Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2024/HSPT

Ngày 31 tháng 5 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền.

Các Thẩm phán: Ông Phạm Ngọc Thành

Ông Vũ Duy Luân

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hòa - Thư ký TAND tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thuý Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số:54/2024/HSPT ngày 26 tháng 4 năm 2024 do có kháng cáo của bị cáo Bùi Văn T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số:39/2024/HS-ST ngày 20/3/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.

Bị cáo có kháng cáo: Bùi Văn T, sinh ngày 17/7/1964 tại Thái Bình

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình; Chỗ ở: Số nhà H, ngõ A, đường B, tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/10; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; giới tính: Nam; con ông Bùi Hữu S (ông S là Liệt sỹ hy sinh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước năm 1971) và bà Đỗ T1 (đã chết); có vợ (đã ly hôn) là Vi Thị T2,có 02 con, con lớn sinh năm 1986, con nhỏ sinh năm 1991.

Tiền án: Bản án số 168/2020/HSST ngày 09/12/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xử phạt Bùi Văn T 02 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày28/4/2023, chấp hành xong án phí hình sự ngày 02/3/2021.Tiền sự: không.

Nhân thân:- Bản án số 07/HSPT ngày 01/6/1998 của Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai, xử phạt Bùi Văn T 18 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích, chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/12/1999, chấp hành xong án phí hình sự, án phí dân sự ngày 21/7/1998. Đối với số tiền 30.000 đồng bồi thường cho anh Bùi Hồng Q, anh Q không yêu cầu bị can T phải bồi thường số tiền trên;

- Bản án số 40/HSST ngày 16/7/2002 của Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai, xử phạt Bùi Văn T 02 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/10/2004, chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 22/4/2003;

- Bản án số 35/2006/HSST ngày 24/11/2006 của Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai, xử phạt Bùi Văn T 02 năm tù về tội Trộm cắp tài sản. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 12/10/2008, chấp hành xong án phí hình sự, án phí dân sự ngày 23/9/2011. Ngoài ra bị can còn phải hoàn trả cho anh Trần Văn T3 số tiền 120.000 đồng, nhưng anh T3 không yêu cầu bị can T phải hoàn trả số tiền trên;

- Bản án số 04/2011/HSPT ngày 05/01/2011 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình, xử phạt Bùi Văn T 07 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/01/2017, chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 19/7/2011.

Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 19/12/2023 đến ngày 25/12/2023 sau đó chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T.

Bị cáo vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặttại phiên toà.

- Người chứng kiến:

  1. Anh Đặng Anh T4, sinh năm 1981; Địa chỉ: Số nhà C, khu C, tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình. (Vắng mặt).
  2. Anh Phạm Công T5, sinh năm 1981; Địa chỉ: Số nhà I, tổ H, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Bình. (Vắng mặt).
  3. Bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1955; Địa chỉ: Số nhà B, ngõ B, đường L, tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ ngày 19/12/2023, Bùi Văn T đi bộ từ chỗ ở tại số nhà H, ngõ A, tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình ra khu vực Bến xe khách T, thuộc phường T, thành phố T, gặp và mua 06 gói ma túy với giá 600.000 đồng của một người nam giới khoảng 40 tuổi, không biết tên, địa chỉ. Mua xong T về chỗ ở cất giấu 04 gói ma túy vào trong chiếc khăn màu nâu để trên mặt bàn trong phòng ngủ, còn lại 02 gói ma túy Thinh cất vào trong túi áo khoác ngoài bên trái của T rồi đi tìm chỗ sử dụng. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, khi T đi đến khu vực cổng chùa T7, thuộc tổ A, phường T,thành phố T thì bị tổ công tác của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh T phối hợp với Công an phường T, thành phố T phát hiện bắt quả tang. Tại đây, trước sự chứng kiến của anh Đặng Anh T4 và anh Phạm Công T5, T tự giác lấy từ túi áo khoác ngoài bên trái của T6 nh đang mặc ra giao nộp cho tổ công tác 02 gói được gói bằng giấy tráng kim màu bạc, bên trong đều chứa chất bột màu trắng dạng cục (niêm phong ký hiệu M1), T khai nhận đó là ma túy, loại Heroine của T cất giấu để sử dụng cho bản thân.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của T tại số nhà H, ngõ A, tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình, Thinh tự giác lấy từ trong chiếc khăn màu nâu để trên mặt bàn trong phòng ngủ của T ra giao nộp 04 gói được gói bằng giấy tráng kim màu bạc, bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng cục (niêm phong ký hiệu M2), T khai nhận đó là ma túy, loại Heroine của T cất giấu để sử dụng cho bản thân.

Bản kết luận giám định số 1837/KL- KTHS ngày 22/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: “Mẫu M1 gửi giám định là ma túy; loại Heroin (H); có khối lượng 0,2075 gam” (không phẩy hai nghìn không trăm bảy mươi lăm gam); “Mẫu M2 gửi giám định là ma túy; loại Heroin (H); có khối lượng 0,6040 gam" (không phẩy sáu nghìn không trăm bốn mươi gam).

Tại bản cáo trạng số 43/CT-VKSTPTB ngày 27/2/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình truy tố Bùi Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại bản án sơ thẩm số 39/2024/HSST ngày 20-3-2024 của Toà án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình quyết định:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  2. Về hình phạt: Áp dụngđiểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, x khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 47; Điều 50 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Bùi Văn T 02 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/12/2023.

Ngoài ra án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo.

Ngày 02 tháng 4 năm 2024bị cáo Bùi Văn T kháng cáo xin giảm hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáoBùi Văn Thinh vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặtnên xác định bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo,xin giảm hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 39/2024/HS-ST ngày 20/3/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình, bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo Bùi Văn T làm trong thời hạn luật định nên được xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về nội dung: Căn cứ vào lời khai của bị cáo và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà sơ thẩm, phúc thẩm, có đủ cơ sở kết luận:Khoảng 14 giờ ngày19/12/2023 tại khu vực cổng chùa T7, thuộc tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình, Bùi Văn T có hành vi tàng trữ trong người 0,2075 gam (không phẩy hai nghìn không trăm bảy mươi lăm gam) ma túy; loại Heroine và cất giấu tại nơi ở 0,6040 gam(không phẩy sáu nghìn không trăm bốn mươi gam) ma túy; loại Heroine để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm độc quyền quản lý chất gây nghiện của Nhà nước, làm gia tăng tệ nạn ma tuý trong cộng đồng. Bị cáo là người trưởng thành, đã nhiều lần bị kết án về ma tuý,nhận thức được tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi mà bị cáo thực hiện nhưng không chịu cải tạo, sửa chữa mà vẫn cố ý tàng trữ ma tuý để sử dụng, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Toà án nhân dân thành phố Thái Bình đã xét xử là đúng pháp luật.

[3] Xét kháng cáo xin giảm hình phạtcủa bị cáo thấy:Bị cáo có nhân thân xấu, từng nhiều lần bị kết án, thực hiện hành vi khi có 01 bản án chưa được xoá án tích thuộc trường hợp tái phạm nên phải chịu một tình tiết tăng nặngtrách nhiệm hình sự, bị cáođược hưởng hai tình tiết giảm nhẹ do thành khẩn khai báo, có bố đẻ là liệt sỹ. Toà án nhân dân thành phố Thái Bình đã áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, điểm x khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 47; Điều 50 Bộ luật Hình sự, xử bị cáo 02 năm 06 tháng tù là đã xem xét đầy đủ đến tính chất, mức độ hậu quả của hành vi phạm tôi, nhân thân, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ và hoàn cảnh của bị cáo. Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo không có thêm tình tiết giảm nhẹ nào khác, không phát sinh tình tiết mới làm thay đổi nội dung vụ án nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Do vậy, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.

[4] Về án phí: Do kháng cáo của bị cáo Bùi Văn Thinh k được chấp nhận nên bị cáophải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luậtkể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Văn T, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số:39/2024/HSST ngày 20-3-2024 của Toà án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, điểm x khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 47; Điều 50 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Bùi Văn T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/12/2023.

  1. Về án phí phúc thẩm: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 23Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Bùi Văn T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
  2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án 31 tháng 5 năm 2024.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - TAND thành phố Thái Bình
  • - Công an thành phố Thái Bình;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình
  • - Sở Tư pháp tỉnh Thái Bình;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thu Hiền

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Ngọc Thành

Nguyễn Thị Thu Hiền

Vũ Duy Luân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 38/2024/HSPT ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 38/2024/HSPT
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 31/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Văn Thinh
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger