|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC TỈNH NAM ĐỊNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 38/2024/HS-ST
Ngày 27- 5- 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thịnh.
Các hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Hùng
Ông Nguyễn Văn Hà
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Hồng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định .
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Là - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định, xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 31/2024/HSST ngày 25 tháng 4 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án xét xử số 35/2024/QĐXXST – HS ngày 14 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn C, sinh năm 1980; giới tính: Nam; Nơi thường trú: Thôn B, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định; nơi ở hiện nay: tổ A, phường B, thành phố T, tỉnh Ninh Bình; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Đảng phái: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; bố đẻ: Nguyễn Minh T, sinh năm 1939 (đã chết); mẹ đẻ: Nguyễn Thị C1, sinh năm 1939, hiện đang sinh sống ở tổ A, phường B, thành phố T, tỉnh Ninh Bình; vợ: Phạm Thị L, sinh năm 1982; hiện đang ở thôn B, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định; con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2002, con nhỏ sinh năm 2014;
- Tiền án: Không
- Tiền sự: Ngày 04/3/2024, bị Công an phường B, thành phố T, tỉnh Ninh Bình xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Nguyễn Văn C chưa nộp tiền phạt.
- Nhân thân:
+ Ngày 25/9/1999, bị Tòa án nhân dân thị xã Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình xử 12 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 155 Bộ luật hình sự năm 1985. Bị cáo đã chấp hành xong.
+ Ngày 14/12/2009, bị Ủy ban nhân dân thị xã T, tỉnh Ninh Bình ra Quyết định đưa người nghiện ma tuý vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc trong thời hạn 24 tháng.
- Bị cáo Nguyễn Văn C bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/3/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện N.
Bị cáo Nguyễn Văn C có mặt tại phiên Tòa
- Bị hại: Anh Trần Văn L1, sinh năm 1975; Trú tại: Thôn B, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định (vắng mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 05 giờ 30 phút, ngày 01/3/2024, Nguyễn Văn C điều khiển xe mô tô nhãn hiệu PIAGGIO màu trắng, biển số 29V5-010.89, đi xung quanh khu vực trục đường thôn B, xã N, huyện N với mục đích thấy nhà dân nào sơ hở thì trộm cắp tài sản. Khi đi qua khu vực nhà anh Trần Văn L1, quan sát thấy có 59 chiếc xoong nhôm mới gồm 19 chiếc đường kính 26 cm; 20 chiếc đường kính 28 cm; 20 chiếc đường kính 30 cm ở trong bao để trong lán, đối diện nhà anh L1 không có người trông coi. C dựng xe, lén lút đến bê 59 chiếc xoong nhôm ở trong bao để lên xe mô tô rồi chở xuống nhà anh Đinh Văn K, sinh năm 1981, ở thôn H C, xã L, huyện T, tỉnh Nam Định. Tại đây, C nói 59 chiếc xoong nhôm trên là của nhà C muốn bán và bán cho anh K với giá 1.485.000đ rồi sử dụng số tiền đó vào việc chi tiêu cá nhân.
Đến khoảng 12 giờ 30 phút, ngày 03/3/2024, Nguyễn Văn C tiếp tục điều khiển xe mô tô nhãn hiệu PIAGGIO màu trắng, biển số 29V5-010.89 đi xung quanh khu vực trục đường thôn B, xã N, huyện N với mục đích thấy nhà dân nào sơ hở thì trộm cắp tài sản. Khi C đi qua khu vực nhà anh Trần Văn L1, quan sát thấy có 100 chiếc mâm nhôm để bên vệ đường, đối diện nhà anh L1 không có người trông coi, C dựng xe, lén lút đến bê 100 chiếc mâm nhôm để lên xe mô tô. Sau đó C điều khiển xe chở 100 chiếc mâm nhôm xuống nhà bà Nguyễn Thị L2, sinh năm 1966, ở thôn P, xã L, huyện T, tỉnh Nam Định. Tại đây, C nói 100 chiếc mâm nhôm là của nhà C bị lỗi muốn bán và bán cho bà L2 với giá 1.800.000 đồng rồi sử dụng số tiền đó vào việc chi tiêu cá nhân.
Đến ngày 08/3/2024, nhận thấy hành vi trộm cắp tài sản của mình là vi phạm pháp luật nên Nguyễn Văn C đã đến Công an huyện N để đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Ngày 08/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã thu giữ: 01 xe mô tô nhãn hiệu PIAGGIO màu trắng, biển số 29V5-010.89 của Nguyễn Văn C và 100 chiếc mâm nhôm màu trắng, đường kính 53cm tại nhà bà Nguyễn Thị L2,
Ngày 10/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã thu 59 chiếc xoong nhôm mới gồm: 19 chiếc đường kính 26 cm; 20 chiếc đường kính 28 cm; 20 chiếc đường kính 30 cm thu tại nhà anh Đinh Văn K
Tại bản kết luận định giá tài sản số 08/KLĐG ngày 12/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện N kết luận: 19 chiếc xoong bằng nhôm mới, đường kính 26 cm có giá 874.000 đồng; 20 chiếc xoong bằng nhôm mới, đường kính 28 cm có giá 1.180.000 đồng; 20 chiếc xoong bằng nhôm mới, đường kính 30 cm có giá 1.500.000 đồng. Tổng cộng 3.554.000 đồng;
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 09/KLĐG ngày 12/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện N kết luận: 100 cái mâm bằng nhôm, mới, đường kính 53cm có giá 3.500.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là: 7.054.000 đồng.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N, Nguyễn Văn C đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã trả lại 59 chiếc xoong nhôm và 100 chiếc mâm nhôm có đặc điểm trên cho anh Trần Văn L1, anh L1 nhận lại tài sản, không có yêu cầu bồi thường và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Nguyễn Văn C.
Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện N đã trả lại 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu PIAGGIO, biển số 29V5-010.89 cho chủ sử hữu hợp pháp.
Gia đình bị cáo Nguyễn Văn C đã hoàn trả lại số tiền cho người mua tài sản trộm cắp của bị cáo C là anh Đinh Văn K số tiền là 1.485.000 đồng, bà Nguyễn Thị L2 số tiền là 1.800.000 đồng. Anh K và bà L2 đã nhận lại tiền và không có yêu cầu gì khác
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N, bị cáo Nguyễn Văn C đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Bị cáo Nguyễn Văn C bị Viện kiểm sát huyện N truy tố tại bản cáo trạng số 35/CT-VKS ngày 24 tháng 4 năm 2024 và tại phiên tòa đề nghị:
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “ Trộm cắp tài sản”, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo phải nộp án phí Hình sự theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Nguyễn Văn C nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Lời khai của bị cáo Nguyễn Văn C tại cơ quan CSĐT công an huyện N và tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, vật chứng của vụ án, bản kết luận định giá tài sản số 08/KLĐG ngày 12/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện N.
Như vậy đã có cơ sở xác định, bị cáo Nguyễn Văn C đã nén lút chiếm đoạt của gia đình anh Trần Văn L1, ngày 01/3/2024 là 59 chiếc xoong nhôm mới, có trị giá là 3.554.000 đồng và ngày 03/3/2024 là 100 chiếc mâm nhôm, có trị giá là 3.500.000 đồng. Tổng trị giá tài sản chiếm đoạt là 7.054.000 đồng.
[3] Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn C đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ Luật hình sự. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân, làm ảnh hưởng đến an toàn, trật tự trị an trong khu vực cũng như trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, giữ gìn kỷ cương, tăng cường pháp chế XHCN.
[4] Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng nhiệm hình sự.
Tại cơ quan CSĐT và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn C đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã tự nguyện ra đầu thú, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Nguyễn Văn C đã 02 lần thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của gia đình anh Trần Văn L1, mỗi lần đều trên 2.000.000 đồng, nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[5] Xét nhân thân, tính chất mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự, thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù tương xứng với hành vi của bị cáo đã thực hiện, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định, để cải tạo, rèn luyện bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không có yêu cầu bồi thường, khắc phục hậu quả gì khác nên không đặt ra xem xét giải quyết.
[7] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn C phải nộp án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 21 (hai mươi mốt) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 08/3/2024.
3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Văn C phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo bản án kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Văn Thịnh |
Bản án số 38/2024/HS-ST ngày 27/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC TỈNH NAM ĐỊNH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 38/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn C (Trộm cắp tài sản)
