Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG

TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2024/HS-ST

Ngày: 30/5/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lê Ngọc Duy Linh.
  • Các Hội thẩm nhân dân:
    • 1/ Ông Nguyễn Văn Tâm.
    • 2/ Ông Nguyễn Văn Cường.
  • Thư ký phiên toà: Ông La Tương Lai - Thư ký Toà án nhân dân huyện Gò Công Đông.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên toà: Ông Trịnh Thanh Dũ - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 23 và 30 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 36/TLST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:

Phạm Văn Lý H, sinh ngày 01 tháng 05 năm 2001; Căn cước công dân số: [...] cấp ngày 27 tháng 12 năm 2022, nơi cấp: Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; Nơi sinh: Tiền Giang; Nơi cư trú: Khu phố A, thị trấn V, huyện G, tỉnh Tiền Giang; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Phạm Văn B, sinh năm 1969 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1974; Vợ, con: Chưa có.

Tiền án: Không.

Tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 20/01/2024. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện G.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  • Ông Phạm Văn B, sinh năm 1969; Địa chỉ: Khu phố A, thị trấn V, huyện G, tỉnh Tiền Giang (Có mặt).
  • Anh Nguyễn Thanh T, sinh năm 1973; Địa chỉ: Ấp G, xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
  • Ông Huỳnh Văn D, sinh năm 1959; Địa chỉ: Khu phố A, thị trấn V, huyện G, tỉnh Tiền Giang (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

* Người làm chứng:

  • Anh Đặng Thanh V, sinh năm 1995; Địa chỉ: Ấp X, xã K, xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
  • Anh Huỳnh Thanh H1, sinh năm 2005; Địa chỉ: Ấp X, xã K, xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 15/01/2024, khi bị cáo H đang ở nhà thì nhận được tin nhắn của một người tên T1 (không biết rõ họ tên và địa chỉ cụ thể, chỉ biết nhà ở thị trấn V) nhờ bị cáo mua dùm 300.000 đồng ma túy đá. Sau đó, bị cáo nhắn tin qua ứng dụng Messenger với một người tên M nhà ở ấp X, xã K, huyện G, tỉnh Tiền Giang để hỏi mua ma túy đá, M đồng ý bán ma túy đá cho H. Bị cáo điều khiển xe mô tô hai bánh biển số 63B7-239.75 chạy đến nhà của M. Tại đây, M đưa cho bị cáo H một gói ny long có chứa ma túy đá, bị cáo cầm trên tay phải rồi hứa sẽ trả tiền sau. Bị cáo điều khiển xe mô tô chạy về, khi ra đến đầu đường đoạn đường giao nhau giữa đường tỉnh lộ 871 và đường trụ sở ấp X thì lực lượng Công an chặn dừng kiểm tra, phát hiện bị cáo H đang cầm gói ny long, có một đầu kéo viền màu đỏ, bên trong có chứa ma túy. Bị cáo H có chứng kiến lực lượng Công an thu giữ, niêm phong gói ma túy đá tang vật vào một bì thư, có ký tên xác nhận.

Vật chứng thu giữ gồm:

  • + 01 (một) gói ny long trong suốt có đầu kéo, một đầu viền màu đỏ (loại túi zíp) bên trong có chứa nhiều tinh thể rắn nghi là ma túy tổng hợp (ma túy đá) được niêm phong trong một bì thư có các chữ ký xác nhận;
  • + 01 (một) điện thoại di đông hiệu Realme, loại cảm ứng, có mặt lưng màu xanh, không kiểm tra chất lượng bên trong;
  • + 01 (một) nón vải lưỡi trai màu xanh, có thêu chữ “Saigoneco”;
  • + 01 (một) xe mô tô hai bánh biển số 63B7–239.75, nhãn hiệu Wave Alpha, màu bạc có số khung: RLHHC09023Y342536, số máy HC09EO342585;

Tại Kết luận giám định số: 09/KL-KTHS ngày 17/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Các mẫu tinh thể màu trắng gửi giám định là ma tuý, có khối lượng là 0,2472 gam, loại Methamphetamine.

Tại Cáo trạng số 37/CT-VKS.GCĐ ngày 24/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đ truy tố bị cáo Phạm Văn Lý H về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Phạm Văn Lý H khai nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông đã truy tố, không tranh luận với nội dung luận tội của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn B trình bày: Ông thống nhất với Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông đã truy tố, không tranh luận hay có ý kiến gì với nội dung luận tội của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang cũng như không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự. Ông xin được nhận lại 01 (một) xe mô tô hai bánh biển số 63B7 - 239.75, nhãn hiệu Wave Alpha, màu bạc có số khung: RLHHC09023Y342536, số máy HC09EO342585 mà Công an đã thu giữ vì đây là xe của ông mua, tại thời điểm bị cáo H lấy xe đi lấy ma túy thì ông không biết và bị cáo cũng không có hỏi ông để mượn mà do xe để ở nhà nên bị cáo tự ý lấy đi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm như đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:

  • + Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn Lý H phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” điểm c khoản 1 Điều 250 Bộ luật Hình sự.
  • + Về hình phạt:
    • Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 250; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình;
    • Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn Lý H từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Thời hạn tính từ ngày 20/01/2024.
  • + Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo Phạm Văn Lý H không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
  • * Về xử lý vật chứng:
    • Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
    • Tịch thu tiêu hủy đối với:
      • - 01 (một) bì thư được niêm phong ký hiệu vụ số: 09 ghi ngày 17 tháng 01 năm 2024; có các chữ ký in họ tên: Nguyễn Thị Kiều L (Giám định viên), Trần Thanh D1 (Trợ lý Giám định viên), chữ ký ghi họ tên: Võ Duy T2 (Bên nhận) và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ- CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG trên bì thư. Bên trong có 01 (một) gói nylong trong suốt được dán kín chứa 0,2240, loại Methamphetamine và 01 (một) vỏ gói ny long màu trắng, có viền màu đỏ một đầu (loại túi zip), đã bị cắt một đầu để lấy mẫu giám định;
      • - 01 (một) nón vải lưỡi trai màu xanh, có thêu chữ “Saigoneco";
    • Trả lại cho ông Phạm Văn B:
      • - 01 (một) xe mô tô hai bánh biển số 63B7 - 239.75, nhãn hiệu Wave Alpha, màu bạc có số khung: RLHHC09023Y342536, số máy HC09EO342585.
    • Trả lại cho ông Huỳnh Văn D:
      • - 01 (một) điện thoại di đông hiệu Realme, loại cảm ứng, có mặt lưng màu xanh, không kiểm tra chất lượng bên trong.
  • * Về án phí:
    • Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,
    • Buộc các bị cáo Phạm Văn Lý H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Phạm Văn Lý H nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về với gia đình để làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan điều tra, truy tố trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

[2]. Tại phiên tòa, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Thanh T, ông Huỳnh Văn D có đơn xin xét xử vắng mặt, người làm chứng anh Đặng Thanh V, anh Huỳnh Thanh H1 có đơn xin xét xử vắng mặt. Xét thấy, trong hồ sơ vụ án đã có lời khai của họ về những vấn đề liên quan. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử những người nêu trên cũng không có ý kiến, yêu cầu gì. Bị cáo Phạm Văn Lý H, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đ cũng không có ý kiến gì về việc vắng mặt của những người nêu trên và đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 292, khoản 1 Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[3]. Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo Phạm Văn Lý H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, kết luận giám định, biên bản hiện trường và những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ những tình tiết nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy: Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 15/01/2024, khi bị cáo đang ở nhà thì nhận được tin nhắn của một người tên T1 nhờ bị cáo mua dùm 300.000 đồng ma túy đá. Sau đó, bị cáo nhắn tin qua ứng dụng Messenger với một người tên M để hỏi mua ma túy đá, M đồng ý bán ma túy đá cho bị cáo. Bị cáo điều khiển xe mô tô hai bánh biển số 63B7-239.75 chạy đến nhà của M. Tại đây, M đưa cho bị cáo một gói ny long có chứa ma túy đá, bị cáo cầm trên tay phải rồi hứa sẽ trả tiền sau. Bị cáo điều khiển xe mô tô chạy về, khi ra đến đầu đường thì lực lượng Công an chặn dừng kiểm tra, phát hiện bị cáo đang cầm gói ny long, có một đầu kéo viền màu đỏ, bên trong có chứa ma túy, nên có đủ cơ sở xác định: Hành vi của bị cáo Phạm Văn Lý H thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 250 Bộ luật Hình sự.

Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang truy tố bị cáo với tội danh và điều luật nêu trên là có cơ sở, phù hợp với quy định pháp luật.

[4]. Xét tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của các bị cáo: Hội đồng xét xử nhận thấy hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý. Khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức rõ tác hại của ma tuý. Ma túy gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ, đời sống của con người, làm suy thoái nòi giống và là nguyên nhân gián tiếp gây ra các tệ nạn xã hội và các tội phạm khác nhưng bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Từ những phân tích nêu trên, cần phải áp dụng một hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ và hậu quả để đảm bảo tính răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung đối với các loại tội phạm về ma túy.

[5]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Phạm Văn Lý H không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
  • - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Phạm Văn Lý H thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, do đó Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[6]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 250 Bộ luật hình sự, “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản” xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt này đối với các bị cáo.

[7]. Về trách nhiệm dân sự:

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn B, anh Nguyễn Thanh T, ông Huỳnh Văn D trong quá trình điều tra, truy tố, xét xủa cũng không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

[8]. Về xử lý vật chứng:

Đối với: 01 (một) bì thư được niêm phong ký hiệu vụ số: 09 ghi ngày 17 tháng 01 năm 2024; có các chữ ký in họ tên: Nguyễn Thị Kiều L (Giám định viên), Trần Thanh D1 (Trợ lý Giám định viên), chữ ký ghi họ tên: Võ Duy T2 (Bên nhận) và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ- CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG trên bì thư. Bên trong có 01 (một) gói nylong trong suốt được dán kín chứa 0,2240, loại Methamphetamine và 01 (một) vỏ gói ny long màu trắng, có viền màu đỏ một đầu (loại túi zip), đã bị cắt một đầu để lấy mẫu giám định;

Hội đồng xét xử, xét thấy đây là phương tiện, công cụ thực hiện hành vi phạm, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với: 01 (một) nón vải lưỡi trai màu xanh, có thêu chữ “Saigoneco";

Hội đồng xét xử, xét thấy tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, yêu cầu gì đối với nón vải nêu trên và nón vải nêu trên không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với: 01 (một) xe mô tô hai bánh biển số 63B7 – 239.75, nhãn hiệu Wave Alpha, màu bạc có số khung: RLHHC09023Y342536, số máy HC09EO342585.

Hội đồng xét xử, xét thấy theo hồ sơ thể hiện đây là phương tiện bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử có căn cứ để xác định đây là tài sản của ông Phạm Văn B, tại thời điểm bị cáo sử dụng xe mô tô nêu trên để thực hiện hành vi phạm tội thì ông Phạm Văn B không biết việc này, không biết bị cáo dùng vào việc thực hiện hành vi phạm tội và tại phiên tòa ông B có yêu cầu nhận lại tài sản nêu trên nên cần áp dụng quy định tại khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự trả lại cho ông Phạm Văn B.

Đối với: 01 (một) điện thoại di đông hiệu Realme, loại cảm ứng, có mặt lưng màu xanh, không kiểm tra chất lượng bên trong.

Hội đồng xét xử, xét thấy theo hồ sơ thể hiện đây là công cụ, phương tiện bị cáo dùng để liên lạc với đối tượng T1, đối tượng M để bị cáo thực hiện hành vi phạm tội. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử có căn cứ để xác định đây là tài sản của ông Huỳnh Văn D tại thời điểm bị cáo sử dụng điện thoại nêu trên để thực hiện hành vi phạm tội thì ông Huỳnh Văn D không biết việc này, không biết bị cáo dùng vào việc thực hiện hành vi phạm tội và ông D có đơn xin nhận lại tài sản nên cần áp dụng quy định tại khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự trả lại cho ông Huỳnh Văn D.

[9]. Về án phí: Bị cáo Phạm Văn Lý H phạm tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

[10]. Đối với người tên T1 (không rõ họ tên địa chỉ cụ thể) tại thị trấn V, huyện G đã nhờ bị cáo mua dùm ma túy, theo hồ sơ thể hiện Cơ quan cảnh sát điều tra đã tiến hành xác minh nhưng tại địa bàn thị trấn V, huyện G, tỉnh Tiền Giang không có ai tên T1 có biểu hiện nghi vấn sử dụng trái phép chất ma túy. Cơ quan cảnh sát điều tra khi xác minh làm việc được nếu có căn cứ sẽ xử lý sau.

Đối với người thanh niên M, theo hồ sơ thể hiện Cơ quan cảnh sát điều tra đã tiến hành xác minh, qua xác minh được biết họ tên cụ thể là Nguyễn Ngọc M1, sinh năm 2002 ngụ ấp X, xã K, huyện G, tỉnh Tiền Giang. Tuy nhiên, Cơ quan cảnh sát điều tra đã nhiều lần triệu tập để làm việc nhưng M1 không có mặt ở địa phương, đi đâu làm gì không rõ. Cơ quan cảnh sát điều tra sẽ tiếp tục xác minh, khi làm việc được nếu có căn cứ sẽ xử lý sau.

[11] Xét ý kiến đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đ phù hợp với quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Phạm Văn Lý H phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.

    Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 250; điểm 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;

    Xử phạt Phạm Văn Lý H 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/01/2024.

  2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm c khoản 1, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
    • Tịch thu, tiêu hủy đối với: 01 (một) bì thư được niêm phong ký hiệu vụ số: 09 ghi ngày 17 tháng 01 năm 2024; có các chữ ký in họ tên: Nguyễn Thị Kiều L (Giám định viên), Trần Thanh D1 (Trợ lý Giám định viên), chữ ký ghi họ tên: Võ Duy T2 (Bên nhận) và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ- CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG trên bì thư. Bên trong có 01 (một) gói nylong trong suốt được dán kín chứa 0,2240, loại Methamphetamine và 01 (một) vỏ gói ny long màu trắng, có viền màu đỏ một đầu (loại túi zip), đã bị cắt một đầu để lấy mẫu giám định;
    • - 01 (một) nón vải lưỡi trai màu xanh, có thêu chữ “Saigoneco”;
    • Trả lại cho ông Phạm Văn B: 01 (một) xe mô tô hai bánh biển số 63B7-239.75, nhãn hiệu Wave Alpha, màu bạc, số khung: RLHHC09023Y342536, số máy: HC09EO342585.
    • Trả lại cho ông Huỳnh Văn D: 01 (một) điện thoại di động hiệu Realme, loại cảm ứng, có mặt lưng màu xanh, không kiểm tra chất lượng bên trong.
    • (Theo biên bản giao, nhận vật chứng, tài liệu giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G và Chi cục thi hành án dân sự huyện Gò Công Đông)
  3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

    - Buộc các bị cáo Phạm Văn Lý H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tiền Giang;
  • - VKSND tỉnh Tiền Giang;
  • - VKSND huyện Gò Công Đông;
  • - Cơ quan CSĐT CA huyện Gò Công Đông;
  • - Chi cục THADS huyện Gò Công Đông;
  • - Sở tư pháp tỉnh Tiền Giang;
  • - Nhà tạm giữ CA huyện Gò Công Đông;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Ngọc Duy Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 38/2024/HS-ST ngày 30/05/2024 của Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang về vận chuyển trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 38/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vận chuyển trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ận chuyển trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger