|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG TỈNH CAO BẰNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 38/2024/DS - ST
Ngày: 28/6/2024
V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Hoài Phương
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Long Văn Thanh
- Bà Nông Thị Duyên
- Thư ký phiên tòa: Ông Lục Đức Long - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng: Ông Đàm Thế Anh - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 24, 28 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng, xét xử công khai vụ án dân sự thụ lý số 04/2023/TLST-DS ngày 31 tháng 01 năm 2023 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 126/2024/QĐXXST-DS ngày 14 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 12/2024/QĐST-DS ngày 31 tháng 05 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Hoàng Quang V - sinh năm 1946; Địa chỉ: Tổ C, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; có mặt.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Luật sư Đinh Thị h – Văn phòng luật sư Đinh Thị H, Đoàn Luật sư tỉnh C; Địa chỉ: Số nhà G, tổ I, phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; có mặt.
- Bị đơn: Bà Trương Thị M - sinh năm 1959; Địa chỉ: Tổ C, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Lục Thị Đ - sinh năm 1963; Địa chỉ: Tổ C, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; có mặt.
- Ông Hoàng Quang T - sinh năm 1988; Địa chỉ: Tổ C, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; vắng mặt.
- Người làm chứng:
- Ông Hoàng Đức S; Địa chỉ: Số nhà C, tổ H, phường T, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; vắng mặt.
- Ông Trần Đình H1; Địa chỉ: Tổ C, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; vắng mặt.
- Ông Hoàng Ngọc Đ1; Địa chỉ: Tổ C, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; vắng mặt.
- Ông Trương Văn S1; Địa chỉ: Tổ C, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; vắng mặt.
- Ông Trương Văn S2; Địa chỉ: Tổ C, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Hoàng Quang V trình bày:
Ông Hoàng Quang V và bà Trương Thị M có mối quan hệ hàng xóm.
Về nguồn gốc thửa đất đang tranh chấp: Thửa đất đang tranh chấp có nguồn gốc do ông Hoàng Quang V nhận chuyển nhượng của ông Hoàng Hùng V1 theo Giấy nhượng lại nhà và đất (viết tay) lập ngày 02/01/1992, có xác nhận của Ủ ba nhân dân phường S, thành phố C. Sau khi nhận chuyển nhượng, ông V chưa làm thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Vị trí thửa đất ông V nhận chuyển nhượng với ông Hoàng Hùng V1 gần thửa đất mà gia đình ông đang ở và giáp với đất của bà Trương Thị M. Sau khi nhận chuyển nhượng ông V đã xây 1 đoạn tường làm ranh giới với đất của bà M nhưng không xây hết, phần còn lại có hàng cây làm ranh giới.
Đến năm 2020 phát sinh tranh chấp với bà Trương Thị M do bà M tự ý chặt tre trên đất của ông V. Do đó, ông V khởi kiện yêu cầu bà Trương Thị M phải tháo dỡ toàn bộ hàng rào tre và trả lại diện tích đất lấn chiếm khoảng 40m² cho ông.
Ngày 23/6/2024 ông Hoàng Quang V có đơn xin thay đổi và bổ sung đơn khởi kiện với nội dung: Sau khi tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ, xác định diện tích đất tranh chấp là 65,9m2. Do đó, ông yêu cầu bà M trả lại cho gia đình ông 65,9m2 đất và buộc bà M tháo dỡ toàn bộ hàng rào trên đất.
Tại bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Trương Thị M trình bày:
Bà M không nhất trí với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông V vì phần diện tích đất tranh chấp do bà Nông Thị C (đã chết năm 1983, là bà ngoại của bà M) khai phá từ năm 1957.
Bà C có 02 người con gồm bà Hồ Sủi H2 và bà Hồ Thị S3. Bà M là con của bà Hồ Thị S3 và ông Trương Phát D. Từ khi khai phá đất, bà C và bà H2 quản lý sử dụng. Sau khi bà C chết thì bà Hồ Sủi H2 thừa kế của bà C và tiếp tục quản lý sử dụng. Đến khoảng năm 2014 bà H2 chết.
Trong quán trình bà H2 quản lý sử dụng đất, bà H2 đã chuyển nhượng cho bà Mai một phần đất vào khoảng năm 2000, không biết bao nhiêu mét vuông, tuy nhiên mỗi lần địa chính đo đạc bà M đều chỉ được ranh giới. Việc chuyển nhượng có làm giấy tờ chuyển nhượng nhưng đã bị thất lạc vì quá lâu.
Tại thời điểm chuyển nhượng cho bà M, bà H2 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau khi chuyển nhượng đất cho bà M thì bà H2 chết và bà M không biết hiện nay ai đang giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà H2.
Đối với phần diện tích đất tranh chấp mà ông V yêu cầu bà M trả lại là đất do bà M quản lý, sử dụng, có nguồn gốc do bà M nhận chuyển nhượng với bà H2 từ năm 2000 và bà M đã quản lý, sử dụng từ đó cho đến nay. Bà M không lấn chiếm đất của ông V nên không nhất trí với yêu cầu khởi kiện của ông V.
Tại bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lục Thị Đ trình bày:
Bà là vợ của ông Hoàng Quang V. Năm 1992, chồng bà nhận chuyển nhượng với ông Hoàng Hùng V1 một thửa đất và hoa màu. Trên thửa đất đó còn có một căn nhà gỗ ba gian và một cái bếp, cạnh bếp là một cái giếng nước.
Lý do ông Hoàng Hùng V1 bán căn nhà và hoa màu vì khi đó ông V1 sắp nghỉ hưu nên chuyển đi nơi khác ở. Vì đất của ông H3 Hùng Văn giáp với đất của gia đình bà nên chồng bà đã mua lại và xây một chiếc kè đá lên để không lở đất xuống nhà ở của gia đình bà. Tôi được biết khi mua thì chồng bà và ông V1 đã lập giấy giao kèo về việc nhượng lại nhà và hoa màu vào ngày 02/01/1992. Giấy này chỉ có chồng bà và ông V1 ký tên. Trên giấy chuyển nhượng nhà và hoa màu đã ghi rất rõ các tài sản có trên đất khi ông V1 bán cho gia đình bà.
Kể từ khi mua nhà, đất và hoa màu với ông V1, gia đình bà luôn quản lý và sử dụng ổn định, không tranh chấp với ai. Căn nhà ba gian và căn nhà bếp do không có ai ở, mục nát nên gia đình bà đã dỡ đi làm củi.
Đối với bà Trương Thị M thì sau khi anh S không ở căn nhà giáp ranh với nhà bà nữa thì năm 2019 bà M mới dọn đến ở và tranh chấp mới bắt đầu xảy ra từ đó. Gia đình bà M đến ở và đã phá bức tường xây chắn đất của gia đình bà, chặt cây. Sau đó san gạt khoảng hơn 40m² đất của gia đình bà.
Bà đề nghị bà Trương Thị M phải trả lại diện tích đất tranh chấp cho gia đình bà.
Tại bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hoàng Quang T trình bày:
Ông là con trai ruột của ông Hoàng Quang V và bà Lục Thị Đ. Ông được biết vào năm 1992, ông Hoàng Quang V nhận chuyển nhượng với ông Hoàng Hùng V1 một mảnh đất. Phần diện tích đất đang tranh chấp thuộc mảnh đất mà ông V nhận chuyển nhượng với ông V1.
Lúc ông V nhận chuyển nhượng mảnh đất đó, ông đang còn nhỏ, không biết cụ thể giá tiền là bao nhiêu, diện tích là bao nhiêu mét vuông. Ông chỉ biết mảnh đất ông V nhận chuyển nhượng có một mặt lúc đó là giáp với nhà của bà H2, sau này thì thấy ông S về ở. Khi ông S về ở căn nhà hiện nay bà Trương Thị M đang ở thì gia đình ông và gia đình ông S cũng như gia đình bà H2 ở trước đây không xảy ra tranh chấp gì. Nhưng khi ông S dọn đi nơi khác ở thì ông thấy có bà Trương Thị M dọn đến ở. Từ khi bà M dọn đến ở, ông thấy bà M đã phá bức tường mà bố ông đã xây để chắn đất, còn căng dây lấn sang phần đất của gia đình ông dẫn đến hai gia đình đã cãi nhau. Kể từ khi bà M đến ở thì hai gia đình liên tục có sự cãi nhau.
Ông đề nghị tòa án xem xét buộc bà M phải trả lại phần diện tích đất tranh chấp cho bố mẹ ông.
Tại Biên bản xác minh ngày 30/01/2024, bà Hoàng Thị D1 - tổ trưởng tổ C, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng cho biết:
Từ năm 2010, bà chuyển đến tổ C, phường S, thành phố C sinh sống. Trong thời gian chuyển về đây sinh sống, bà vẫn công tác tại cơ quan nhà nước nên ít có thời gian nắm thông tin về đất đai hay tranh chấp xảy ra trên địa bàn tổ dân phố. Tới năm 2019, bà được nghỉ hưu theo chế độ. Năm 2022, bà được tổ dân phố tín nhiệm giao nhiệm vụ tổ trưởng tổ dân phố C, phường S, thành phố C. Về nguồn gốc đất tranh chấp giữa ông Hoàng Quang V và bà Trương Thị M bà không nắm được.
Tại Biên bản xác minh ngày 18/7/2023, ông Đặng Tuấn H4 – Công chức địa chính phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng cho biết:
Thửa đất số 33, tờ bản đồ số 38 (Bản đồ địa chính năm 2015) là loại đất: Trồng cây lâu năm, diện tích 72,5 m² mang tên Hoàng Quang V.
Thửa đất số 33 trước đây thuộc thửa đất số 11, tờ bản đồ số 05 (Bản đồ địa chính năm 1995) loại đất màu, diện tích 827m². Theo sổ mục kê năm 1995 mang tên Hoàng Văn V2.
Thửa đất số 38, tờ bản đồ số 38 (Bản đồ địa chính năm 2015) là loại đất ODT (đất ở đô thị), diện tích 184,6m² mang tên Trương Thị M. Theo bản đồ địa chính năm 1995, thửa đất số 38 trước đây là thửa đất nào Ủy ban nhân dân phường S xác định được.
Thửa đất số 33 của ông Hoàng Quang V và thửa đất số 38 của bà Trương Thị M đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chưa Ủy ban nhân dân phường S nắm được.
Tại công văn số 1298/BC-VPĐKĐĐCNTP ngày 16/10/2023, Văn phòng Đ2 chi nhánh thành phố C cho biết:
Theo hồ sơ địa chính năm 2015: Thửa đất số 38, tờ bản đồ 38 có địa chỉ tổ C, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng, tại sổ mục kê, bản đồ địa chính mang tên Trương Thị M.
Đối chiếu, lồng ghép bản đồ năm 1995 và bản đồ năm 2015: Thửa đất số 38, tờ bản đồ số 38 (theo bản đồ năm 2015) thuộc một phần thửa đất số 20, tờ bản đồ số 05 (F-(373-d-II)), sổ mục kê năm 1995 tên Hoàng Văn V3; và một phần thửa 21, tờ bản đồ số 05 (F-(373-d-II)), sổ mục kê năm 1995 tên Trần Thị M1.
Kiểm tra rà soát sổ địa chính, số cấp Giây chứng nhận qua các thời kỳ lưu trữ tại chi nhánh không thấy tên bà Hồ Sủi H2, ông Hoàng Văn V3, bà Trương Thị M.
Ngày 18/7/2023, Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng đã tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ đối với thửa đất số 33, tờ bản đồ số 38, địa chỉ: Tổ C, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng. Kết quả như sau:
Tại buổi xem xét, thẩm định tại chỗ nguyên đơn ông Hoàng Quang V đã xác định các điểm mốc giới của diện tích đất tranh chấp. Bị đơn bà Trương Thị M không nhất trí với vị trí đất tranh chấp mà ông V xác định và cho rằng diện tích đất tranh chấp ông V xác định thuộc quyền quản lý, sử dụng của bà M.
Vị trí đất tranh chấp thuộc thửa đất số 33, tờ bản đồ số 38, địa chỉ: Tổ C, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng có tứ cận tiếp giáp:
- + Phía Bắc giáp đường bê tông.
- + Phía Nam giáp đất của ông Trương Văn S1 và đất của ông Trương Văn S2.
- + Phía Đông giáp đường bê tông.
- + Phía Tây giáp đất của bà Trương Thị M.
Tài sản trên phần đất tranh chấp gồm có một số cây: mác mật, đu đủ, chanh, ổi và một số cây rau màu; Hàng rào tre: cao trung bình 1,4 mét.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn vẫn bảo lưu ý kiến. Ông V và bà Đ đều xác nhận diện tích đất ông V nhận chuyển nhượng với ông Hoàng Hùng V1 thuộc quyền quản lý sử dụng chung của vợ chồng ông bà.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đúng quy định của pháp luật, việc chấp hành pháp luật của đương sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án không có gì sai phạm.
Quan điểm về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 203 Luật đất đai năm 2013; Các Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 157, 228, 266, 267, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 166 Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của UBTVQH, xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bị đơn trả lại diện tích đất 65,9 m2 đã lấn chiếm của gia đình ông V và tháo dỡ hàng rào trên diện tích đất của gia đình ông V.
Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Về chi phí tố tụng: Buộc bị đơn phải chịu toàn bộ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng khác Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Tại thời điểm nguyên đơn khởi kiện, diện tích đất có tranh chấp thuộc tổ C, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng. Do đó, theo quy định tại khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.
Bà Trương Thị M đã được Tòa án tiệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà M.
[2] Về nội dung
[2.1] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà ông Hoàng Quang V cho biết thửa đất tranh chấp trước đây thuộc quyền quản lý sử dụng của ông Nông Văn T1, công nhân xí nghiệp ô tô Cao Bằng. Năm 1980 ông T1 chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị Y (mẹ vợ của ông Hoàng Hùng V1). Đến năm 1990 bà Nguyễn Thị Y chuyển nhượng cho ông Hoàng Hùng V1 và bà Nông Thị L. Năm 1992 ông Hoàng Hùng V1 có ý định chuyển đi nơi khác sinh sống nên đã chuyển nhượng lại cho ông Hoàng Quang V. Mặc dù trong giấy chuyển nhượng của ông Hoàng Hùng V1 cho ông Hoàng Quang V không thể hiện tứ cận tiếp giáp nhưng trong giấy chuyển nhượng của bà Y cho ông V1 và bà L có thể hiện thửa đất chuyển nhượng “giáp đất bà H2”. Sau khi nhận chuyển nhượng ông V đã quản lý sử dụng thửa đất này từ năm 1992 đến năm 2020 mới phát sinh tranh chấp với bà M.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xác minh với ông Trần Đình H1 là người ký tên trong Giấy nhượng lại nhà và hoa màu lập ngày 02/01/1992 giữa ông Hoàng Hùng V1 và ông Hoàng Quang V với tư cách “Người làm chứng”, ông H1 xác nhận thửa đất đang có tranh chấp trước đây là của ông Nông Văn L1, có vợ là bà Y, hiện nay ông L1, bà Y đã chết, các con đã chuyển đi nơi khác sinh sống, không còn ở Cao Bằng. Ông L1, bà Y có con rể là Hoàng Hùng V1. Năm 1992, ông V1 đại diên cho nhà ông Lưu chuyển n toàn bộ đất cho ông Hoàng Quang V. Ông Hoàng Đức S (là con trai của ông Nông Văn V4, trước đây ở nhờ trên đất bà H2) cho biết: Mảnh đất của ông V có một mặt giáp với đầu hồi nhà ông ngày xưa mà hiện đang có tranh chấp với bà M. Ngày xưa khi ông còn sống ở đó ông thấy có một hàng rào tre ngăn cách giữa hai mảnh đất của bà H2 và ông Thái L2 (mà hiện nay ông V đang sử dụng).
Lời khai của ông V về nguồn gốc thửa đất tranh chấp và quá trình quản lý sử dụng sau khi nhận chuyển nhượng phù hợp với nội dung của Giấy nhượng lại nhà và hoa màu lập ngày 02/01/1992, lời khai của người làm chứng Trần Đình H1, Hoàng Đức S và phù hợp với kết quả xác minh của Tòa án với Ủy ban nhân dân phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng về tên người sử dụng thửa đất tranh chấp theo sổ mục kê năm 1995 và sổ mục kê năm 2015 đều là Hoàng Quang V.
Bà Trương Thị M không nhất trí với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì bà cho rằng phần diện tích đất tranh chấp có nguồn gốc là của bà Trương Thị M nhận chuyển nhượng với bà Hồ Sủi H2. Tại thời điểm chuyển nhượng, bà H2 đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau khi nhận chuyển nhượng phần đất từ bà H2, bà M chưa làm thủ tục đất đai mang tên bà M. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án bà Trương Thị M không cung cấp được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Hồ Sủi H2 và các giấy tờ khác chứng minh quyền quản lý, sử dụng của bà M đối với phần diện tích đất tranh chấp. Quá trình giải quyết vụ án, bà M cũng chỉ đến Tòa án tham gia hòa giải 02 lần, những lần sau Tòa án có giấy triệu tập đến làm việc bà M đều từ chối nhận văn bản tố tụng. Do đó, Tòa án phải tiến hành thủ tục niêm yết văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật.
Từ các phân tích nêu trên thấy rằng yêu cầu khởi kiện của ông Hoàng Quang V về việc: Yêu cầu bà Trương Thị M trả lại diện tích đất đang tranh chấp là 65,9m² có địa chỉ tại tổ C, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng có căn cứ để chấp nhận.
[2.2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn tháo dỡ hàng rào trên đất
Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc đòi lại quyền sử dụng đất được chấp nhận nên cần buộc bị đơn phải tháo dỡ hàng rào tre cao trung bình 1,4 mét trên phần đất tranh chấp.
[2.3] Đối với người chuyển nhượng đất cho ông Hoàng Quang V
Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã yêu cầu ông V cung cấp địa chỉ của gia đình ông Hoàng Hùng V1 nhưng ông V không cung cấp được do việc chuyển nhượng diễn ra đã quá lâu. Tòa án cũng cũng đã tiến hành xác minh địa chỉ của ông Hoàng Hùng V1 nhưng do gia đình ông V1 chuyển đi nơi khác từ lâu nên hiện nay đang ở đâu không ai biết, do đó, Toà án không thể triệu tập ông Hoàng Hùng V1 tham gia tố tụng trong vụ án này, trường hợp sau này giữa gia đình ông V1 và ông V phát sinh tranh chấp sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác.
[3] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ
Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 5.027.000 đồng (trong đó 2.627.000 đồng là chi phí cho đơn vị đo vẽ, 2.400.000 đồng là chi phí cho hội đồng xem xét thẩm định tại chỗ).
Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ. Xác nhận nguyên đơn đã nộp tạm ứng số tiền 5.027.000 đồng nên bị đơn phải trả lại cho nguyên đơn số tiền là 5.027.000 đồng.
[4] Về án phí:
Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
[5] Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; khoản 1 Điều 157; khoản 1 Điều 228; Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 26, Điều 100, Điều 166, Điều 203 Luật đất đai năm 2013;
- Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hoàng Quang V, buộc bị đơn bà Trương Thị M phải trả lại cho ông Hoàng Quang V và bà Lục Thị Đ diện tích đất tranh chấp là 65,9m2 thuộc một phần thửa đất số 33, tờ bản đồ số 38 (Bản đồ địa chính năm 2015) có địa chỉ tại tổ C, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng và tháo dỡ hàng rào tre cao trung bình 1,4 mét trên phần đất tranh chấp.
Diện tích 65,9m² có tứ cận tiếp giáp như sau:
- + Phía Bắc giáp đường bê tông.
- + Phía Nam giáp đất của ông Trương Văn S1 và đất của ông Trương Văn S2
- + Phía Đông giáp đường bê tông.
- + Phía Tây giáp đất của bà Trương Thị M.
(Có sơ đồ kèm theo)
Ông Hoàng Quang V và bà Lục Thị Đ có trách nhiệm liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về quản lý đất đai để hoàn thiện thủ tục đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ:
Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 5.027.000 đồng (năm triệu không trăm hai mươi bảy nghìn đồng).
Xác nhận nguyên đơn đã nộp tạm ứng số tiền 5.027.000 đồng (năm triệu không trăm hai mươi bảy nghìn đồng) nên bị đơn phải trả lại cho nguyên đơn số tiền là 5.027.000 đồng (năm triệu không trăm hai mươi bảy nghìn đồng).
Khi bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn thi hành án của người được thi hành án cho đến khi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Án phí: Bị đơn phải chịu số tiền án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) để sung công quỹ nhà nước.
Về quyền kháng cáo:
Án xử công khai sơ thẩm. Các bên đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Các bên đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- - Tòa án tỉnh Cao Bằng;
- - Viện kiểm sát tỉnh Cao Bằng;
- - Viện kiểm sát TP Cao Bằng;
- - Thi hành án DS TP Cao Bằng;
- - Đương sự;
- - Lưu hồ sơ;
- - Lưu án văn.
|
TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Thị Hoài Phương |
Bản án số 38/2024/DS - ST ngày 28/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG, TỈNH CAO BẰNG về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 38/2024/DS - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG, TỈNH CAO BẰNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất Hoàng Quang V - Trương Thị M
