố Hà Nội trong việc giám sát, giáo dục bị cáo H2.

  • Nguyễn Thanh T3 09 tháng cải tạo không giam giữ.

Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an quận Đ, thành phố Hà Nội nhận được Quyết định thi hành án.

Giao bị cáo Nguyễn Thanh T3 cho Ủy ban nhân dân phường N, quận Đ, Thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo T3 có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường N, quận Đ, Thành phố Hà Nội trong việc giám sát, giáo dục bị cáo T3.

  • Nguyễn Quốc P 09 tháng cải tạo không giam giữ.

Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an quận T, thành phố Hà Nội nhận được Quyết định thi hành án.

Giao bị cáo Nguyễn Quốc P cho Ủy ban nhân dân phường P, quận T, Thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo P có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường P, quận T, Thành phố Hà Nội trong việc giám sát, giáo dục bị cáo P.

  • Tô Thuận Hiếu 09 tháng cải tạo không giam giữ.

Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an quận C, thành phố Hà Nội nhận được Quyết định thi hành án.

Giao bị cáo Tô Thuận H5 cho Ủy ban nhân dân phường Y, quận C, Thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo H5 có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường Y, quận C, Thành phố Hà Nội trong việc giám sát, giáo dục bị cáo H5.

Trường hợp các bị cáo H2, D, T3, P, H5 thay đổi nơi cư trú thì việc giám sát bị cáo thực hiện theo khoản 1 Điều 69 Luật Thi hành án hình sự.

Buộc các bị cáo H2, D, T3, P, H5 phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ theo yêu cầu của chính quyền địa phương và thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật Thi hành án hình sự.

Căn cứ: Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 136, Điều 329, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

- Tịch thu tiêu hủy:

  1. 01 chiếc thảm cao su màu đen, kích thước khoảng (60x100) cm, đã qua sử dụng;
  2. 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân bài;
  3. 167 chip;
  4. 01 vali hình chữ nhật, đựng 117 quân chip.
  5. 01 giỏ nhựa.

- Tịch thu sung ngân sách nhà nước:

  1. 01 chiếc điện thoại di động Iphone XS (máy đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng và nội dung bên trong);
  2. 01 chiếc điện thoại di động Realme, số imei 1: 862809060862530 và số imei 2: 862809060862522 (máy đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng và nội dung bên trong);
  3. 01 chiếc điện thoại di động Iphone màu trắng, số imei 1: 351057063190727 và số imei 2: 351057063177831 (máy đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng và nội dung bên trong);
  4. 01 chiếc điện thoại Iphone, số imei 1: 355017383999146 và số imei 2: 355017389657136 (máy đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng và nội dung bên trong);
  5. 01 chiếc điện thoại Iphone màu hồng, số imei: 359218079736059 (máy đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng và nội dung bên trong);
  6. 01 chiếc điện thoại Iphone, số imei 1: 355565704640880 và số imei 2: 355565704790271 (máy đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng và nội dung bên trong);
  7. 01 chiếc điện thoại Iphone, số imei 1: 353890108517910 và số imei 2: 353890108574192 (máy đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng và nội dung bên trong);

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng số 62 ngày 21 tháng 11 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Đống Đa).

Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 2.300.000 đồng (Theo Giấy nộp tiền vào tài khoản lập ngày 28 tháng 10 năm 2024 của Kho bạc nhà nước Đ2)

Buộc bị cáo Nguyễn Thị N truy nộp số tiền hưởng lợi bất chính 2.000.000 đồng để sung ngân sách nhà nước.

Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND quận Đống Đa, TP. Hà Nội;
  • - VKSND thành phố Hà Nội;
  • - Công an quận Đống Đa, TP. Hà Nội;
  • - Chi cục thi hành án dân sự quận Đống Đa, TP. Hà Nội;
  • - Trại tạm giam số 1- Công an TP. Hà Nội;
  • - TAND thành phố Hà Nội;
  • - Lưu văn phòng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vương Thùy Dương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 380/2024/HS-ST ngày 03/12/2024 của Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội về hình sự sơ thẩm (đánh bạc)

  • Số bản án: 380/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger