Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2024/HSST

Ngày 25 tháng 6 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Xuân Trường;

Thẩm phán: Ông Nguyễn Quang Vũ;

Các Hội Thẩm nhân dân: Ông Phí Đình Minh;

Bà Đỗ Thị Minh Nguyệt;

Bà Nguyễn Thu Hằng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Quân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Quý Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 27/2024/TLST-HS ngày 02/5/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 124/2024/QĐXXST-HS ngày 12/6/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Hoàng Văn H- sinh năm 1975; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi sinh: Phú Thọ; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khu E, xã C, huyện S, tỉnh Phú Thọ (nay là khu Đ, xã C, huyện C, tỉnh Phú Thọ); Nơi ở trước khi áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông; Chỗ ở hiện nay: Khu Đ, xã C, huyện C, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 2/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Đảng đoàn thể: Không; Bố đẻ: Hoàng Văn H1, đã chết; Mẹ đẻ: Nguyễn Thị V, đã chết; Vợ: Nguyễn Thị T, sinh năm 1977, đã ly hôn; Vợ: Phạm Thị L, sinh năm 1983, hiện là lao động tự do ở xã T, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông. Bị cáo có 04 con, con lớn sinh năm 1998, con nhỏ sinh năm 2019; hiện ở xã T, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông.

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/01/2023 đến ngày 21/01/2023 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại xã C huyện C, tỉnh Phú Thọ - Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Hoàng Văn H:

  1. Ông Nguyễn Quốc T1 - Luật sư, thuộc Văn phòng L1 - Đoàn Luật sư tỉnh P.
  2. Địa chỉ: Số nhà A, Đường H, Phường T, Thành phố V, tỉnh Phú Thọ - Có mặt.

  3. Bà Bùi Thu H2 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh P.
  4. Địa chỉ: đường N, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ - Có mặt.

- Bị hại: Anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 1981; Địa chỉ: Khu A, xã D, huyện T, tỉnh Phú Thọ -Văng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do muốn có tiền nên Hoàng Văn H nảy sinh ý định cướp tài sản, ngày 25/7/1998, H một mình đi xe khách từ thành phố Hà Nội đến bến phà T thuộc xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ (nay là xã D, huyện T, tỉnh Phú Thọ) để về nhà ở xã C, huyện C, tỉnh Phú Thọ, khoảng 18 giờ cùng ngày, khi đến bến phà T, H xuống xe khách thì gặp anh Nguyễn Văn Đ làm nghề xe ôm tại khu vực bến phà T, hỏi “Anh về đâu em chở”, H trả lời:“đi về xã T, huyện T nhưng không có tiền, nghe H nói vậy thì anh Đ không đi, H đi đến quán nước của bà Phan Thị B, ở gần bến phà T để ngồi nghỉ, H nảy sinh ý định cướp tài sản của người lái xe ôm, H nghĩ đến trước đó khoảng 15 ngày, H có thuê một người nam thanh niên khoảng 17 - 18 tuổi chở xe ôm đi từ bến phà T về xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ (nay là xã H, huyện T). H thấy người này nhỏ người và còn trẻ, dễ thực hiện hành vi cướp tài sản nên H nảy sinh ý định cướp chiếc xe mô tô của nam thanh niên này.

Đến khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, khi đang ngồi ở quán nước của bà B thì H nhìn thấy anh Nguyễn Văn T2, anh T2 chính là người đã đưa Hiền từ bến phà Trung Hà về xã H trước đó khoảng 15 ngày, H nói với anh T2 “Mày chở anh một lần rồi mày không nhớ à”, sau đó H thuê anh T2 chở H về xã C, huyện T (nay là xã V, huyện T), hai người thống nhất giá xe ôm là 12.000 đồng; Anh T3 sử dụng chiếc xe mô tô nhãn hiệu simson, màu trắng, biển số 29 - 445 SK chở Hiền từ bến phà T đi về hướng xã C. Khi đi đến khu vực trường C, huyện T thì H ngồi sau đẩy anh T3 về phía trước, hai tay H vươn về phía trước tranh cầm lái điều khiển chiếc xe mô tô và nói “Mày kêu tao giết”. Do lo sợ bị giết nên anh T3 để H cầm lái và ngồi dịch lên phía bình xăng. H ngồi sau cầm lái điều khiển xe đi qua xã C về xã T, huyện T (nay là xã L, huyện T). Khi đi đến đoạn đường Quốc lộ 32C giữa dốc Dát thuộc địa phận xã T, huyện T, H lấy lý do đi vệ sinh để dừng xe lại nhằm tấn công anh T3 để chiếm đoạt tài sản; H xuống xe, nhặt một hòn đá to hơn bàn tay của H ở ven đường và tiến lại gần phía sau anh T3; H vừa đi đến vừa hỏi “Hết bao nhiêu tiền”. Lúc này anh T3 vẫn đang ngồi trên xe, xe vẫn nổ máy, lợi dụng lúc anh T3 không chú ý, H cầm hòn đá bằng tay phải, đánh hết sức liên tiếp nhiều cái theo hướng từ trên xuống dưới, từ trái qua phải vào vùng phía sau đầu anh T4 anh T3 ngã xuống đất và bất tỉnh. Lúc đó, H nghĩ anh T3 đã chết nên H kéo anh T3 vào bụi cây ven đường, cách lề đường khoảng 2m, sau đó H lấy chiếc xe mô tô đi về phía huyện S (nay là huyện C). Khi đi đến bến phà T để sang huyện S, H nhìn thấy công nhân bến phà kiểm soát vé và nhiều người đứng ở đó nên H lo sợ, bỏ lại chiếc xe mô tô ở đó, rồi đi bộ qua cầu phao sang huyện S, sau đó bỏ trốn vào tỉnh Kon Tum, tỉnh Đăk Lak (nay là tỉnh Đắk Nông), sau khi bỏ trốn H thay đổi tên thành Nguyễn Văn Đ, sinh ngày 01/01/1971, lấy vợ là chị Phạm Thị L (có đăng ký kết hôn) và sinh sống tại thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.

Để che giấu nhân thân, tránh việc bị Cơ quan Công an phát hiện, bắt giữ thì H lấy tên giả là Nguyễn Văn Đ và cung cấp các thông tin giả về nhân thân để được các cơ quan chức năng cấp các giấy tờ mang tên Nguyễn Văn Đ gồm Chứng minh nhân dân, Căn cước công dân, Giấy phép lái xe... đồng thời xóa bỏ nốt ruồi ở gò má gần cánh mũi bên phải để tránh bị cơ quan chức năng phát hiện.

Ngày 26/7/1998, Công an huyện T đã tiến hành xem xét dấu vết trên thân thể của anh T3 và xác định: Tại vùng đỉnh chẩm của anh T3 có 06 vết thương gồm: 01 vết giáp vùng đỉnh dài 4cm sâu sát xương; 02 vết vùng chẩm phải mỗi vết dài 2cm; 01 vết vùng giữa chẩm dài 2cm sâu sát xương; 01 vết vùng chẩm trái dài 2cm sâu sát xương; 01 vết sau tai trái dài 3cm sâu sát xương. Các vết thương này đều có bờ nham nhở sát nhau nên tổ chức xung quanh xưng nề bầm tím khó xác định lún xương. Hai vai phải, trái bầm tím vận động khép vai hạn chế. Nhiều vết xước da trên môi, mặt, chán chấm nhỏ. Trên mu tay trái xước da chấm nhỏ. Đốt 1 ngón trỏ tay phải tím nhẹ.

Ngày 22/11/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh tiến hành trưng cầu giám định thương tích đối với anh Nguyễn Văn T2.

Tại kết luận giám định pháp y về thương tích số 227 ngày 23/11/2023 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh P kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Nguyễn Văn T2 là 06%. Cơ chế hình thành thương tích: Sáu vết sẹo vùng đầu: do tác động của vật cứng gây nên; Trán, mặt, môi, hai vai, mu tay trái, đốt 1 ngón II bàn tay phải không để lại tổn thương nên Trung tâm pháp y không xác định được cơ chế gây chấn thương”.

Ngày 26/7/1998, Công an huyện T tiến hành kiểm tra, xác định thiệt hại đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Simson, biển số 29.445 SK, kết quả: dè trước, tay lái bên trái bị xây sát dính nhiều đất màu vàng; bình xăng xây sát mé bên trái; để chân bên trái bị cong về phía sau; đèn xi nhan sau bị cong về phía sau. Sau khi kiểm tra xong đã tiến hành bàn giao lại chiếc xe này cho anh Nguyễn Xuân D (đại diện cho gia đình anh T2) quản lý.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh P làm việc với ông Lê Xuân H3, sinh năm 1959, trú tại thôn P, xã T, huyện B, thành phố Hà Nội; anh Nguyễn Văn T5, sinh năm 1976, trú tại khu A, xã D, huyện T (là anh trai ruột của Nguyễn Văn T2) và ông Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1952, trú tại khu A, xã D, huyện T (là bố đẻ của Nguyễn Văn T2), xác định: Khoảng đầu năm 1998, ông H3 đã bán lại chiếc xe trên cho gia đình anh Nguyễn Văn T2 với giá 5.500.000 đồng. Việc mua bán có giấy tờ đầy đủ, anh T5 là người trực tiếp mua bán xe với ông H3. Sau khi nhận lại chiếc xe máy trên từ Cơ quan điều tra thì anh T5 đã tiến hành sửa chữa nhưng không nhớ sửa chữa hết bao nhiêu tiền, sau đó 1 - 2 tháng thì bán lại cho người khác nhưng không nhớ bán cho ai, bán được bao nhiêu tiền.

Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành trưng cầu giám định đối với: 01 Giấy chứng minh nhân dân số [...], 01 Căn cước công dân số [...], 01 Giấy phép lái xe số [...], tất cả đều mang tên Nguyễn Văn Đ, sinh ngày 01/01/1971, nơi ĐKHKTT: T, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.

Tại Kết luận giám định số 1493 ngày 26/11/2023 của phòng K Công an tỉnh P kết luận: Mẫu phôi của các tài liệu cần giám định Giấy chứng minh nhân dân, căn cước công dân, Giấy phép lái xe đều là các mẫu phôi thật.

Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra, Hoàng Văn H đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo H tự nguyện bồi thường cho anh Nguyễn Văn T2 5.000.000đ, anh T2 đã nhận đủ số tiền 5.000.000đ, nay anh T2 không yêu cầu bị cáo H phải bồi thường thêm khoản tiền nào khác và có đơn đề nghị xin được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho H. Hiện nay H đang mắc bệnh U ác của hầu-mũi.

Động cơ, mục đích của hành vi phạm tội: Do muốn có tiền mà H đã thực hiện hành vi phạm tội.

Vật chứng, tài sản thu giữ: Ngày 26/7/1998, Công an huyện T đã tiến hành khám nghiệm hiện trường vụ án và thu giữ 01 hòn đá, 02 mảnh vỡ đèn xi nhan và dấu vết màu nâu trên lá. Tuy nhiên trong hồ sơ vụ án không có tài liệu thể hiện việc nhập kho, xuất kho, bàn giao vật chứng giữa Công an huyện T và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh P. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh P đã tiến hành tìm kiếm và có văn bản yêu cầu Công an huyện T, Kho vật chứng Công an tỉnh rà soát, tổ chức tìm kiếm nhưng không tìm được các đồ vật nêu trên.

- Ngày 11/11/2023, Cơ quan điều tra đã tạm giữ các giấy tờ của Hoàng Văn H dưới tên giả là Nguyễn Văn Đ, sinh ngày 01/01/1971, nơi ĐKHKTT: T, huyện Đ, tỉnh Đak Nông gồm: 01 (một) Giấy chứng minh nhân dân số [...], 01 (một) Căn cước công dân số [...], 01 (một) Giấy phép lái xe số [...].

Xử lý vật chứng: Ngày 26/7/1998, Công an huyện T đã bàn giao chiếc xe mô tô nhãn hiệu Simson màu trắng, biển số 29 - 445 SK cho anh Nguyễn Xuân D, sinh năm 1965, trú tại xã H, huyện T (nay là khu A, xã D, huyện T), là đại diện gia đình anh Nguyễn Văn T2 quản lý, nay anh D và anh T2 không đề nghị gì về thiệt hại đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Simson màu trắng, biển số 29 - 445 SK.

Về trách nhiệm dân sự: Ngày 22/12/2023, Hoàng Văn H đã tự nguyện bồi thường cho anh Nguyễn Văn T2 số tiền 5.000.000 đồng. Anh T3 đã nhận tiền và không có yêu cầu bồi thường gì thêm.

Xác minh tài sản: Hoàng Văn H không đứng tên tài sản, nhà ở trên địa bàn xã C, huyện C, tỉnh Phú Thọ. Quá trình bỏ trốn, Hoàng Văn H (đổi tên thành Nguyễn Văn Đ) và chị Phạm Thị L đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất số 196, tờ bản đồ số 47, diện tích 396 m2 ở thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Đak Nông và Giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất số 121, tờ bản đồ số 47, diện tích 8436 m² ở thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông.

Cáo trạng số 32/CT-VKSPT-P2 ngày 02/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ truy tố bị cáo Hoàng Văn H về tội “Giết người” quy định tại điểm e khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 1985 và tội “Cướp tài sản của công dân” quy định tại khoản 1 Điều 151 Bộ luật hình sự năm 1985, sửa đổi bổ sung năm 1989.

Điều 101. Tội giết người (Bộ luật Hình sự năm 1985)

“1. Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đâythì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

e. Giết người mà liền trước đó hoặc ngay sau đó lại phạm một tội nghiêm trọng khác"

Điều 151. Tội cướp tài sản của công dân (Bộ luật hình sự năm 1985, sửa đổi bổ sung năm 1989)

1. Người nào dùng vũ lực, đe doạ dùng ngay tức khắc vũ lực hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ ba năm đến bảy năm”.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố H về tội “Cướp tài sản của công dân” theo khoản 1 Điều 151 Bộ luật Hình sự năm 1985 sửa đổi bổ sung năm 1989 và trình bày ý kiến bổ sung nội dung cáo trạng về hành vi giết người đã truy tố bị cáo H theo điểm e khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 1985, nay áp dụng nguyên tắc có lợi, đại diện Viện kiểm sát đề nghị truy tố bị cáo H về tội giết người theo khoản 2 Điều 123 Bộ luật Hình sự 2015.

Sau khi đại diện Viện kiểm sát trình bày ý kiến bổ sung nội dung cáo trạng về hành vi giết người của bị cáo H, nay áp dụng nguyên tắc có lợi cho bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị truy tố bị cáo H về tội giết người theo khoản 2 Điều 123 Bộ luật Hình sự 2015, như vậy bị cáo không thuộc trường hợp được quyền có luật sư bào chữa theo chỉ định; do đó luật sư bào chữa cho bị cáo xin rút không tham gia bào chữa cho bị cáo H tại phiên tòa, được Hội đồng xét xử chấp nhận; Bị cáo H nhất trí quan điểm của luật sư và không nhờ ai bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa ngoài trợ giúp viên pháp lý đang tham gia bào chữa cho bị cáo.

Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, thừa nhận hành vi như bản cáo trạng đã nêu, thể hiện thái độ ăn năn hối cải.

Tại phiên tòa bị hại anh T3 vắng mặt nhưng đã có lời khai trong hồ sơ vụ án có nội dung đã nhận số tiền 5.000.000₫ do bị cáo H bồi thường, nay không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm khoản tiền nào khác, đối với chiếc xe mô tô Sim Son mà bị cáo H cướp của anh T3, cơ quan điều tra đã trả lại cho gia đình anh, gia đình anh đã nhận lại nên nay anh không yêu cầu giải quyết nữa, anh T3 đã có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo H.

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 2 Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 151 Bộ luật Hình sự năm 1985, sửa đổi bổ sung năm 1989; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 54, Điều 55, Điều 57 Bộ luật Hình sự năm 2015

Xử phạt bị cáo Hoàng Văn H từ 5 năm đến 5 năm 06 tháng tù về tội “Giết người"

Xử phạt bị cáo Hoàng Văn H từ 3 năm đến 3 năm 06 tháng tù về tội “Cướp tài sản của công dân”

Tổng hợp hình phạt của hai tội đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo Hoàng Văn H phải chấp hành hình phạt chung từ 08 năm đến 9 năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, được trừ đi số ngày bị cáo đã bị tạm giữ.

Hình phạt bổ sung: Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về Vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu lưu hồ sơ vụ án 01 (một) Giấy chứng minh nhân dân số [...], 01 (một) Căn cước công dân số [...], 01 (một) Giấy phép lái xe số [...] mang tên Nguyễn Văn Đ, sinh ngày 01/01/1971, nơi ĐKHKTT: T, huyện Đ, tỉnh Đak Nông và xác nhận gia đình anh Nguyễn Văn T2 do anh Nguyễn Xuân D là đại diện gia đình đã nhận lại 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Simson màu trắng, biển số 29 - 445 SK ngày 26/7/1998 do Công an huyện T đã bàn giao.

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận của bị cáo và bị hại.

Sau khi nghe nội dung bản luận tội:

Bị cáo H xin được giảm nhẹ hình phạt và không có ý kiến gì tranh luận.

Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo H nhất trí ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

Bị cáo H nhất trí với nội dung bào chữa của trợ giúp viên, bị cáo không bổ sung thêm nội dung nào khác và không có ý kiến gì tranh luận.

Bị cáo H nói lời nói sau cùng: Bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội đối với anh T2, Bị cáo H đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất vì hiện nay bị cáo đang mắc bệnh hiểm nghèo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

1. Về tố tụng hình sự: Các quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, của Điều tra viên, các quyết định tố tụng của Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, giám định viên trong quá trình điều tra vụ án, truy tố đối với bị cáo đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Luật sư, trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật trong quá trình điều tra, truy tố; Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

2. Về áp dụng pháp luật:

Bị cáo H thực hiện hành vi phạm tội ngày 25/7/1998, sau đó bỏ trốn, đã bị truy nã, tại thời điểm bị cáo thực hiện hành vi tội phạm Bộ luật hình sự (BLHS) năm 1985 sửa đổi năm 1989 đang có hiệu lực pháp pháp luật; Ngày 18/01/2023 phòng K Công an tỉnh P bắt được bị cáo H theo lệnh truy nã, tại thời điểm bắt được bị cáo H (BLHS) 2015 đang có hiệu lực thi hành;

Theo quy định của pháp luật về phân loại tội phạm thì:

  • BLHS năm 1985, tại điều 8 quy định phân loại tội phạm thành hai loại đó là: Tội phạm nghiêm trọng và tội phạm ít nghiêm trọng.
    • Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên năm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình;
    • Những tội phạm khác là tội phạm ít nghiêm trọng.
  • BLHS năm 2015, tại điều 9 quy định phân loại tội phạm thành bốn loại đó là:
    • Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm;
    • Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 03 năm tù đến 07 năm tù;
    • Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 07 năm tù đến 15 năm tù;
    • Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 15 năm tù đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.

Như vậy: BLHS năm 1985 phân loại tội phạm thành 2 loại; BLHS sự năm 2015 phân loại tội phạm thành 4 loại như đã nêu trên; Đối chiếu hành vi giết người, cướp tài sản của bị cáo với quy định tại điểm e khoản 1 điều 101 BLHS 1985 cho thấy bị cáo “Giết người mà liền trước đó hoặc ngay sau đó lại phạm một tội nghiêm trọng khác” để xét xử tại thời điểm này là bất lợi cho bị cáo; Đối chiếu hành vi phạm tội của bị cáo với quy định tại e khoản 1 điều 123 BLHS 2015 thì “Giết người mà liền trước đó hoặc ngay sau đó lại phạm một tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng” thì hành vi giết người, cướp tài sản của bị cáo không thỏa mãn điểm e khoản 1 điều 123 vì mức hình phạt cao nhất của khoản 1 điều 151 BLHS 1985 là đến 7 năm tù còn tội rất nghiêm trọng theo BLHS 2015 thì mức cao nhất của khung hình phạt là từ trên 7 năm tù ...; hành vi giết người, cướp tài sản của bị cáo cũng không thỏa mãn các quy định tại khoản 1 điều 123 mà chỉ thỏa mãn khoản 2 điều 123 BLHS 2015; Đối với hành vi cướp tài sản của bị cáo được quy định tại khoản 1 điều 151 BLHS 1985 và khoản 1 điều 168 BLHS 2015 thì khoản 1 điều 151 BLHS 1985 quy định mức hình phạt từ 3 năm tù đến 7 năm tù, có mức hình phạt thấp hơn so với khoản 1 điều 168 BLHS 2015;

Theo quy định tại Điều 123 của BLHS 2015 có nhiều tình tiết có lợi hơn cho bị cáo, so với Điều 101 của BLHS sự năm 1985 sửa đổi bổ sung năm 1989. Vì vậy, căn cứ Nghị quyết số 41/2017QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội, áp dụng Điều 123 của BLHS 2015 đối với bị cáo H là phù hợp.

Theo quy định tại Điều 168 của BLHS 2015 có nhiều tình tiết không có lợi cho bị cáo so với Điều 151 của BLHS sự năm 1985 sửa đổi năm 1989. Vì vậy, căn cứ Nghị quyết số 41/2017QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội áp dụng Điều 151 của BLHS 1985 sửa đổi năm 1989 đối với bị cáo H là phù hợp.

Theo quy định của pháp luật, để đảm bảo nguyên tắc không gây bất lợi cho bị cáo; Do đó tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát công bố bản cáo trạng và trình bày ý kiến bổ sung đề nghị truy tố bị cáo H về tội cướp tài sản theo khoản 1 điều 151 BLHS 1985, sửa đổi bổ sung năm 1989 và đề nghị truy tố bị cáo H về tội giết người theo khoản 2 điều 123 BLHS 2015 là phù hợp được Hội đồng xét xử chấp nhận.

3. Về căn cứ buộc tội:

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với thời gian địa điểm nơi bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, phù hợp với kết luận giám định và phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, nên có đủ cơ sở kết luận:

Ngày 25/7/1998, do muốn có tiền nên Hoàng Văn H nảy sinh ý định cướp tài sản nên khi đang ngồi ở quán nước của bà Phan Thị B ở gần bến phà T thuộc xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ (nay là xã D, huyện T, tỉnh Phú Thọ), H thấy anh Nguyễn Văn T2 sử dụng chiếc xe mô tô nhãn hiệu sim son, màu trắng, biển số 29 - 445 SK làm nghề trở khách thì H thuê anh T2 đưa về xã C, huyện T (nay là xã V, huyện T) để trên đường đi Hiền cướp tài sản của anh T2, anh T2 chở Hiền từ bến phà T đi về hướng xã C, khi đi đến đoạn đường Quốc lộ 32C giữa dốc Dát thuộc địa phận xã T, huyện T, H lấy lý do đi vệ sinh để dừng xe lại, H xuống xe, nhặt một hòn đá to hơn bàn tay của H ở ven đường và tiến lại gần phía sau anh T2, lợi dụng lúc anh T2 không chú ý, H cầm hòn đá bằng tay phải, đánh liên tiếp nhiều cái theo hướng từ trên xuống dưới, từ trái qua phải vào vùng phía sau đầu anh T2, anh T2 ngất, ngã xuống đất, H tưởng anh T2 đã chết nên kéo anh T2 vào bụi cây ven đường và chiếm đoạt chiếc xe mô tô nhãn hiệu sim son, màu trắng, biển số 29 - 445 SK, anh T2 bị H đánh tổn thương 06% sức khoẻ,

Hành vi của Hoàng Văn H theo pháp luật hiện hành đã phạm vào tội “Giết người” quy định tại khoản 2 Điều 123 BLHS năm 2015 và phạm tội “Cướp tài sản của công dân” quy định tại khoản 1 Điều 151 BLHS năm 1985, sửa đổi bổ sung năm 1989.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát luận tội bị cáo H về tội “Cướp tài sản của công dân” theo khoản 1 Điều 151 Bộ luật Hình sự 1985 sửa đổi bổ sung 1989 và về tội giết người theo khoản 2 điều 123 Bộ luật Hình sự 2015.

Hành vi của bị cáo H đã có đủ các yếu tố cấu thành tội “Cướp tài sản của công dân” quy định tại khoản 1 Điều 151 Bộ luật Hình sự năm 1985, sửa đổi bổ sung năm 1989 và về tội “Giết người” theo khoản 2 điều 123 Bộ luật Hình sự 2015.

Do vậy quyết định truy tố, lời trình bày ý kiến bổ sung quyết định truy tố và luận tội của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đối với bị cáo H là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

4. Về tính chất hành vi phạm tội: Hành vi giết người của bị cáo H là rất nghiêm trọng, hành vi cướp tài sản của bị cáo H là nghiêm trọng; Bị cáo đã thực hiện các hành vi phạm tội với lỗi cố ý, các hành vi đó đã gây nguy hiểm cho xã hội, gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác, xâm phạm đến trật tự trị an trong xã hội, hành vi đó đã gây bất bình trong quần chúng nhân dân, vì vậy cần phải được xử lý nghiêm theo pháp luật để giáo dục các bị cáo và làm gương cho người khác.

5. Về động cơ, mục đích, nguyên nhân, điều kiện phạm tội: Bị cáo H do muốn có tiền để phục vụ mục đích cá nhân, mặc dù dù nhận thức được hành vi đó là trái pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện.

6. Về nhân thân của bị cáo: Trước khi phạm tội bị cáo H là người có nhân thân tốt chưa có tiền án tiền sự, bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội rất nghiêm trọng và nghiêm trọng với lỗi cố ý nên bị cáo phải chịu hình phạt tương xứng với hành vi đã gây ra;

7. Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tăng nặng trách nhiệm hình sự;

Hành vi phạm tội mà bị cáo thực hiện xảy ra đã lâu, tính nguy hiểm của hành vi gây ra đối với xã hội cũng đã giảm đáng kể, bị cáo hiện nay đang mắc bệnh hiểm nghèo, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; Sau khi bị bắt bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả, vì vậy khi lượng cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần cho bị cáo.

Cụ thể bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, điểm s khoản 1 khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự; Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, do đó khi xem xét quyết định hình phạt cần áp dụng điều 54 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo về tội giết người;

Bị cáo đã thực hiện hành vi giết người đối với anh T2, khi anh T2 ngất, ngã ra đất bị cáo tưởng anh T2 đã chết nên đã chiếm đoạt tài sản và rời đi, sau đó anh T2 đã tỉnh lại và được điều trị, kết luận giám định tổn hại 6% sức khỏe, do đó khi xem xét quyết định hình phạt cần áp dụng điều 57 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 điều 51 Bộ luật Hình sự; Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, do đó cần quyết định mức hình phạt tương xứng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện về tội cướp tài sản;

Kiểm sát viên tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự đó là: Thành khẩn khai báo ăn năn hối cải; Tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả; Người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; Hiện nay bị cáo đang mắc bệnh hiểm nghèo; Kiểm sát viên tại phiên tòa còn đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại điều 57 và điều 54 Bộ luật hình sự và đề nghị hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo như đã nêu trên là phù hợp được Hội đồng xét xử chấp nhận;

Lời đề nghị của trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo đã thể hiện tính nhân đạo là phù hợp được Hội đồng xét xử chấp nhận;

Căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng như đã phân tích nêu trên; Trên cơ sở thể hiện sự nghiêm minh cũng như thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo và làm gương cho người khác.

8. Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 điều 123 Bộ luật Hình sự còn quy định về hình phạt bổ sung; Kiểm sát viên tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp được Hội đồng xét xử chấp nhận.

9. Về vật chứng: Đối với các giấy tờ mà bị cáo H làm giả mang tên Nguyễn Văn Đ nay đã được cơ quan điều tra thu giữ để lưu hồ sơ vụ án là phù hợp; Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Simson màu trắng, biển số 29 - 445 SK ngày 26/7/1998 Công an huyện T đã bàn giao cho gia đình anh Nguyễn Văn T2 do anh Nguyễn Xuân D là đại diện đã nhận lại là phù hợp.

10. Trách nhiệm dân sự: Bị cáo H và anh T2 đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường, cụ thể bị cáo H đã bồi thường cho anh T2 số tiền 5.000.000đ, anh T2 đã nhận đủ nên cần được ghi nhận.

11. Về án phí: Bị cáo H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật nhưng bị cáo thuộc diện hộ nghèo nên cần miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 123; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51, điều 57, điều 54, điều 55, điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 đối với bị cáo Hoàng Văn H.

Căn cứ khoản 1 Điều 151 Bộ luật Hình sự 1985 sửa đổi bổ sung 1989; Điểm s khoản 1,2 điều 51; điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 đối với bị cáo Hoàng Văn H

Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn H phạm tội “Giết người” và phạm tội “Cướp tài sản của công dân”.

Xử phạt bị cáo Hoàng Văn H 06 (S) năm tù về tội “Giết người”

Xử phạt bị cáo Hoàng Văn H 03 (Ba) năm tù về tội “Cướp tài sản của công dân”

Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Hoàng Văn H phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 09 (Chín) năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, được trừ đi 03 ngày tạm giữ từ ngày 18/01/2023 đến 21/01/2023.

Về xử lý vật chứng; Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự:

Tịch thu lưu hồ sơ vụ án 01 (một) Giấy chứng minh nhân dân số [...], 01 (một) Căn cước công dân số [...], 01 (một) Giấy phép lái xe số [...] mang tên Nguyễn Văn Đ, sinh ngày 01/01/1971, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: T, huyện Đ, tỉnh Đak Nông;

Xác nhận gia đình anh Nguyễn Văn T2 do anh Nguyễn Xuân D đã nhận lại 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Simson màu trắng, biển số 29 - 445 SK ngày 26/7/1998 do Công an huyện T giao trả.

Về trách nhiệm dân sự; Áp dụng điều 48 của Bộ luật Hình sự: Ghi nhận sự thỏa thuận của bị cáo Hoàng Văn H và bị hại anh Nguyễn Văn T2 cụ thể như sau: Bị cáo Hoàng Văn H đã bồi thường cho anh Nguyễn Văn T2 số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng) xác nhận anh Nguyễn Văn T2 đã nhận đủ số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng) do bị cáo Hoàng Văn H bồi thường.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Khoản 1 Điều 21, điểm a, khoản 1 Điều 23, điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Hoàng Văn H.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Cấp Cao tại Hà Nội để yêu cầu xét xử theo trình tự phúc thẩm; Bị hại vắng mặt được quyền kháng lên Tòa án nhân dân Cấp Cao tại Hà Nội để yêu cầu xét xử theo trình tự phúc thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • TAND Cấp cao tại Hà Nội;
  • VKSND Cấp cao tại Hà Nội;
  • VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • Sở Tư pháp tỉnh Phú Thọ;
  • PV 06 Công an tỉnh;
  • Cơ quan THAHS tỉnh Phú Thọ;
  • UBND nơi b/c cư trú;
  • Bị hại;
  • Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Xuân Trường

11

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 38/2024/HSST ngày 25/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về vụ án hình sự về tội giết người và cướp tài sản của công dân

  • Số bản án: 38/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Giết người và Cướp tài sản của công dân
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo phạm tội “Giết người” và phạm tội “Cướp tài sản của công dân”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger