Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2024/DS-ST

Ngày: 20/5/2024

V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Quý;

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Đặng Minh Lý;
  2. Bà Nguyễn Thị Hồng Thanh.

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Trần Đình Anh - Cán bộ Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Lưu Kim Hằng – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 178/2024/TLST-DS20/3/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63/2024/QĐXXST-DS ngày 02/5/2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng N; trụ sở: Số B, đường L, phường T, quận B, thành phố Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn V.

Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Ngọc L – Phó giám đốc chi nhánh T4, Bình Dương, là người đại diện theo ủy quyền, có văn đề nghị nghị giải quyết vắng mặt.

2. Bị đơn:

  • Bà Lê Thái Thiện Q, sinh năm 1988; địa chỉ: Số A, Tổ A, Khu phố G, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có văn bản đề nghị giải quyết vắng mặt.
  • Ông Hoàng Ngọc T, sinh năm 1986; địa chỉ: Số E, đường L, Tổ C, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt không có lý do.

3. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Phan Thanh B- Luật sư thuộc Công ty L1; địa chỉ: Số C, Đường B, phường L, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh, có văn đề nghị nghị giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1

* Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án người đại diện hợp pháp của nguyên đơn thống nhất trình bày:

Vào ngày 27/09/2023, Ngân hàng N - Chi nhánh Thành phố T4 (gọi tắt là "A") cùng ký kết Hợp đồng tín dụng số: 5502-LAV-202301328 với các bị đơn bà Lê Thái Thiện Q và ông Hoàng Ngọc T. Nội dung hai bên thỏa thuận như sau:

A đồng ý cho bà Lê Thái T1 Q và ông Hoàng Ngọc T2 vay với hạn mức tín dụng là 7.500.000.000 đồng (Bẩy tỷ năm trăm triệu đồng); mục dích sử dụng vốn vay: Kinh doanh bách hóa tổng hợp, gạo, nông sản, rau, củ, quả; thời hạn duy trì hạn mức: 12 tháng, kể từ ngày 27/9/2023 đến hết ngày 27/9/2024; lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm ký kết hợp đồng tín dụng là 8.5%/năm; đối với nợ gốc quá hạn lãi suất bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn tương ứng, trên tổng số dư nợ gốc quá hạn theo số ngày duy trì nợ quá hạn. Khách hàng có tài sản bảo đảm đến đâu giải ngân trên tương ứng với giá trị tài sản đảm bảo nợ vay theo quy định của Ngân hàng.

Để đảm bảo cho thỏa thuận hạn mức nên trên, các bị đơn thế chấp cho nguyên đơn quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số: Lô A-06117, Tờ bản đồ số 09, phường H, thành phố T theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số: 25/09/TDM23 ngày 26/09/2023 tại Văn phòng C, có giá trị định giá là 4.935.000.000 đồng (Bốn tỷ chín trăm ba mươi lăm triệu đồng) đảm bảo cho số tiền vay 4.150.000.000 đồng (Bốn tỷ một trăm năm mươi triệu đồng). Ngày 27/9/2023, A đã giải ngân số tiền 4.150.000.000 đồng (Bốn tỷ một trăm năm mươi triệu đồng) cho các bị đơn theo Báo cáo đề xuất giải ngân kiêm giấy nhận nợ số giải ngân: 5502-LDS-202301830.

Ngày 18/12/2023, A đã tiến hành kiểm tra tình hình hoạt động, tài sản bảo đảm của khách hàng vay thì phát hiện bên vay đã ngừng kinh doanh mà không thông báo cho ngân hàng. Ngay sau khi phát hiện việc bên vay vi phạm các điều khoản đã cam kết trong hợp động tín dụng A đã yêu cầu bên vay tất toán hợp đồng tín dụng trả lại tiền vay cho A trước ngày 04/01/2024. Đến ngày 28/12/2023, các bị đơn trả nợ gốc 350.000.000 đồng (Ba trăm năm mươi triệu đồng), số tiền nợ gốc còn lại là: 3.800.000.000 đồng (Ba tỷ tám trăm triệu đồng) đến nay vẫn chưa trả. Quá trình giải quyết hợp đồng tín dụng bị đơn bà Q cũng đã xác nhận "Hiện tại, tôi không đủ khả năng trả nợ. Tôi đồng ý bàn giao tài sản cho Ngân hàng để thu hồi nợ theo quy định".

Về lãi suất theo quy định của hợp đồng tín dụng các bị đơn phải thanh toán tiền lãi cho A vào ngày 27 hàng tháng. Tuy nhiên từ ngày 28/12/2023, các bị đơn không tiến hành thanh toán lãi cho A. Vì vậy, nguyên đơn yêu cầu khởi kiện Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xem xét giải quyết những vấn đề như sau:

  • Buộc các bị đơn phải liên đới trả nợ số tiền gốc còn lại cho nguyên đơn là là 3.800.000.000đ (Ba tỷ tám trăm triệu đồng).
  • Buộc các bị đơn phải liên đới trả nợ số tiền lãi trong hạn và quá hạn tạm đến hết ngày 20/5/2024 cho nguyên đơn như sau: Lãi trong hạn: 96.457.534₫ (Chín mươi sáu triệu, bốn trăm năm mươi bảy nghìn, năm trăm ba mươi bốn đồng); lãi quá hạn: 23.895.151₫ (Hai mươi ba triệu tám trăm chín mươi lăm nghìn, một trăm năm mươi mốt đồng). Các bị đơn tiếp tục phải thanh toán các khoản lãi theo hợp đồng tín dụng đã ký trên dư nợ gốc.

2

Trường hợp các bị đơn không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ nêu trên thì nguyên đơn có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án phát mãi tài sản thế chấp dưới đây để đảm bảo thi hành án: Tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất: Lô A7-Ô 17, tờ bản đồ số 09, tọa lạc tại phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất số vào số cấp GCN CH05739, do Ủy ban nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương cấp ngày 16/10/2014, cho các bị đơn.

* Bị đơn bà Lê Thái Thiện Q tại Bản tự khai ngày 09/4/2024 trình bày: Thống nhất và đồng ý trước toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đồng thời bà Q có văn bản đề nghị giải quyết vắng mặt.

* Bị đơn ông Hoàng Ngọc T: Theo hợp đồng tín dụng và kết quả xác minh thì ông T có địa chỉ thường trú tại: Số E, đường L, Tổ C, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng. Công an phường H xác định ông T hiện không cư trú tại địa chỉ trên. Vì vậy Tòa án đã tiến hành thủ tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng theo Điều 180 Bộ luật tố tụng dân sự.

* Phát biểu ý kiến của Kiểm sát viên về việc tuân theo tố tụng và việc giải quyết vụ án:

  • Về tố tụng, từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa sơ thẩm Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đúng quy định pháp luật về người tiến hành tố tụng. Nguyên đơn, bị đơn bà Q đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định pháp luật. Bị đơn ông T đã được Tòa án đã thông báo hợp lệ nhưng vẫn không tham gia phiên tòa nhiều lần nên thuộc trường hợp từ bỏ quyền và nghĩa vụ.
  • Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ thủ tục xét xử theo đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng xét xử theo quy định pháp luật. Viện kiểm sát không kiến nghị, khắc phục gì thêm.
  • Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng

[1.1] Về sự vắng mặt của các đương sự và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn

3

Đai đại diện nguyên đơn, bị đơn bà Q và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Việc các đương sự trên và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn làm đơn xin vắng mặt là có lý do chính đáng nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Bị đơn ông T đã được thông báo hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do và không có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự này theo quy định tại Điều 227; 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án

Nguyên đơn khởi kiện các bị đơn yêu cầu tranh chấp hợp đồng tín dụng. Tại thời điểm khởi kiện một trong các bị đơn (bà Q) đang cư trú tại thành phố T, tỉnh Bình Dương. Tranh chấp giữa các bên là tranh chấp về giao dịch dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Căn cứ vào các Điều 26, 35, 36, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn

[2.1] Về chứng cứ và chứng minh: Bị đơn ông T đã được Tòa án tiến hành thông báo hợp lệ các văn bản tố tụng. Tuy nhiên nhiều lần được triệu tập tham gia phiên tòa đều vắng mặt không có lý do. Vì vậy trường hợp này được coi là đương sự vắng mặt tại phiên tòa nhiều lần, không có lý do và tự từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình. Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu chứng cứ mà các đương sự khác giao nộp cũng như Tòa án thu thập và kết quả tranh tụng tại phiên toà để xem xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[2.2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về buộc các bị đơn hoàn trả tiền nợ gốc theo hợp đồng tín dụng

Nguyên đơn và bị đơn bà Q đều thừa nhận và thống nhất về việc, nguyên đơn và các bị đơn có giao kết và thực hiện hợp Hợp đồng tín dụng số: 5502-LAV-202301328 và Hợp đồng thế chấp 25/09/TDM23 ngày 26/09/2023 tại Văn phòng C. Tổng số tiền nguyên đơn đã giải ngân cho các bị đơn vay là 4.150.000.000 đồng (Bốn tỷ một trăm năm mươi triệu đồng). Số tiền nợ gốc các bị đơn đã trả là 350.000.000₫ (Ba trăm năm mươi triệu đồng) và tiền lãi đã thanh toán đến ngày 28/12/2023.

Quá trình thực hiện hợp đồng bị đơn bà Q thừa nhận vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Như vậy, quá trình thực hiện hợp đồng các bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi nên nguyên đơn yêu cầu bị đơn hoàn trả số tiền nợ gốc theo yêu cầu khởi kiện nêu trên là có cơ sở chấp nhận.

[2.3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về buộc các bị đơn thanh toán tiền lãi

Quá trình thực hiện hợp đồng các bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả lãi. Đến thời điểm hết ngày xét xử sơ thẩm (20/5/2024) các khoản lãi các bị đơn chưa thành toán bao gồm: Lãi trong hạn: 96.457.534đ (Chín mươi sáu triệu, bốn trăm năm

4

mươi bảy nghìn, năm trăm ba mươi bốn đồng; lãi quá hạn: 23.895.151đ (Hai mươi ba triệu tám trăm chín mươi lăm nghìn, một trăm năm mươi mốt đồng). Vì vậy cần buộc các bị đơn thanh toán khoản lãi nêu trên, đồng thời kể từ ngày 21/5/2024 các bị đơn còn phải thanh toán số tiền lãi trên dư nợ gốc theo mức lãi suất thỏa thuận tại các hợp đồng tín dụng nêu trên.

[2.4] Xét yêu cầu phát mãi tài sản bảo đảm

Để bảo đảm khoản vay theo hợp đồng tính dụng nêu trên thì các bị đơn đã thế chấp cho nguyên đơn tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất Lô A7-Ô 17, tờ bản đồ số 09, tọa lạc tại Phường H. T3, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất số vào số cấp GCN CH05739, do Ủy ban nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương cấp ngày 16/10/2014 cho các bị đơn tại Hợp đồng thế chấp 25/09/TDM23, ngày 26/09/2023 tại Văn phòng C. Các bên đã thực hiện việc đăng ký thế chấp đúng quy định. Vì vậy trường hợp các bị đơn không thanh toán khoản nợ gốc và lãi nêu trên thì nguyên đơn yêu cầu cơ quan thi hành án phát mãi tài sản đã thế chấp để thi hành án là có cơ sở chấp nhận.

[3] Về phát biểu của đại diện Viện kiểm sát: Xét quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát về nội dung giải quyết vụ án là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm:

  • Các bị đơn phải chịu án phí trên nghĩa vụ phải thực hiện đối với nguyên đơn.
  • Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên hoàn trả số tiền tạm ứng án phí mà nguyên đơn đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 94, 95, 96, 97, 104, 108, 147, 163, 165, 166; 227, 228, 244; 264, 266, 267 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 8; 10; 22; 33; 49, Nghị định số 21/2021/NĐ-CP ngày 19 tháng 3 năm 2021 của Chính phủ “Quy định thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ”;

Căn cứ Điều 91 Luật Tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Căn cứ các Điều 7, 13, Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ngày 11 tháng 01 năm 2019 “Hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm”;

Căn cứ vào Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”.

5

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N với các bị đơn bà Lê Thái T1 Q và ông Hoàng Ngọc T về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

  • Buộc các bị đơn bà Lê Thái Thiện Q và ông Hoàng Ngọc T có nghĩa vụ liên đới trả cho nguyên đơn Ngân hàng N các khoản nợ gốc và lãi tính đến hết ngày 20/5/2024, như sau: Nợ gốc 3.800.000.000₫ (Ba tỷ tám trăm triệu đồng); lãi trong hạn: 96.457.534₫ (Chín mươi sáu triệu, bốn trăm năm mươi bảy nghìn, năm trăm ba mươi bốn đồng; lãi quá hạn: 23.895.151₫ (Hai mươi ba triệu tám trăm chín mươi lăm nghìn, một trăm năm mươi mốt đồng).
  • Kể từ ngày 21/5/2024, các bị đơn ông T, bà Q có nghĩa vụ tiếp tục trả các khoản tiền lãi, phạt vi phạm cho nguyên đơn Ngân hàng N trên số dư nợ gốc các thỏa thuận tại Hợp đồng 5502-LAV-202301328, ngày 27/9/2023 ký kết giữa các bên.
  • Trường hợp các bị đơn ông T, bà Q không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ nêu trên thì nguyên đơn Ngân hàng N có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án phát mãi tài sản thế chấp dưới đây để đảm bảo thi hành án: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc Lô A7-Ô 17, tờ bản đồ số 09, tọa lạc tại phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất số vào số cấp GCN CH05739, do Ủy ban nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương cấp ngày 16/10/2014 cấp cho cho các bị đơn. Nếu tài sản bảo đảm sau khi phát mãi không đủ để trả nợ thì các bị đơn tiếp tục có nghĩa vụ liên đơn trả nợ đến khi hoàn thành nghĩa vụ nêu trên. Nguyên đơn có nghĩa vụ trả lại bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên cho các bị đơn, trong trường hợp các bị đơn thực hiện xong toàn bộ nghĩa vụ nêu trên mà không phải thực hiện việc phát mãi tài sản.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

  • Các bị đơn Lê Thái Thiện Q và ông Hoàng Ngọc T phải liên đới chịu 110.407.000đ (Một trăm mười triệu bốn trăm linh bảy nghìn).
  • Hoàn trả cho Ngân hàng N số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 54.593.000₫ (Năm mươi tư triệu năm trăm chín mươi ba nghìn đồng) 0004338 ngày 11/3/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

4. Về việc thi hành bản án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Ký tên)

Nguyễn Ngọc Quý

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 38/2024/DS-ST ngày 20/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 38/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger