|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÚI THÀNH TỈNH QUẢNG NAM |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 38/2024/HSST Ngày 29 – 5 – 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÚI THÀNH, TỈNH QUẢNG NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Công Thắng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Ngô Ánh Khôi
Ông Dương Minh Ngọc
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Tư Thình – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Phượng – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 29/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2024/QĐXXST – HS ngày 14 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên Nguyễn Tuy M, sinh ngày 20 tháng 06 năm 1989 tại huyện T, tỉnh Quảng Nam; Nơi cư trú: thôn V, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn T, sinh năm 1954 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1953; Vợ tên Trương Thị L, sinh năm 1991; Có 02 con, lớn nhất sinh năm 2016, nhỏ nhất sinh năm 2024; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Nguyễn Tuấn V, sinh năm 2002; (đã chết)
Đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Ngọc C, sinh năm 1974; vắng mặt
Bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1977; vắng mặt
Địa chỉ: thôn Đ, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam;
Bị đơn dân sự:
- Công ty cổ phần Ô; Địa chỉ: số A khu công nghiệp B, đường B, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai
Đại diện theo ủy quyền: Ông Huỳnh Tấn D, sinh năm 1989; Địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam; vắng mặt
Người làm chứng:
- Bà Lê Thùy Hồng T1, sinh năm 1989; Khối phố X, phường T, thành phố T, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt
- Ông Võ Tiến T2, sinh năm 1992; Địa chỉ: thôn Đ, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam; vắng mặt
1
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 13 giờ 40 phút ngày 31/8/2023, Nguyễn Tuy M - nhân viên Công ty TNHH V1, có giấy phép lái xe ô tô hạng E theo quy định, điều khiển xe ô tô con nhãn hiệu Mazda, số loại CX5 màu trắng, BKS: 60A-85.454 loại xe 5 chỗ (do Công ty CP Ô có địa chỉ tại số A KCN BH B, đường B, A, B, Đồng Nai đứng tên sở hữu) chở bà Lê Thùy Hồng T1 (sinh năm 1989, trú khối phố X, phường T, thành phố T) lưu hành trên tuyến đường dẫn lên cao tốc Đà Nẵng - Quảng Ngãi, hướng từ cao tốc đi QL 1A (không xác định tốc độ là bao nhiêu) ở làn đường giành cho xe ô tô nơi có biển báo cấm xe 2 và 3 bánh và biển hạn chế tốc độ 60km/h. Trên tuyến đường M đang lưu hành, ở phía bên phải đường có một làn đường giành cho xe mô tô và xe thô sơ, nơi có cắm biển báo cấm xe ô tô và biển hạn chế tốc độ 40km/h. Ở giữa hai làn đường này có dải phân cách cố định bằng vệt hành lang cây xanh rộng 2,0m, có xây bó vỉa, có cắm các biển giao nhau với đường không ưu tiên và biển giao nhau với đường người đi bộ cắt ngang.
Khi gần tới cổng Công ty T3 thuộc thôn P, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam, Nguyễn Tuy M bật tín hiệu xi nhan bên phải (nhưng không giảm tốc độ) và quan sát gương chiếu hậu phía sau (nhưng không quan sát hết phương tiện lưu thông trên làn đường giành cho xe mô tô và xe thô sơ bên phải do bị hàng cây xanh trên con lươn phân cách hai làn đường che khuất nên không thấy bị hại) rồi cho xe rẽ phải vào cổng Công ty T3. Cùng lúc này, ở làn đường bên phải giành cho xe mô tô và xe thô sơ, (cùng hướng xe của M đang lưu hành) Nguyễn Tuấn V (sinh năm 2002, trú Đ - T - N - Quảng Nam) điều khiển xe mô tô BKS: 92N1-61.263 chạy đến. Khi phát hiện xe ô tô của M, Vũ giậm thắng xe đồng thời đánh lái sang phải để tránh nhưng không kịp nên đã tông vào cửa sau bên phải xe ô tô do M điều khiển. Hậu quả, Nguyễn Tuấn V và xe ngã ra đường. V được đưa đi cấp cứu tại bệnh viện sau đó tử vong.
Tại Bản kết luận giám định số: 214/KL-KTHS (PY) ngày 29/9/2023 cà Công văn số 272/PC09 ngày 18/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận: căn cứ kết quả giám định pháp y tử thi ngày 29/9/2023 của Phòng K và ghi nhận trong “bản tóm tắt hồ sơ bệnh án” của Bệnh viện Đ nhận định: ông Nguyễn Tuấn V chết là do chấn thương sọ não.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 47/2023/KLGTS ngày 29/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện N kết luận: xe mô tô BKS: 92N1-612.63, hiệu Honda, số loại Vario, màu xanh đen, giá trị thiệt hại 13.615.000 đồng. Xe ô tô BKS: 60A-854.54, hiệu M1, loại ô tô con màu trắng, số loại CX5, giá trị thiệt hại 7.270.560 đồng.
Tại bản Cáo trạng số 32/CT-VKS-NT ngày 19/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Núi Thành truy tố bị cáo Nguyễn Tuy M về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Núi Thành vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a
2
khoản 1 Điều 260, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 12 tháng đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng.
Về vật chứng: Đề nghị trả lại cho bị cáo 01 Giấy phép lái xe ô tô hạng E mang tên Nguyễn Tuy M do Sở Giao thông vận tải tỉnh Q cấp ngày 19/5/2023, giá trị đến ngày 19/5/2028.
Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị hại, nguyên đơn dân sự có đơn bãi nại phần dân sự và xin miễn trách nhiệm hình sự đối với bị cáo nên không đề cập giải quyết.
Tại phiên tòa và lời nói sau cùng, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, xin được hưởng án treo để có điều kiện nuôi con nhỏ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội và tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của đại diện hợp pháp cho bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng công khai tại phiên toà. Hội đồng xét xử xác định: Vào lúc 13 giờ 45 phút ngày 31/8/2023, tại đoạn đường rẽ vào cổng Công ty T3 thuộc thôn P, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam, Nguyễn Tuy M, có giấy phép lái xe ô tô hạng E theo quy định, điều khiển xe ô tô con BKS: 60A-85.454 loại xe 5 chỗ, lưu hành trên tuyến đường dẫn lên cao tốc Đ - Quảng Ngãi, hướng từ cao tốc đi QL1A (không xác định tốc độ là bao nhiêu) ở làn đường giành cho xe ô tô nơi có biển báo cấm xe 2 và 3 bánh và biển hạn chế tốc độ 60km/h, trong khi chuyển hướng xe không giảm tốc độ và không chú ý quan sát, không thấy Nguyễn Tuấn V đang điều xe mô tô BKS: 92N1-61.263 lưu thông trên phần đường giành riêng cho xe mô tô và xe thô sơ nên gây ra tai nạn giao thông, hậu quả làm Nguyễn Tuấn V tử vong, xe ô tô bị thiệt hại 7.270.560 đồng và xe mô tô bị thiệt hại 13.615.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 như Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ của vụ án: Tội vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ trực tiếp xâm phạm đến an toàn công cộng, hoạt động bình thường của các phương tiện giao thông đường bộ, tính mạng, sức khoẻ, tài sản của công dân. Bị cáo M là người thành niên, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi đã gây ra. Bị cáo có bằng lái hạng E, đủ điều kiện để tham gia giao thông. Tuy nhiên khi chuyển hướng xe không giảm tốc độ và không
3
chú ý quan sát đã gây ra tai nạn làm chết người và thiệt hại tài sản. Vì vậy, cần phải có hình phạt tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội mới đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Xét thấy trong vụ án này bị hại cũng có một phần lỗi do không chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ, không giảm tốc độ đến mức không gây nguy hiểm khi có xe hoặc chướng ngại vật phía trước. Khi phát hiện có xe bị cáo chuyển hướng thì bị hại đã đạp phanh gấp và đánh lái sang phải để tránh nhưng không kịp nên đã tông vào cửa sau bên phải xe ô tô do bị cáo điều khiển và ngã xuống đường tử vong. Vì vậy cần xem xét lỗi trong vụ án này là lỗi hỗn hợp do bị cáo và bị hại cùng gây ra khi lượng hình;
[4] Xét nhân thân của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì thấy: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Đã bồi thường cho gia đình bị hại và được gia đình bị hại có đơn xin miễn giảm trách nhiệm hình sự; Bản thân bị cáo đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự; Bản thân bị cáo là lao động chính đang nuôi 02 con nhỏ, hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn; Bị hại cũng có một phần lỗi. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng điều 65 Bộ luật Hình sự, Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP và Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cho bị cáo được hưởng án treo để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật
Đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử phạt bị cáo 12 tháng đến 15 tháng tù cho hưởng án treo là phù hợp nên được chấp nhận.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo, bị đơn dân sự, nguyên đơn dân sự, đại diện hợp pháp của bị hại đã tự thoả thuận với nhau về việc bồi thường thiệt hại, không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[6] Đối với thiệt hại của xe ô tô BKS: 60A-85.454 đại diện Công ty cổ phần Ô không yêu cầu đền bù nên không xem xét;
[7] Về xử lý vật chứng: trả lại cho bị cáo 01 Giấy phép lái xe ô tô hạng E mang tên Nguyễn Tuy M do Sở Giao thông vận tải tỉnh Q cấp ngày 19/5/2023, giá trị đến ngày 19/5/2028;
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí;
4
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuy M phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”;
Xử phạt bị cáo: Nguyễn Tuy M 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 24 (hai mươi bốn) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì tòa án có thể quyết định người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp người được hưởng án treo phạm tội mới trong thời gian thử thách thì Tòa án quyết định hình phạt đối với tội mới và tổng hợp hình phạt tù của bản án trước theo quy định tại Điều 55, Điều 56 Bộ luật Hình sự. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án Hình sự.
2. Về xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo 01 Giấy phép lái xe ô tô hạng E mang tên Nguyễn Tuy M do Sở Giao thông vận tải tỉnh Q cấp ngày 19/5/2023, giá trị đến ngày 19/5/2028.
(Vật chứng chuyển từ Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện N đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Núi Thành theo quyết định chuyển vật chứng số 19/QĐ-VKS-NT ngày 19/4/2024).
3. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Tuy M phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Các đương sự vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết công khai để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Quảng Nam xét xử theo trình tự phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Công Thắng |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
5
|
Thành viên Hội đồng xét xử |
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa |
|
Dương Minh Ngọc Ngô Ánh Khôi |
Nguyễn Công Thắng |
6
7
Bản án số 38/2024/HSST ngày 29/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÚI THÀNH, TỈNH QUẢNG NAM về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 38/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÚI THÀNH, TỈNH QUẢNG NAM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Tuy M
