Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN THỐT NỐT

TP. CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 26/8/2024

V/v “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT – TP CẦN THƠ

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Việt Thắng
  • - Các Hội thẩm nhân dân.
    1. Trần Thúy Kiên
    2. Thái Ánh Trinh
  • - Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Huỳnh Trung Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt – thành phố Cần Thơ.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt tham gia phiên tòa: Bà Phạm Ngọc Chi – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt - thành phố Cần Thơ, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 75/2024/TLST-HNGĐ, ngày 12 tháng 6 năm 2024, về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 84/2024/QĐXXST – HNGĐ ngày 19 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 96/2024/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự :

Nguyên đơn: Ông Trương Ngọc P - sinh năm 1983.

ĐKTT: Khu vực P, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.

Bị đơn: Bà Trần Thị Thùy T - sinh năm 1982.

ĐKTT: Khu vực P, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.

(Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ 02)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 22 tháng 3 năm 2024 và bản tự khai ngày 18 tháng 7 năm 2024, nguyên đơn ông Trương Ngọc P trình bày:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Ông Trương Ngọc P và bà Trần Thị Thùy T do mai mối rồi tiến tới hôn nhân năm 2002, có tổ chức lễ cưới, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T (cũ) nay là phường T, quận T, thành phố Cần Thơ vào ngày 16 tháng 8 năm 2007 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 194/KH/2007 quyển số 01. Quá trình chung sống hạnh phúc đến tháng 01/2023 âm lịch thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và sống ly thân đến nay. Ông P cho rằng bà T quen biết, nảy sinh tình cảm với người đàn ông khác trên mạng xã hội Facebook rồi tự bỏ nhà đi. Ông P có tìm gặp bà T để hàn gắn tình cảm tuy nhiên bà T không đồng ý và yêu cầu ông P ly hôn. Nhận thấy giữa vợ chồng không còn tình cảm nữa nên ông P xin ly hôn với bà T.
  • - Về con chung: Quá trình chung sống, ông, bà có 02 người con chung tên Trương Công M, sinh ngày 23/11/2003 và Trương Công M1, sinh ngày 15/01/2009. Hiện tại cháu M đã trưởng thành, có khả năng lao động tự nuôi sống bản thân nên ông P không yêu cầu giải quyết. Đối với cháu M1 hiện đang sống chung với ông P. Khi ly hôn ông P yêu cầu được nuôi dưỡng cháu M1 đến trưởng thành, không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con.
  • - Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt theo quy định Thông báo thụ lý, các thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho bà Trần Thị Thùy T, nhưng bà T vắng mặt không rõ lý do.

Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn ông Trương Ngọc P vắng mặt và có đơn yêu cầu được xét xử vắng mặt; bị đơn bà Trần Thị Thùy T vắng mặt lần thứ 02.

Đại viện Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Việc tuân thủ pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ về quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, riêng bị đơn không tuân thủ đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn do có cơ sở.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Hôn nhân giữa ông Trương Ngọc P và bà Trần Thị Thùy T là tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định nên được xem là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống xãy ra mâu thuẫn, ông P khởi kiện xin ly hôn với bà T, đây là quan hệ pháp luật về “Tranh chấp ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Qua xác minh tại địa phương thì bà T có đăng ký hộ khẩu thường trú tại khu vực P, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt theo điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về trình tự, thủ tục tố tụng: Quá trình nhận đơn khởi kiện, thụ lý giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập hợp lệ bà T đến Tòa án để giải quyết vụ án nhưng bà T đều vắng mặt, nên Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử. Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ 02, Hội đồng xét xử căn cứ theo điểm a, b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp.

[3] Xét yêu cầu ly hôn của nguyên đơn: Ông P cho rằng trong thời gian vợ chồng chung sống thì bà T phát sinh tình cảm và bỏ nhà đi theo người đàn ông khác. Ông P có tìm gặp bà T để hàn gắn tình cảm tuy nhiên bà T không đồng ý trở về sống chung vì cho rằng không còn tình cảm vợ chồng với ông P nữa.

Về phía bị đơn bà T, Tòa án cũng đã nhiều lần triệu tập nhưng bị đơn vắng mặt không rõ lý do. Qua xác minh tại địa phương thì bà T đã đi nơi khác sống từ khoảng tháng 02/2024. Qua đó cho thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng đã rất trầm trọng không thể hòa giải được, bà T đã bỏ mặc mối quan hệ hôn nhân này để cho ông P tự mình giải quyết. Hội đồng xét xử xét thấy nếu tiếp tục duy trì hôn nhân cũng không đạt được mục đích cuối cùng là mang lại hạnh phúc cho cả hai bên vì vậy, nghĩ nên chấp nhận cho ông P ly hôn với bà T là phù hợp.

[4] Xét yêu cầu nuôi con chung: Ông, bà có 02 người con chung tên Trương Công M, sinh ngày 23/11/2003 và Trương Công M1, sinh ngày 15/01/2009. Quá trình giải quyết vụ án, ông P xin được quyền nuôi dưỡng cháu Trương Công M1 đến trưởng thành, không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử nhận thấy cháu M1 hiện đang sống chung với ông P, quá trình giải quyết vụ án, cháu M1 có nguyện vọng được tiếp tục sống với ông P. Nhằm ổn định môi trường sống của cháu M1 nên Hội đồng xét xử giao con chung là cháu Trương Công M1 cho ông P nuôi dưỡng là phù hợp.

Ngoài ra cũng dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho bà T để đảm bảo cho con chung nhận đầy đủ tình cảm từ cha mẹ như những trẻ khác.

Xét vấn đề cấp dưỡng nuôi con là nghĩa vụ của cha, mẹ, người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, tuy nhiên do các đương sự không yêu cầu nên không xem xét xét giải quyết.

Đối với con chung là Trương Công M do đã trưởng thành, có khả năng tự lao động nuôi sống bản thân nên không xem xét giải quyết.

[5] Về tài sản chung, nợ chung: Do các đương sự không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Nếu sau này có phát sinh tranh chấp về tài sản chung và nợ chung sẽ giải quyết thành vụ án khác.

[6] Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Ông Trương Ngọc P phải chịu án phí là 300.000 đồng, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

[7] Xét ý kiến phát biểu và đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là có cơ sở.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điều 5; 28; 35; 39; 147; 207; 227; 271; 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Điều 56, 81; 82; 83 và 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Nghị quyết Số 326/2016/UBTVQH14 ngày 31 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, qản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án về án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa ông Trương Ngọc P và bà Trần Thị Thùy T.

Về con chung: Công nhận ông Trương Ngọc P và bà Trần Thị Thùy T có 02 người con chung tên Trương Công M, sinh ngày 23/11/2003 và Trương Công M1, sinh ngày 15/01/2009.

Giao con chung tên Trương Công M1 cho ông P trực tiếp nuôi dưỡng đến trưởng thành, bà T không phải cấp dưỡng nuôi con.

Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho bà T không ai được cản trở. Ông P, bà T có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con vì lợi ích của con.

Đối với con chung là Trương Công M do đã trưởng thành, có khả năng tự lao động nuôi sống bản thân nên không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết. Nếu sau này phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành một vụ án khác khi đương sự có yêu cầu.

Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Ông Trương Ngọc P phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0005410 ngày 05 tháng 6 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Thốt Nốt - thành phố Cần Thơ. Công nhận ông P đã nộp xong án phí.

Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày (mười lăm ngày) kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày (mười lăm ngày) kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • -TAND TP. Cần Thơ;
  • -VKSND quận Thốt Nốt;
  • -Cơ quan THA quận Thốt Nốt;
  • -Các đương sự;
  • -Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 38/2024/HNGĐ-ST ngày 26/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT - TP. CẦN THƠ về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 38/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT - TP. CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn do mâu thuẫn gia đình
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger