TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 38/2024/HS-ST Ngày 27 - 8 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Thành Đạt.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Kiêm Việt Hùng.
Ông Lê Văn Danh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nông Văn Nguyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Phúc - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 8 năm 2024, tại Phòng xử án, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 31/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 38/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:
Huỳnh Nhật Trường Q, sinh ngày 17-8-1997, tại tỉnh Long An; Nơi cư trú: Ấp D, xã T, huyện B, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ văn hoá: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Huỳnh Hoàng V, sinh năm 1976 và bà Lê Thị Ngọc H, sinh năm 1978; Vợ, con: Chưa có; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 18-11-2023, chuyển tạm giam cho đến nay.
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Bà Trần Thị Huyền T, sinh năm 1979. (Vắng mặt)
- Ông Huỳnh Nhựt X, sinh năm 1980. (Có mặt)
Cùng địa chỉ: Số C, khu phố C, thị trấn T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng, kinh tế, buôn lậu, môi trường Công an tỉnh S. Người đại diện: Ông Nguyễn Tấn V1, chức vụ: Trưởng phòng. (Vắng mặt)
- Người đại diện hợp pháp của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng, kinh tế, buôn lậu, môi trường Công an tỉnh S: Ông Hồng Thanh Vũ K, sinh
2
năm 1984. Địa chỉ: Số B, Ơ, đường số B, khu đô thị E, Khóm D, Phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (Có đơn xin vắng mặt)
- Bà Trần Thị Ngọc P, sinh năm 1980. Địa chỉ: Số D, Đường H, Khóm A, Phường A, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (Vắng mặt)
- Ông Hồ Quốc T1, sinh năm 1998. Địa chỉ: Số D, Đường H, Khóm A, Phường A, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 02 giờ ngày 18-11-2023, bị cáo Q điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 75E-001.68 đến khu vực thuộc huyện Đ, tỉnh Long An gặp người đàn ông (không rõ họ, tên, địa chỉ) mua 15.000 bao thuốc lá điếu nhập lậu (nhãn hiệu Jet 8.000 bao, nhãn hiệu Hero 5.000 bao, nhãn hiệu Scott 2.000 bao) với số tiền 259.700.000 đồng (nhãn hiệu Jet giá 18.700 đồng/bao, nhãn hiệu Hero giá 16.700 đồng/bao, nhãn hiệu Scott giá 13.300 đồng/bao). Bị cáo Q không có vốn nên việc thanh toán tiền mua thuốc lá điếu nhập lậu được người đàn ông trên cho nợ, sau khi bán được số thuốc lá điếu nhập lậu trên sẽ thanh toán. Sau khi mua được thuốc lá điếu nhập lậu, bị cáo Q điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 75E-001.68 về hướng thành phố S, tỉnh Sóc Trăng để bán cho một người phụ nữ (không rõ họ, tên, địa chỉ), đã liên lạc qua số điện thoại 0812.056.xxx với giá 267.200.000 đồng. Đến khoảng 05 giờ ngày 18-11-2023, khi bị cáo Q điều khiển xe lưu thông trên tuyến Quốc lộ A thuộc khu vực ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Sóc Trăng bị lực lượng Công an tỉnh S phối hợp với Công an huyện C yêu cầu dừng phương tiện kiểm tra, bị cáo Q không chấp hành, điều khiển xe tẩu thoát đã va chạm với xe ô tô biển kiểm soát 83C-090.99 do ông Hồng Thanh Vũ K là Cán bộ Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng, kinh tế, buôn lậu, môi trường Công an tỉnh S điều khiển lưu thông cùng chiều phía sau. Sau đó, bị cáo Q tiếp tục điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 75E-001.68 đến khu vực thuộc ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng thì bị khống chế, kiểm tra phát hiện trên xe ô tô biển kiểm soát 75E-001.68 có 15.000 bao thuốc lá điếu nhập lậu (nhãn hiệu Jet 8.000 bao, nhãn hiệu Hero 5.000 bao, nhãn hiệu Scott 2.000 bao) để trong các bọc nylon không màu trong suốt nên đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ các tang vật có liên quan.
- Tại Bản kết luận định giá tài sản số 12/KL-HĐĐG ngày 15-3-2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân huyện C kết luận: Tại thời điểm ngày 18-11-2023 tổng giá trị thiệt hại của xe ô tô nhãn hiệu Suzuki, biển kiểm soát 75E-001.68 là 14.087.500 đồng.
- Tại Bản kết luận định giá tài sản số 13/KL-HĐĐG ngày 28-3-2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân huyện C kết luận: Tại thời điểm ngày 18-11-2023 tổng giá trị thiệt hại của xe ô tô nhãn hiệu Ford, biển kiểm soát 83C-090.99 là 19.593.560 đồng.
3
Về vật chứng của vụ án: Cơ quan điều tra Công an huyện C quyết định tạm giữ của bị cáo Q 15.000 (mười lăm ngàn) bao thuốc lá điếu nhập lậu (nhãn hiệu Jet 8.000 bao, nhãn hiệu Hero 5.000 bao, nhãn hiệu Scott 2.000 bao); 30 (ba mươi) bao nylon không màu trong suốt, đã qua sử dụng; 01 (một) bao nylon màu đen, đã qua sử dụng; 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu Suzuki, số loại XL7GLXAT, màu đen, biển kiểm soát 75E-001.68, số máy K15BT1279170, số khung MHYANC22SMJ913428; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu tím, số IMEI 1 353902104840285, số IMEI 2 353902104846282, có sim số 0337.703.303; 01 (một) hợp đồng thuê xe ngày 09-8-2023; 01 (một) lệnh vận chuyển hợp tác xã D1 số 211104/LVC01; 01 (một) giấy chứng nhận bảo hiểm xe ô tô số AD2310241754; 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định số EA 2263560; 01 (một) giấy chứng nhận thế chấp số 1704342 của Ngân hàng TMCP V2 (V3) - Chi nhánh Thành phố H; 01 (một) quyển hợp đồng vận chuyển hành khách bằng ô tô của hợp tác xã D1 gồm 19 tờ hợp đồng (liên 1, liên 2); 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 75007189 tên Trần Thị Huyền T (bản photo).
Tại giai đoạn điều tra, Cơ quan điều tra Công an huyện C đã quyết định xử lý vật chứng: Trả lại cho bà Trần Thị Huyền T 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu Suzuki, số loại XL7GLXAT, màu đen, biển kiểm soát 75E-001.68, số máy K15BT1279170, số khung MHYANC22SMJ913428; 01 (một) lệnh vận chuyển hợp tác xã D1 số 211104/LVC01; 01 (một) giấy chứng nhận bảo hiểm xe ô tô số AD2310241754; 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định số EA 2263560; 01 (một) giấy chứng nhận thế chấp số 1704342 của Ngân hàng TMCP V2 (V3) - Chi nhánh Thành phố H; 01 (một) quyển hợp đồng vận chuyển hành khách bằng ô tô của hợp tác xã D1 gồm 19 tờ hợp đồng (liên 1, liên 2); tiếp tục tạm giữ các vật chứng còn lại để xử lý theo quy định của pháp luật, riêng 01 (một) hợp đồng thuê xe ngày 09-8-2023, 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 75007189 tên Trần Thị Huyền T (bản photo) lưu theo hồ sơ vụ án.
- Về trách nhiệm dân sự: Bà Trần Thị Huyền T, ông Huỳnh Nhựt X yêu cầu bị cáo Q bồi thường thiệt hại về tài sản số tiền 14.087.500 đồng và yêu cầu bị cáo Q trả tiền thuê xe 03 tháng, mỗi tháng 14.000.000 đồng, với số tiền 42.000.000 đồng; Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng, kinh tế, buôn lậu, môi trường Công an tỉnh S yêu cầu bị cáo Q bồi thường thiệt hại về tài sản số tiền 19.593.560 đồng.
- Tại Cáo trạng số: 34/CT-VKS-CT ngày 26-6-2024 Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành truy tố bị cáo Q tội “Buôn bán hàng cấm” quy định tại điểm b Khoản 3 Điều 190 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Tại phiên tòa sơ thẩm:
Kiểm sát viên giữ nguyên Cáo trạng truy tố bị cáo Q và đề nghị:
Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Q phạm tội “Buôn bán hàng cấm”. Áp dụng điểm b Khoản 3 Điều 190, điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Q từ 09 (chín) năm tù đến 10 (mười) năm tù.
4
Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Q về việc bồi thường thiệt hại về tài sản cho ông X, bà T số tiền 14.087.500 đồng; bồi thường thiệt hại về tài sản cho Phòng Cảnh sát điều tra về tội phạm tham nhũng, kinh tế, buôn lậu, môi trường Công an tỉnh S số tiền 19.593.560 đồng; ông X, bà T yêu cầu bị cáo Q trả tiền thuê xe 03 tháng, mỗi tháng 14.000.000 đồng, với số tiền 42.000.000 đồng là giao dịch trước khi xảy ra vụ án, trách nhiệm dân sự không phát sinh từ vụ án này nên không xem xét giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a, c Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy 15.000 bao thuốc lá điếu nhập lậu (nhãn hiệu Jet 8.000 bao, nhãn hiệu Hero 5.000 bao, nhãn hiệu Scott 2.000 bao), 30 (ba mươi) bao nylon không màu trong suốt, đã qua sử dụng và 01 (một) bao nylon màu đen, đã qua sử dụng; Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu tím, số IMEI 1 353902104840285, số IMEI 2 353902104846282, có gắn sim 0337.703.303; Lưu theo hồ sơ vụ án 01 (một) hợp đồng thuê xe ngày 09-8-2023; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 75 007189 tên Trần Thị Huyền T (bản photo).
Bị cáo Q thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố; thống nhất Cáo trạng truy tố bị cáo tội “Buôn bán hàng cấm” quy định tại điểm b Khoản 3 Điều 190 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Trình bày tranh luận, bị cáo Q thống nhất với luận tội, đồng ý bồi thường thiệt hại về tài sản cho ông X, bà T số tiền 14.087.500 đồng, bồi thường thiệt hại về tài sản cho Phòng Cảnh sát điều tra về tội phạm tham nhũng, kinh tế, buôn lậu, môi trường Công an tỉnh S số tiền 19.593.560 đồng. Lời nói sau cùng, bị cáo Q thấy hối hận, xin giảm nhẹ hình phạt để sớm về với gia đình.
Ông X yêu cầu bị cáo Q bồi thường thiệt hại về tài sản số tiền 14.087.500 đồng, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Q và không yêu cầu bị cáo Q bồi thường tiền thuê xe 03 tháng, mỗi tháng 14.000.000 đồng, với số tiền 42.000.000 đồng.
Phòng Cảnh sát điều tra về tội phạm tham nhũng, kinh tế, buôn lậu, môi trường Công an tỉnh S yêu cầu bị cáo Q bồi thường thiệt hại về tài sản số tiền 19.593.560 đồng, xử phạt bị cáo Q theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra, truy tố, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm những người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại nên các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên đều hợp pháp.
5
[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Trần Thị Huyền T, bà Trần Thị Ngọc P, ông Hồ Quốc T1, ông Hồng Thanh Vũ Kvắng mặt. Bị cáo Q yêu cầu tiếp tục xét xử. Ông X không có ý kiến. Kiểm sát viên đề nghị vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại Khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Hội đồng xét xử xét thấy, những người tham gia tố tụng này đã được triệu tập tham gia phiên tòa, vắng mặt không có lý do, riêng ông K có đơn xin vắng mặt và đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, việc họ vắng mặt không gây trở ngại đến việc xét xử vụ án. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử.
[3] Xét hành vi phạm tội của bị cáo Q, Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo Q thống nhất Cáo trạng truy tố bị cáo tội “Buôn bán hàng cấm” quy định tại điểm b Khoản 3 Điều 190 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là đúng hành vi phạm tội, không oan sai; thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố. Lời khai nhận tội này phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm; phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng; phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản kiểm đếm số lượng thuốc lá điếu nhập lậu, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ căn cứ để Hội đồng xét xử xác định:
[4] Vào khoảng 02 giờ ngày 18-11-2023, bị cáo Q đã mua 15.000 bao thuốc lá điếu nhập lậu (nhãn hiệu Jet 8.000 bao, mua với giá 18.700 đồng/bao; nhãn hiệu Hero 5.000 bao, mua với giá 16.700 đồng/bao; nhãn hiệu Scott 2.000 bao, mua với giá 13.300 đồng/bao) với số tiền 259.700.000 đồng của người đàn ông (không rõ họ, tên, địa chỉ) tại khu vực thuộc huyện Đ, tỉnh Long An rồi điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 75E-001.68 đến thành phố S, tỉnh Sóc Trăng bán số thuốc lá điếu nhập lậu này cho người phụ nữ (không rõ họ, tên, địa chỉ) với số tiền 267.200.000 đồng (mỗi bao thuốc lá điếu nhập lậu lời được 500 đồng), khi bị cáo Q điều khiển xe lưu thông trên tuyến Quốc lộ A thuộc khu vực ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Sóc Trăng bị lực lượng Công an tỉnh S phối hợp với Công an huyện C yêu cầu dừng phương tiện kiểm tra, bị cáo Q không chấp hành, điều khiển xe tẩu thoát, đã va chạm với xe ô tô biển kiểm soát 83C-090.99 do ông Hồng Thanh Vũ K là Cán bộ Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng, kinh tế, buôn lậu, môi trường Công an tỉnh S điều khiển lưu thông cùng chiều phía sau. Sau đó, bị cáo Q tiếp tục điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 75E-001.68 đến khu vực thuộc ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng thì bị khống chế, kiểm tra phát hiện trên xe ô tô biển kiểm soát 75E-001.68 có 15.000 bao thuốc lá điếu nhập lậu (nhãn hiệu Jet 8.000 bao, nhãn hiệu Hero 5.000 bao, nhãn hiệu Scott 2.000 bao) để trong các bọc nylon không màu trong suốt nên đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ các tang vật có liên quan.
[5] Tại Điều 190 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định:
“1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 232, 234, 244, 246, 248, 251, 253, 254, 304,
6
305, 306, 309 và 311 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 08 năm đến 15 năm:
a) Thuốc bảo vệ thực vật mà Nhà nước cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng 300 kilôgam trở lên hoặc 300 lít trở lên;
b) Thuốc lá điếu nhập lậu 4.500 bao trở lên;
c) ...".
[6] Đối chiếu với điều luật viện dẫn, Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo Q đã thành niên, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo Q nhận thức được hành vi buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu là vi phạm pháp luật. Thế nhưng, chỉ vì hám lợi mà bị cáo Q đã mua 15.000 bao thuốc lá điếu nhập lậu (nhãn hiệu Hero 5.000 bao, nhãn hiệu Jet 8.000 bao, nhãn hiện Scott 2.000 bao) với giá 259.700.000 đồng, điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 75E-001.68 đến thành phố S, tỉnh Sóc Trăng bán cho người phụ nữ (không rõ họ, tên, địa chỉ) với số tiền 267.200.000 đồng (mỗi bao thuốc lá điếu nhập lậu lời được 500 đồng) thì bị phát hiện, bắt quả tang cùng tang vật. Do đó, hành vi của bị cáo Q đủ yếu tố cấu thành tội “Buôn bán hàng cấm” tội phạm và hình phạt quy định tại điểm b Khoản 3 Điều 190 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[7] Như vậy, Cáo trạng truy tố bị cáo Q tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm b Khoản 3 Điều 190 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
[8] Hành vi buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu của bị cáo Q là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý hàng cấm nên cần quyết định hình phạt chính là tù có thời hạn để bị cáo có thời gian cải tạo, lao động, học tập trở thành công dân biết tôn trọng, chấp hành Hiến pháp và pháp luật.
[9] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo như sau: Bị cáo Q có nhân thân tốt, chưa có tiền án, chưa có tiền sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải; được người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án xin giảm nhẹ hình phạt; có thân nhân là người có công với cách mạng nên các bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt.
[10] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy, tại Khoản 4 Điều 190 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định: “4. Người
7
phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.” Theo quy định viện dẫn, bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm. Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo Q không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[11] Về xử lý vật chứng: Đối với 15.000 (mười lăm nghìn) bao thuốc lá điếu nhập lậu (nhãn hiệu Jet 8.000 bao, nhãn hiệu Hero 5.000 bao, nhãn hiệu Scott 2.000 bao), 30 (ba mươi) bao nylon không màu trong suốt, đã qua sử dụng và 01 (một) bao nylon màu đen, đã qua sử dụng là hàng cấm, vật không còn giá trị hoặc không sử dụng được nên tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu tím, số IMEI 1 353902104840285, số IMEI 2 353902104846282, có sim số 0337.703.303 là điện thoại bị cáo Q sử dụng làm phương tiện liên lạc để buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu, còn giá trị sử dụng nên tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước. Đối với 01 (một) hợp đồng thuê xe ngày 09-8-2023, 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 75 007189 tên Trần Thị Huyền T (bản photo) đã lưu theo hồ sơ vụ án nên tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án.
[12] Trong quá trình điều tra, bị cáo Q khai nhận, trong khoảng thời gian từ ngày 20-9-2023 đến ngày 17-11-2023, bị cáo đã mua thuốc lá điếu nhập lậu của người đàn ông (không rõ họ, tên, địa chỉ) ở khu vực thuộc huyện Đ, tỉnh Long An bán lại cho người phụ nữ (không rõ họ tên, địa chỉ) tại tỉnh Sóc Trăng nhưng không nhớ diễn biến, thời gian, số lượng, nhãn hiệu, thu lợi được số tiền khoảng 10.000.000 đồng và đồng ý giao nộp lại số tiền này để nộp vào ngân sách Nhà nước. Do không xác định được thời gian, diễn biến, số lượng, nhãn hiệu từng loại thuốc lá điếu nhập lậu bị cáo Q đã mua, đã bán lại, ngoài lời khai của bị cáo Q không còn chứng cứ nào khác để chứng minh nên không có căn cứ để xem xét xử lý. Đối với số tiền bị cáo Q đã thu lợi từ các lần buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu này bị cáo Q đồng ý giao nộp lại để nộp vào ngân sách Nhà nước nên cần buộc bị cáo Q nộp lại số tiền 10.000.000 đồng là tiền thu lợi bất chính để nộp vào ngân sách Nhà nước.
[13] Đối với người đàn ông bán thuốc lá cho bị cáo Q, người phụ nữ mua thuốc lá của bị cáo Q: Bị cáo Q khai nhận mua thuốc lá điếu nhập lậu của người đàn ông ở khu vực thuộc huyện Đ, tỉnh Long An để bán lại cho người phụ nữ có số điện thoại 0812.056.xxx. Quá trình điều tra, chưa xác định được nhân thân, lý lịch, địa chỉ của những người này nên chưa có căn cứ để xem xét xử lý. Đề nghị Cơ quan điều tra Công an huyện C, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tiếp tục xác minh nhân thân, lý lịch, hành vi của những người này để xử lý theo quy định pháp luật.
[14] Đối với bà Trần Thị Ngọc P: Bà Trần Thị Ngọc P là chủ sở hữu thuê bao di động số 0914454111 mà bị cáo Q liên lạc để buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu. Bà P khai nhận có đăng ký sử dụng số thuê bao trên từ năm 2018, do bị mất điện thoại kèm theo sim nên đã không còn sử dụng từ năm 2020 đến nay, bị cáo Q liên lạc buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu với ai bà P không biết, bà P không có liên lạc,
8
không có mua thuốc lá điếu nhập lậu của bị cáo Q nên không có căn cứ để xem xét xử lý.
[15] Đối với bà Hồ Thị D, ông Hồ Quốc T1: Bà Hồ Thị D là chủ sở hữu thuê bao di động số 0812.056.470, ông Hồ Quốc T1 là chủ tài khoản số 0321000648437 mà bị cáo Q liên lạc và nhận tiền chuyển khoản trong quá trình buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu. Tuy nhiên, những người này vắng mặt tại địa phương, không rõ đã đi đâu, làm gì, đang ở đâu, Cơ quan điều tra Công an huyện C chưa làm việc nên không có căn cứ để xem xét xử lý. Đề nghị Cơ quan điều tra Công an huyện C, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tiếp tục xác minh làm rõ nhân thân, lý lịch, hành vi của những người này để xử lý theo quy định pháp luật.
[16] Đối với bà Trần Thị Huyền T, ông Huỳnh Nhựt X: Ông X, bà T là vợ chồng và là chủ sở hữu xe ô tô biển kiểm soát 75E-001.68 là phương tiện bị cáo Q sử dụng làm phương tiện buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu. Bà T và bị cáo Q có hợp đồng thuê xe, bị cáo Q sử dụng xe ô tô này làm phương tiện buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu ông X, bà T không biết nên không có căn cứ để xem xét xử lý.
[17] Kiểm sát viên đề nghị áp dụng pháp luật về tội danh, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức hình phạt, trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng là có căn cứ chấp nhận.
[18] Bị cáo Q là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
[19] Bị cáo, đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điểm b Khoản 3 Điều 190, điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), điểm a, c Khoản 2 Điều 106, Khoản 2 Điều 136, Khoản 1 Điều 292, Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
- Điều 584, 585 và 589 của Bộ luật dân sự năm 2015.
- Điểm a Khoản 1 Điều 23, Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Nhật Trường Q phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
Tuyên xử:
- Xử phạt bị cáo Huỳnh Nhật Trường Q 09 (chín) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18-11-2023.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Huỳnh Nhật Trường Q.
9
- Về trách nhiệm dân sự:
- Buộc bị cáo Huỳnh Nhật Trường Q bồi thường thiệt hại về tài sản cho ông Huỳnh Nhựt X, bà Trần Thị Huyền T số tiền 14.087.500 đồng.
- Ông Huỳnh Nhựt X, bà Trần Thị Huyền T không yêu cầu bị cáo Huỳnh Nhật T2 Quân bồi thường tiền thuê xe 03 tháng, mỗi tháng 14.000.000 đồng, với số tiền 42.000.000 đồng trong vụ án này nên không xem xét giải quyết.
- Buộc bị cáo Huỳnh Nhật Trường Q bồi thường thiệt hại về tài sản cho Phòng Cảnh sát điều tra về tội phạm tham nhũng, kinh tế, buôn lậu, môi trường Công an tỉnh S số tiền 19.593.560 đồng.
- Buộc bị cáo Huỳnh Nhật T2 Q giao nộp lại số tiền 10.000.000 đồng là tiền thu lợi bất chính để nộp vào ngân sách Nhà nước.
- Xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy: 15.000 (mười lăm nghìn) bao thuốc lá điếu nhập lậu (nhãn hiệu Jet 8.000 bao, nhãn hiệu Hero 5.000 bao, nhãn hiệu Scott 2.000 bao); 30 (ba mươi) bao nylon không màu trong suốt, đã qua sử dụng; 01 (một) bao nylon màu đen, đã qua sử dụng.
- Tịch thu nộp vào Ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu tím, số IMEI 1 353902104840285, số IMEI 2 353902104846282, có sim số 0337.703.303.
- Tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án: 01 (một) hợp đồng thuê xe ngày 09-8-2023; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 75 007189 tên Trần Thị Huyền T (bản photo).
- Về án phí sơ thẩm: Bị cáo Huỳnh Nhật Trường Q phải chịu án phí hình sự sơ thẩm số tiền 200.000 đồng và án phí dân sự sơ thẩm số tiền tính tròn số là 1.685.000 đồng.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cao Thành Đạt |
Bản án số 38/2024/HS-ST ngày 27/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH SÓC TRĂNG về hình sự sơ thẩm: buôn bán hàng cấm
- Số bản án: 38/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm: Buôn bán hàng cấm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Nhật Trường Quân phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
