Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 380/2024/HC-PT

Ngày 10-5-2024

V/v: “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Đức Phương.

Các Thẩm phán: Ông Hà Huy Cầu.

Ông Mai Xuân Thành.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lã Thị Thu Hoài - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Thông - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án thụ lý số 841/2023/TLPT-HC ngày 10/11/2023 về việc: “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”.

Do Bản án hành chính sơ thẩm số 14/2023/HC-ST ngày 23 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 497/2024/QĐ-PT ngày 08 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:

Người khởi kiện: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1962 (có mặt).

Địa chỉ: Đường E, khu phố E, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

Người đại diện hợp pháp: Ông Ngô Văn H (có mặt).

Địa chỉ: Số A, khu phố G, T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (Theo văn bản ủy quyền ngày 06/5/2024).

Người bị kiện:

  1. Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Đồng Nai.

    Địa chỉ: Khu phố C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

    Người đại diện hợp pháp: Bà Lương Thị L1; chức vụ: Phó Chủ tịch (vắng mặt).

  2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Bùi Xuân H1; chức vụ: Phó trưởng phòng - Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện T (vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Nguyễn Văn X, sinh năm 1985 (vắng mặt).
  2. Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1990 (có mặt).
  3. Chị Thiều Vũ T, sinh năm 1991 (vắng mặt).
  4. Cháu Nguyễn Ngọc Như Q1, sinh năm 2016.
  5. Anh Nguyễn Văn L2, sinh năm 1987 (vắng mặt).
  6. Chị Nguyễn Thị K, sinh năm 1995 (vắng mặt).
  7. Cháu Nguyễn Thảo V, sinh năm 2015.

Cùng địa chỉ: Đường E, tổ E, khu phố E, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

Người đại diện hợp pháp của anh X, anh Q, anh L2, chị T, chị K: Ông Ngô Văn H (có mặt).

Địa chỉ: Số A, khu phố G, T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (Theo văn bản ủy quyền ngày 06/5/2024).

Người đại diện hợp pháp của chị T, chị K: Bà Nguyễn Thị L (có mặt).

Địa chỉ: Đường E, khu phố T, huyện T, tỉnh Đồng Nai (Theo văn bản ủy quyền ngày 30/11/2020).

Người kháng cáo: Người khởi kiện, bà Nguyễn Thị L.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Người khởi kiện, bà Nguyễn Thị L và người đại diện hợp pháp trình bày:

Bà L khởi kiện yêu cầu hủy các Quyết định hành chính, gồm:

Quyết định số 3806/QĐ-UBND ngày 26/9 của UBND huyện T, về việc: Phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ do thu hồi đất của hộ bà Nguyễn Thị L để thực hiện dự án đầu tư xây dựng đường C nối dài (Đoạn từ đường C đến đường N) tại thị trấn T, huyện T (Quyết định số 3806/QĐ-UBND).

Quyết định số 3807/QĐ-UBND ngày 26/9/2016 của UBND huyện T, về việc: Phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ do thu hồi đất của hộ ông Nguyễn Văn X để thực hiện dự án đầu tư xây dựng đường C nối dài (Đoạn từ đường C đến đường N) tại thị trấn T, huyện T (Quyết định số 3807/QĐ-UBND).

Quyết định số 2282/QĐ-UBND ngày 07/6/2017 của UBND huyện T, về việc: Phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ bổ sung do thu hồi đất của hộ bà Nguyễn Thị L để thực hiện dự án đầu tư xây dựng đường C nối dài (Đoạn từ đường C đến đường N) tại thị trấn T, huyện T (Quyết định số 2282/QĐ-UBND).

Quyết định số 5727/QĐ-UBND ngày 29/12/2016 của Chủ tịch UBND huyện T, về việc Giải quyết khiếu nại lần của bà Nguyễn Thị L (Quyết định số 5727/QĐ-UBND).

Về nguồn gốc đất bị thu hồi: Diện tích 115,2m² (đất ở) và tài sản trên đất, thửa 390b được tách từ thửa 390, tờ bản đồ 41 diện tích 211,7m², tại thị trấn T có nguồn gốc do ông T1 khai phá từ năm 1980 và sử dụng đến năm 1997 thì sang nhượng nhà đất cho bà L3. Năm 2002, bà L3 sang nhượng cho gia đình bà L sử dụng liên tục đến nay.

Thửa đất có vị trí liền kề đường C thị trấn T, trên đất có nhà ở xây dựng từ tháng 02/2003 (trên nền nhà cũ), diện tích xây dựng 90m², kết cấu: Tường gạch xây tô, mái tôn thiếc, trần thạch cao, cửa sắt lắp kính, nền gạch men, có đồng hồ điện chính. Nhà ở bị thu hồi 72,16m²/90m², còn lại 17,84m². Năm 2010, ông Nguyễn Văn X (con trai bà L) xây dựng nhà trên thửa đất 390b, diện tích khoảng 30m², kết cấu: Tường gạch xây tô, mái tôn thiếc, trần thạch cao, cửa sắt lắp kính, nền gạch men, có đồng hồ điện chính, phụ.

Bà L khiếu nại Quyết định 3806/QĐ-UBND và ngày 29/12/2016, Chủ tịch UBND huyện T ra Quyết định số 5727/QĐ-UBND, có nội dung không chấp nhận khiếu nại của bà L.

Về căn cứ khởi kiện:

Việc thực hiện dự án đầu tư xây dựng đường C nối dài (đoạn từ đường C đến đường N) tại thị trấn T, huyện T không được Hội đồng Nhân dân tỉnh Đồng Nai chấp thuận mà thu hồi đất của gia đình bà là không đúng pháp luật.

Nhà ở trên cùng thửa đất 390b của ông Nguyễn Văn X không thuộc trường hợp quy định tại các điểm a, b, d, đ, e, i khoản 1 Điều 64 và điểm b, d khoản 1 Điều 65 của Luật Đất đai 2013; ông X xây dựng nhà từ năm 2010 và ở cho đến nay nhưng chưa có thông báo thu hồi đất.

Căn cứ Điều 74, 75, 88, 89, 90, 103 Luật Đất đai năm 2013; Nghị định 47/2014/NĐ-CP của Chính phủ và các Quyết định của UBND tỉnh Đ, gồm: Quyết định số 54/2014/QĐ-UBND ngày 20/11/2014 qui định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Đồng Nai (Quyết định số 54/2014/QĐ-UBND); Quyết định số 55/2014/QĐ-UBND ngày 20/11/2014 qui định về bồi thường, hỗ trợ và tài sản khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Đồng Nai (Quyết định số 55/2014/QĐ-UBND); Quyết định số 57/2014/QĐ-UBND ngày 20/11/2014 qui định về đơn giá xây dựng nhà ở để bồi thường khi Nhà nước thu hồi hồi đất trên địa bàn tỉnh Đồng Nai; Quyết định 64/2014/QĐ-UBND ngày 22/12/2014 quy định: Đất ở thị trấn T đường C vị trí 01, đơn giá qui định là 2.500.000 đồng/m². Do vậy, giá trị quyền sử dụng đất thành tiền để bồi thường là 288.000.000 đồng. Các chính sách hỗ trợ khác có hỗ trợ tái định cư nhưng không được áp dụng, việc xác định giá nhà, vật kiến trúc trên đất không chính xác.

Người bị kiện trình bày:

Ủy ban nhân dân huyện T trình bày:

Căn cứ pháp lý ban hành các Quyết định bồi thường, hỗ trợ do thu hồi đất: Luật Đất đai năm 2013; Nghị định số 43/2014/NĐ-CP của Chính phủ; Nghị định số 47/2014/NĐ-CP của Chính phủ; Thông tư số 37/2014/TT-BTNMT ngày 30/6/2014 của Bộ T2; Quyết định số 53/2014/QĐ-UBND ngày 20/11/2014 của UBND tỉnh Đ ban hành Quy định về trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Đồng Nai (Quyết định số 53/2014/QĐ-UBND); Quyết định số 3269/QĐ-UBND ngày 07/10/2008 của UBND tỉnh Đ về việc thu hồi đất để bồi thường, giải phóng mặt bằng thực hiện dự án đường C nối dài, tại thị trấn T, huyện T (Quyết định số 3269/QĐ-UBND).

Về quy trình thẩm định giá đất: Căn cứ khoản 3 Điều 114 Luật Đất đai năm 2013; Điều 16, Điều 16 Nghị định số 44/2014/NĐ-CP của Chính phủ; Điều 6, Quyết định số 53/2014/QĐ-UBND ngày 20/11/2014 của UBND tỉnh Đ thì UBND tỉnh Đ đã thẩm định và ban hành quyết định phê duyệt giá đất để bồi thường, cụ thể: Ngày 20/7/2016, UBND tỉnh Đ ban hành Quyết định số 2275/QĐ-UBND về việc phê duyệt giá đất để tính tiền bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất thuộc dự án đầu tư xây dựng đường C nối dài (đoạn từ đường C đến đường N) tại thị trấn T, huyện T (Quyết định số 2275/QĐ-UBND); Ngày 24/3/2017 UBND tỉnh Đ ban hành Quyết định số 898/QĐ-UBND về việc phê duyệt điều chỉnh giá đất để bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất thuộc dự án đường C nối dài (Đoạn từ đường C đến đường N) tại thị trấn T, huyện T (Quyết định số 898/QĐ-UBND).

Về các chính sách bồi thường, hỗ trợ: Căn cứ Quyết định số 54/2014/QĐ-UBND, Quyết định số 55/2014/QĐ-UBND của UBND tỉnh Đ, việc lập thủ tục thu hồi, bồi thường đã thực hiện theo đúng Luật Đất đai năm 2013, Nghị định số 44/2014/NĐ-CP và Nghị định số 47/2014/NĐ-CP của Chính phủ, Thông tư số 37/2014/TT-BTNMT ngày 30/6/2014 của Bộ T2, Quyết định số 53/2014/QĐ-UBND ngày 20/11/2014 của UBND tỉnh Đ.

Về giá đất tính bồi thường được thực hiện theo quy định tại Quyết định số 2275/QĐ-UBND và Quyết định số 898/QĐ-UBND của UBND tỉnh Đ. Giá bồi thường hỗ trợ tài sản được thực hiện theo quy định tại Quyết định số 55/2014/QĐ-UBND của UBND tỉnh Đ.

Do đó, yêu cầu khởi kiện của bà L không có căn cứ, đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà L.

Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T trình bày:

Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai đã tống đạt các văn bản tố tụng, gồm: Văn bản số 99/CV-TA ngày 06/02/2023 và Công văn số 284/CV-TA ngày 10/3/2023 về việc yêu cầu có ý kiến đối với nội dung khởi kiện quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu của bà L. Tuy nhiên, Chủ tịch UBND huyện T không có văn bản nêu ý kiến, cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, anh Nguyễn Văn X, anh Nguyễn Văn Q, anh Nguyễn Văn L2 thống nhất trình bày: Các anh là con của bà Nguyễn Thị L, thống nhất với những nội dung trình bày và yêu cầu khởi kiện của bà L. Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị L.

Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 14/2023/HC-ST ngày 23 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, quyết định:

Căn cứ: Điều 30, Điều 32, khoản 1 Điều 157, Điều 158, khoản 2 Điều 193, Điều 194, Điều 204, Điều 206 của Luật Tố tụng hành chính 2015; Điều 39, 40, 42, Điều 62, 66, 67, 69, Điều 74, 75, Điều 83, 89 Luật Đất đai 2013; Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014; Thông tư số 37/2014/TT-BTNMT ngày 30/6/2014 của Bộ T2; Luật Khiếu nại 2011, Nghị định 75/2012/NĐ-CP ngày 03/10/2012, Thông tư 07/2013/TT-TTCP ngày 31/10/2013; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị L về việc yêu cầu hủy Quyết định hành chính:

  • Quyết định số 3806/QĐ-UBND ngày 26/9 của UBND huyện T về việc: Phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ do thu hồi đất của hộ bà Nguyễn Thị L để thực hiện dự án đầu tư xây dựng đường C nối dài (Đoạn từ đường C đến đường N) tại thị trấn T, huyện T.
  • Quyết định số 3807/QĐ-UBND ngày 26/9/2016 của UBND huyện T về việc: Phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ do thu hồi đất của hộ ông Nguyễn Văn X để thực hiện dự án đầu tư xây dựng đường C nối dài (Đoạn từ đường C đến đường N) tại thị trấn T, huyện T.
  • Quyết định số 2282/QĐ-UBND ngày 07/6/2017 của UBND huyện T về việc: Phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ bổ sung do thu hồi đất của hộ bà Nguyễn Thị L để thực hiện dự án đầu tư xây dựng đường C nối dài (Đoạn từ đường C đến đường N) tại thị trấn T, huyện T.
  • Quyết định số 5727/QĐ-UBND ngày 29/12/2016 của Chủ tịch UBND huyện T về việc Giải quyết khiếu nại lần của bà Nguyễn Thị L.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 06/6/2023, người khởi kiện, bà Nguyễn Thị L kháng cáo đề nghị xem xét lại toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa, người khởi kiện, bà L và người đại diện hợp pháp thống nhất rút một phần nội dung khởi kiện về việc yêu cầu hủy Quyết định số 3807/QĐ-UBND ngày 26/9/2016 của UBND huyện T có nội dung bồi thường, hỗ trợ do thu hồi đất của hộ ông Nguyễn Văn X để thực hiện dự án đầu tư xây dựng đường C nối dài (Đoạn từ đường C đến đường N) tại thị trấn T, huyện T; giữ nguyên nội dung kháng cáo khác, cụ thể đề nghị xem xét giá bồi thường đất theo đúng vị trí 1 đường C.

Bà L xác nhận diện tích thu hồi là 115,2m², trên đất có 2 căn nhà của bà theo biên bản kiểm đếm về đất đai ngày 30/3/2016 là đúng. Ngoài ra, bà L có cho ông X một phần đất trong diện tích bị thu hồi và năm 2010, ông X đã xây nhà trên đất. Tuy nhiên, chưa làm thủ tục tách thửa và cũng không đủ điều kiện tách thửa cho ông X.

Đất của bà L nằm trên đường C nên phải bồi thường theo đơn giá do UBND tỉnh Đ phê duyệt. Việc UBND huyện T xác định đất bị thu hồi không phải thuộc vị trí 1 đường C là không đúng.

Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh có ý kiến:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán chủ toạ phiên toà, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng: Xét thấy Thẩm phán chủ toạ phiên toà, các thành viên Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã tuân thủ và chấp hành đúng các quy định của Luật Tố tụng hành chính năm 2015.

Về tính hợp lệ của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị L làm trong hạn luật định, đúng hình thức. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận về mặt hình thức.

Tại phiên tòa, bà L rút một phần khởi kiện yêu cầu hủy Quyết định số 3807/QĐ-UBND ngày 26/9/2016 của UBND huyện T có nội dung liên quan đến bồi thường, hỗ trợ do thu hồi đất của hộ ông Nguyễn Văn X. Đề nghị Hội đồng xét xử hủy một phần bản án và đình chỉ xét xử về nội dung khởi kiện đã rút nêu trên.

Về nội dung: Căn cứ tài liệu có trong hồ sơ và kết quả tranh tụng công khai tại phiên tòa thì bản án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà L là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Người khởi kiện kháng cáo nhưng không có chứng cứ chứng minh nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính, không chấp nhận kháng cáo của bà L, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về thủ tục tố tụng:

  1. Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai thụ lý và giải quyết vụ án là đúng quy định tại Điều 30; Điều 32; điểm a khoản 2 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính. Bà Nguyễn Thị L kháng cáo đúng quy định nên vụ án được xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
  2. Tại phiên tòa phúc thẩm, bà Nguyễn Thị L rút một phần yêu cầu khởi kiện. Việc rút một phần yêu cầu khởi kiện là tự nguyện, đúng pháp luật; người bị kiện vắng mặt tại phiên tòa phúc thẩm nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 234 Luật Tố tụng hành chính hủy một phần bản án sơ thẩm và đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị L về việc hủy Quyết định số 3807/QĐ-UBND ngày 26/9/2016 của UBND huyện T.

Về nội dung:

  1. Về thẩm quyền, trình tự, thủ tục ban hành quyết định: Tòa án cấp sơ thẩm xác định các quyết định bị khiếu kiện ban hành đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục là đúng quy định tại Luật Đất đai năm 2013, Luật Khiếu nại năm 2011.
  2. Về nội dung quyết định hành chính bị khiếu kiện:
    1. Hồ sơ vụ án thể hiện:
      1. Diện tích 115,2m² bị thu hồi của hộ bà Nguyễn Thị Lệ t thửa 390b, tờ bản đồ số 41, thị trấn T. Đất có nguồn gốc do bà L nhận chuyển nhượng từ năm 2002, quản lý sử dụng liên tục đến thời điểm bị thu hồi. Sau khi nhận chuyển nhượng, bà L đã kê khai đăng ký và được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BO711929 ngày 16/01/2014, đối với diện tích 86,2m², loại đất ODT, thửa 663, tờ bản đồ số 41, thị trấn T. Phần diện tích còn lại của thửa 390b không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trong đó có 115,2m² nêu trên.
      2. Ngày 07/10/2008, UBND tỉnh Đ ban hành Quyết định số 3269/QĐ-UBND về việc thu hồi đất để bồi thường, giải phóng mặt bằng thực hiện dự án đường C nối dài tại thị trấn T. Tại danh sách kèm theo thể hiện thửa 390b, tờ 41 thị trấn T bị thu hồi diện tích 115,2m².
    2. Tại biên bản kiểm đếm về đất đai do Hội đồng Bồi thường lập ngày 30/3/2016 (bút lục 420), thể hiện: Trên diện tích 115,2m² bị thu hồi có 02 căn nhà, gồm: Căn nhà thứ 1, diện tích 28,05m² bị thu hồi, diện tích ảnh hưởng là 22m² và căn nhà thứ 2, diện tích 22,1m². Bà L đã ký vào biên bản này. Tại phiên tòa phúc thẩm, bà L cũng xác nhận có tham gia và ký xác nhận vào biên bản ngày 30/3/2016 nêu trên.
    3. Ngày 07/4/2016, UBND thị trấn T lập giấy xác nhận nguồn gốc đất, nhà, vật, kiến trúc, có nội dung: Diện tích bị thu hồi của hộ bà Nguyễn Thị Lệ t vị trí 2 đường Cách mạng tháng Tám, đoạn từ đường L đến đường T (bút lục 417); đồng thời, UBND thị trấn T lập giấy xác nhận hộ gia đình, cá nhân được hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất, theo đó hộ bà L không sản xuất nông nghiệp tại địa phương, không phải di chuyển chỗ ở (bút lục 419).
    4. Ngày 20/7/2016, UBND tỉnh Đ ban hành Quyết định số 2275/QĐ-UBND về việc phê duyệt giá đất để tính tiền bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất thuộc dự án đầu tư xây dựng đường C nối dài (đoạn từ đường C đến đường N) tại thị trấn T, huyện T. Tại thời điểm UBND huyện T ban hành Quyết định số 3806/QĐ-UBND ngày 26/9 thì Quyết định số 2275/QĐ-UBND đang có hiệu lực pháp luật nên UBND huyện T căn cứ Quyết định này để áp dụng đơn giá bồi thường là đúng quy định. Tuy nhiên, ngày 24/3/2017, UBND tỉnh Đ ban hành Quyết định số 898/QĐ-UBND về việc phê duyệt điều chỉnh giá đất để bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất thuộc dự án đường C nối dài (Đoạn từ đường C đến đường N) tại thị trấn T, huyện T nên ngày 06/7/2017, UBND huyện T ban hành Quyết định bồi thường, hỗ trợ bổ sung số 2882/QĐ-UBND ngày 07/6/2017 cho bà L là có căn cứ.
  3. Do Quyết định số 3806/QĐ-UBND ngày 26/9 và Quyết định số 2882/QĐ-UBND ngày 07/6/2017 của UBND huyện T đúng pháp luật. Quyết định 5727/QĐ-UBND ngày 29/12/2016 của Chủ tịch UBND huyện T có nội dung giải quyết khiếu nại lần đầu của bà L được ban hành đúng trình tự thủ tục và thẩm quyền quy định tại Luật Khiếu nại năm 2011 nên hợp pháp.
  4. Hồ sơ vụ án thể hiện, sau khi bị thu hồi thì bà L vẫn còn một phần đất và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên UBND huyện T không xem xét việc tái định cư cho bà L là đúng quy định. Tuy nhiên, sau khi đối thoại thì ngày 19/5/2017, UBND tỉnh Đ ban hành văn bản số 4781/UBND-ĐT về việc hỗ trợ cho hộ bà L được mua 01 lô nền đất ở khu tái định cư trên địa bàn huyện T và bà L đã được giao đất tại khu tái định cư theo quyết định 4474/QĐ-UBND ngày 18/10/2017 của UBND huyện T. Tòa án cấp sơ thẩm xác định nội dung trên nằm ngoài quy định về bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất, mang tính cá biệt nên không xem xét là có căn cứ.
  5. Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà L là có căn cứ. Bà L kháng cáo nhưng không có căn cứ chứng minh nên Hội đồng xét xử thống nhất ý kiến của Viện kiểm sát, không chấp nhận kháng cáo của bà L.
  6. Bà L được miễn án phí sơ thẩm, phúc thẩm. Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 241, điểm b, khoản 1 Điều 234 Luật Tố tụng hành chính; Điều 39, 40, 42, các điều 62, 66, 67, 69, 74, 75, 83, 89 Luật Đất đai 2013; Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ; Thông tư số 37/2014/TT-BTNMT ngày 30/6/2014 của Bộ T2; Luật Khiếu nại 2011, Nghị định 75/2012/NĐ-CP ngày 03/10/2012 của Chính phủ, Thông tư 07/2013/TT-TTCP ngày 31/10/2013 của Thanh tra Chính phủ; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

  1. Hủy một phần bản án sơ thẩm và đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị L về việc hủy Quyết định số 3807/QĐ-UBND ngày 26/9/2016 của Ủy ban nhân dân huyện T về việc: Phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ do thu hồi đất của hộ ông Nguyễn Văn X để thực hiện dự án đầu tư xây dựng đường C nối dài (Đoạn từ đường C đến đường N) tại thị trấn T, huyện T.
  2. Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị L.
  3. Sửa một phần Bản án hành chính số 14/2023/HC-ST ngày 23 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
  4. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị L về việc:
    1. Yêu cầu hủy Quyết định số 3806/QĐ-UBND ngày 26/9 của Ủy ban nhân dân huyện T về việc: Phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ do thu hồi đất của hộ bà Nguyễn Thị L để thực hiện dự án đầu tư xây dựng đường C nối dài (Đoạn từ đường C đến đường N) tại thị trấn T, huyện T.
    2. Yêu cầu hủy Quyết định số 2282/QĐ-UBND ngày 07/6/2017 của Ủy ban nhân dân huyện T về việc: Phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ bổ sung do thu hồi đất của hộ bà Nguyễn Thị L để thực hiện dự án đầu tư xây dựng đường C nối dài (Đoạn từ đường C đến đường N) tại thị trấn T, huyện T.
    3. Yêu cầu hủy Quyết định số 5727/QĐ-UBND ngày 29/12/2016 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T về việc giải quyết khiếu nại lần của bà Nguyễn Thị L.
  5. Về án phí: Bà Nguyễn Thị L được miễn án phí sơ thẩm, phúc thẩm. Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị L 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 001155 ngày 03/11/2017 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai.
  6. Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  7. Về hiệu lực của bản án: Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - VKSNDCC tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - Cục THADS tỉnh Đồng Nai;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VP (5), HS (2) (LTTH)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Phan Đức Phương

Các Thẩm phán

Mai Xuân Thành

 

Hà Huy Cầu

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa

Phan Đức Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 380/2024/HC-PT ngày 10/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai

  • Số bản án: 380/2024/HC-PT
  • Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 10/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hành chính
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hủy một phần bản án sơ thẩm và đình chỉ xét xử một phần, sửa một phần bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger