Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN SƠN DƯƠNG

TỈNH TUYÊN QUANG

Bản án số: 38/2024/HS-ST

Ngày 25-4-2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Cường.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Quang.

2. Ông Ma Quốc Thể.

Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Trần Thị Minh Hà – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Hữu Trí – Kiểm sát viên.

Trong các ngày 22-4-2024 và ngày 25-4-2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 32/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 4 năm 2024 đối với:

Bị cáo: NGUYỄN ĐỨC TIỆP - Sinh ngày: 17-02-1994 tại huyện S, tỉnh Tuyên Quang.

Nơi cư trú: Thôn T, xã Q, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông: Nguyễn Đức C – Sinh năm: 1965; Con bà: Nguyễn Thị M – Sinh năm: 1969; Vợ: Ngô Nhật L – Sinh năm: 2001; Con: Có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2021, con nhỏ nhất sinh năm 2023.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo Nguyễn Đức T đang được tại ngoại theo Quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn số: 41/2024/HSST ngày 01 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

- Anh Nguyễn Hồng P – Sinh năm: 1985; Địa chỉ: Thôn L, xã Q, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Vắng mặt.

- Anh Lương Văn Đ – Sinh năm: 1982; Địa chỉ: Thôn T, xã Q, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Vắng mặt.

- Chị Đinh Thị Thùy D – Sinh năm: 1994; Địa chỉ: Thôn T, xã Q, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Vắng mặt.

- Anh Vũ Văn N – Sinh năm: 1995; Địa chỉ: Thôn L, xã Q, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong khoảng thời gian từ tháng 4-2022 đến tháng 01-2024, bị cáo Nguyễn Đức T đã sử dụng tiền cá nhân của mình để cho nhiều người trên địa bàn xã Q, huyện S, tỉnh Tuyên Quang vay tiền với mức lãi suất cao, để thu lợi bất chính. Việc cho vay và nhận tiền lãi bằng tiền mặt được T ghi tại 01 quyển sổ về thông tin người vay, số tiền vay, ngày vay tiền, ngày trả tiền. Khi vay tiền, người vay đến nhà gặp bị cáo T để thỏa thuận số tiền vay, thời gian vay, mức lãi suất và hình thức trả lãi. Bị cáo T đã sử dụng số tiền 22.000.000 đồng của mình để quay vòng cho vay lãi, cụ thể như sau:

1. Cho anh Nguyễn Hồng P vay tiền 02 lần với lãi suất là 5.000 đồng/1.000.000 đồng tiền gốc/ngày, tính theo chu kỳ 30 ngày trả tiền lãi một lần, cụ thể:

  • Lần 1: Ngày 08-8-2022, bị cáo T cho anh P vay số tiền 3.000.000 đồng, thời gian vay 30 ngày, tính đến ngày 06-9-2022. Bị cáo T đưa cho anh P 2.550.000 đồng, bị cáo T cắt tiền lãi trước là 450.000 đồng (Trong đó: Tiền lãi theo quy định là 49.000 đồng, tiền lãi thu lợi bất chính là 401.000 đồng).
  • Lần 2: Ngày 29-8-2022, bị cáo T cho anh P vay thêm 3.000.000 đồng, bị cáo T cắt lãi trước số tiền 135.000 đồng là tiền lãi của 09 ngày (từ ngày 29-8-2022 đến ngày 06-9-2022) (Trong đó: Tiền lãi theo quy định là 15.000 đồng, tiền lãi thu lợi bất chính là 120.000 đồng).

Từ ngày 07-9-2022, bị cáo T gộp hai khoản vay của anh P thành một khoản vay là 6.000.000 đồng, tính tiền lãi đến ngày 30-12-2023 là 480 ngày. Số tiền lãi bị cáo T đã thu là 14.400.000 đồng (Trong đó: Tiền lãi theo quy định là 1.578.000 đồng, tiền lãi thu lợi bất chính là 12.822.000 đồng).

Như vậy, tổng số tiền bị cáo T cho anh P vay là 6.000.000 đồng, tổng số tiền lãi bị cáo T đã thu của anh P là 14.985.000 đồng (Trong đó: Tiền lãi theo quy định là 1.642.000 đồng, tiền lãi thu lợi bất chính là 13.343.000 đồng). Anh P đã trả cho T 6.000.000 đồng tiền gốc.

2. Cho anh Lương Văn Đ vay tiền 03 lần, với lãi suất là 5.000đồng/1.000.000 đồng tiền gốc/ngày, tính lãi theo chu kỳ 30 ngày trả lãi một lần, cụ thể:

  • Lần 1: Ngày 15-5-2023, bị cáo T cho anh Đ vay số tiền 3.000.000 đồng, thời gian vay 30 ngày, tính đến ngày 13-6-2023. Số tiền lãi bị cáo T đã thu là 450.000 đồng (Trong đó: Tiền lãi theo quy định là 49.000 đồng, tiền lãi thu lợi bất chính là 401.000 đồng).
  • Lần 2: Ngày 07-6-2023, anh T cho anh Đ vay thêm số tiền 3.000.000 đồng, bị cáo T cắt lãi trước số tiền 105.000 đồng là tiền lãi của 07 ngày (từ ngày 07-6-2023 đến ngày 13-6-2023) (Trong đó: Tiền lãi theo quy định là 12.000 đồng, tiền lãi thu lợi bất chính là 93.000 đồng).

Từ ngày 14-6-2023, bị cáo T gộp 02 khoản vay của anh Đ thành khoản vay 6.000.000 đồng, tính lãi đến ngày 13-7-2023 là 30 ngày. Số tiền lãi bị cáo T đã thu là 900.000 đồng (Trong đó: Tiền lãi theo quy định là 99.000 đồng, tiền lãi thu lợi bất chính là 801.000 đồng).

  • Lần 3: Ngày 23-6-2023, bị cáo T cho anh Đ vay thêm số tiền 2.000.000 đồng, bị cáo T cắt lãi trước 200.000 đồng là tiền lãi của 20 ngày (từ ngày 23-6-2022 đến ngày 13-7-2023) (Trong đó: Tiền lãi theo quy định là 22.000 đồng, tiền lãi thu lợi bất chính là 178.000 đồng).

Từ ngày 14-7-2023, bị cáo T gộp các khoản vay của anh Đ thành một khoản vay là 8.000.000 đồng, tính lãi đến ngày 10-12-2023 là 150 ngày. Số tiền lãi bị cáo T đã thu của anh Đ là 6.000.000 đồng (Trong đó: Tiền lãi theo quy định là 658.000 đồng, tiền lãi thu lợi bất chính là 5.342.000 đồng).

Ngày 10-12-2023, anh Đ trả cho bị cáo T 2.000.000 đồng tiền gốc, còn nợ lại bị cáo T 6.000.000 đồng tiền gốc. Anh Đ trả cho bị cáo T tiền lãi của khoản vay 6.000.000 đồng từ ngày 11-12-2023 đến ngày 09-01-2024 là 30 ngày. Số tiền lãi bị cáo T đã thu của anh Đ là 900.000 đồng (Trong đó: Tiền lãi theo quy định là 99.000 đồng, tiền lãi thu lợi bất chính là 801.000 đồng). Ngày 30-01-2024, anh Đ đã trả cho bị cáo T 6.000.000 đồng tiền gốc.

Như vậy, tổng số tiền bị cáo T cho anh Đ vay là 8.000.000 đồng, tổng số tiền lãi bị cáo T đã thu của anh Đ là 8.555.000 đồng (Trong đó: Tiền lãi theo quy định là 939.000 đồng, tiền lãi thu lợi bất chính là 7.616.000 đồng).

3. Cho chị Đinh Thị Thùy D vay tiền 02 lần, với lãi suất là 5.000 đồng/1.000.000 đồng tiền gốc/ngày, tính theo chu kỳ 30 ngày trả lãi một lần, cụ thể:

  • Lần 1: Ngày 08-4-2022, bị cáo T cho chị D vay số tiền 2.000.000 đồng, tính lãi đến ngày 01-6-2023 là 420 ngày. Số tiền lãi bị cáo T đã thu là 4.200.000 đồng (Trong đó: Tiền lãi theo quy định là 460.000 đồng, tiền lãi thu lợi bất chính là 3.740.000 đồng).
  • Lần 2: Ngày 09-5-2023, bị cáo T cho chị D vay số tiền 1.000.000 đồng, bị cáo T cắt lãi trước 120.000 đồng là tiền lãi của 24 ngày (từ ngày 09-5-2023 đến ngày 01-6-2023) (Trong đó: Tiền lãi theo quy định là 13.000 đồng, tiền lãi thu lợi bất chính là 107.000 đồng).

Từ ngày 02-6-2023, bị cáo T gộp 02 khoản vay thành 01 khoản vay là 3.000.000 đồng, tính lãi đến ngày 28-11-2023 là 180 ngày. Số tiền lãi bị cáo T đã thu là 2.700.000 đồng (Trong đó: Tiền lãi theo quy định là 296.000 đồng, tiền lãi thu lợi bất chính là 2.404.000 đồng). Ngày 30-01-2024, chị D đã trả cho bị cáo T 3.000.000 đồng tiền gốc.

Như vậy, tổng số tiền bị cáo T cho chị D vay là 3.000.000 đồng, tổng số tiền lãi bị cáo T đã thu của chị D là 7.020.000 đồng (Trong đó: Tiền lãi theo quy định là 769.000 đồng, tiền lãi thu lợi bất chính là 6.251.000 đồng).

4. Cho anh Vũ Văn N vay tiền ngày 09-10-2022 số tiền 5.000.000 đồng, với lãi suất 5.000 đồng/1.000.000 đồng tiền gốc/ngày, tính lãi theo chu kỳ 30 ngày trả tiền lãi một lần. Đến ngày 01-01-2024, anh N mới trả lãi là 450 ngày. Số tiền lãi bị cáo T đã thu là 11.250.000 đồng (Trong đó: Tiền lãi theo quy định là 1.233.000 đồng, tiền lãi thu lợi bất chính là 10.017.000 đồng). Anh N đã trả cho bị cáo T 5.000.000 tiền gốc.

Tổng số tiền, bị cáo Nguyễn Đức T sử dụng quay vòng cho anh Nguyễn Hồng P, anh Lương Văn Đ, chị Đinh Thị Thùy D và anh Vũ Văn N vay là 22.000.000 đồng, với mức lãi suất 5.000 đồng/1.000.000 đồng tiền gốc/ngày. Tổng số tiền lãi bị cáo T đã thu 41.810.000 đồng (Trong đó: Tiền lãi theo quy định là 4.583.000 đồng, tiền lãi thu lợi bất chính là 37.227.000 đồng). Tương đương mức lãi suất 182,5%/năm, gấp 9,125 lần so với lãi suất tối đa quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự.

Tại Kết luận giám định số: 351/KL-KTHS ngày 04-3-2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Chữ số, chữ viết trên mẫu cần giám định ký hiệu A1 (giấy ghi tiền cho vay và thu lãi) với chữ số, chữ viết đứng tên Nguyễn Đức T trên mẫu so sánh ký hiệu M1 là do cùng một người viết.

Tại cáo trạng số: 37/CT-VKSSD ngày 01 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Đức T về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang thực hành quyền công tố, có quan điểm giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Đức T. Đưa ra chứng cứ đánh giá mức độ hành vi phạm tội và thái độ thành khẩn khai báo của bị cáo cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang đề nghị với HĐXX:

Về tội danh: Tuyên bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 201; điểm b, điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật hình sự. Xử phạt tiền bị cáo Nguyễn Đức T số tiền từ 50.000.000₫ đến 70.000.000₫.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tiếp tục lưu trữ tài liệu, giấy tờ liên quan đến hành vi phạm tội theo hồ sơ vụ án:

04 tờ giấy có dòng kẻ ngang ghi nhiều chữ và số màu đen có chữ ký xác nhận của bị cáo Nguyễn Đức T.

Về biện pháp tư pháp:

Truy thu sung vào ngân sách nhà nước khoản tiền người phạm tội dùng để cho vay:

Truy thu của bị cáo Nguyễn Đức T số tiền 22.000.000₫.

Truy thu sung vào ngân sách nhà nước khoản tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự mà người phạm tội đã thu của người vay:

Truy thu của bị cáo Nguyễn Đức T số tiền 4.583.000₫.

Về án phí và quyền kháng cáo: Theo quy định của pháp luật.

Phần tranh luận tại phiên tòa: Bị cáo Nguyễn Đức T nhất trí với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đưa ra tại phiên tòa.

Quyền của bị cáo được nói lời sau cùng: Bị cáo Nguyễn Đức T đã nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Đức T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của bị cáo Nguyễn Đức T khai phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án; phù hợp với Kết luận giám định, vật chứng thu giữ cùng với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.

Như vậy đã có đủ cơ sở để kết luận: Trong khoảng thời gian từ tháng 04-2022 đến tháng 01-2024, bị cáo Nguyễn Đức T đã có hành vi sử dụng số tiền 22.000.000 đồng của mình để quay vòng cho 04 người vay tiền với mức lãi suất 5.000 đồng/1.000.000 đồng tiền gốc/ 01 ngày để thu lời bất chính. Tổng số tiền lãi bị cáo T thu được là 41.810.000 đồng (Trong đó: Tiền lãi theo quy định là 4.583.000 đồng; tiền lãi thu lời bất chính là 37.227.000 đồng). Tương đương lãi suất 182,5 % /01 năm, gấp 9,125 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định tại điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, cụ thể như sau:

1. Bị cáo T cho anh Nguyễn Hồng P vay tiền 02 lần:

  • Lần 1: Ngày 08-8-2022, bị cáo T cho anh P vay số tiền 3.000.000 đồng, số ngày vay là 30 ngày, số tiền lãi đã thu được là 450.000 đồng.
  • Lần 2: Ngày 29-8-2022, bị cáo T cho anh P vay số tiền 3.000.000 đồng, số ngày vay là 09 ngày, tiền lãi thu được là 135.000 đồng. Từ ngày 07-9-2023, gộp 02 khoản vay thành khoản vay 6.000.000 đồng, số ngày vay là 480 ngày, số tiền lãi thu được là 14.400.000 đồng. Anh P đã trả cho bị cáo T 6.000.000 đồng tiền gốc.

2. Bị cáo T cho anh Lương Văn Đ vay tiền 03 lần:

  • Lần 1: Ngày 15-5-2023, bị cáo T cho anh Đ vay số tiền 3.000.000 đồng, số ngày vay là 30 ngày, số tiền lãi thu được là 450.000 đồng.
  • Lần 2: Ngày 07-6-2023, bị cáo T cho anh Đ vay số tiền 3.000.000 đồng, số ngày vay là 07 ngày, số tiền lãi thu được là 105.000 đồng. Đến ngày 14-6-2023, gộp 02 khoản vay thành khoản vay 6.000.000 đồng, số ngày vay là 30 ngày, số tiền lãi thu được là 900.000 đồng.
  • Lần 3: Ngày 23-6-2023, bị cáo cho anh Đ vay thêm số tiền 2.000.000 đồng, số ngày vay là 20 ngày, số tiền lãi thu được là 200.000 đồng. Từ ngày 14-7-2023, gộp các khoản vay thành 8.000.000 đồng, số ngày vay là 150 ngày, số tiền lãi bị cáo T đã thu được là 6.000.000 đồng. Ngày 10-12-2023, anh Đ trả bị cáo T 2.000.000 đồng tiền gốc; nợ lại 6.000.000 đồng tiền gốc, số ngày vay là 30 ngày, số tiền lãi thu được là 900.000 đồng. Ngày 30-01-2024, anh Đ đã trả cho T 6.000.000 đồng tiền gốc.

3. Bị cáo T cho chị Đinh Thị Thùy D vay tiền 02 lần:

  • Lần 1: Ngày 08-4-2022, bị cáo T cho chị D vay số tiền 2.000.000 đồng, số ngày vay là 420 ngày, số tiền lãi thu được là 4.200.000 đồng.
  • Lần 2: Ngày 09-5-2023, bị cáo T cho chị D vay số tiền 1.000.000 đồng, số ngày vay là 24 ngày, số tiền lãi thu được là 120.000 đồng. Từ ngày 02-6-2023, gộp 02 khoản vay thành khoản vay 3.000.000 đồng, số ngày vay là 180 ngày, số tiền lãi thu được là 2.700.000 đồng. Ngày 30-01-2024, chị D đã trả cho bị cáo T 3.000.000 đồng tiền gốc.

4. Ngày 09-10-2022, bị cáo T cho anh Vũ Văn N vay số tiền 5.000.000 đồng, số ngày vay là 450 ngày, số tiền lãi thu được là 11.250.000 đồng.

Bị cáo Nguyễn Đức T là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi cho người khác vay tiền với lãi suất nặng với lỗi cố ý, trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của nhà nước về tín dụng. Bị cáo cho người khác vay tiền với lãi suất cao gấp 9,125 lần mức lãi xuất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự, thu lợi bất chính số tiền 37.227.000đ.

Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2] Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa ngày hôm nay, bị cáo Nguyễn Đức T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo tự nguyện khắc phục hậu quả (tự nguyện trả lại số tiền thu lợi bất chính cho những người vay); bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án (những người vay tiền) xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo do vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ hình phạt khi lượng hình theo quy định tại điểm b, điểm i, điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[3] Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Đức T không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4] Về hình phạt bổ sung: HĐXX xét thấy bị cáo Nguyễn Đức T làm nghề lao động tự do; thu nhập không ổn định; bị cáo không có tài sản có giá trị; đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[5] Tính chất và mức độ của hành vi phạm tội: Xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Đức T là nguy hiểm cho xã hội; không những đã xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước về lĩnh vực tín dụng mà hành vi của bị cáo còn mang tính chất bóc lột, làm cho người vay tiền lâm vào hoàn cảnh khó khăn; gây tâm lý hoang mang, lo lắng, bất bình trong quần chúng nhân dân; làm ảnh hưởng xấu đến công tác đấu tranh, phòng chống các tệ nạn xã hội. Bản thân bị cáo ý thức được hành vi cho vay lãi nặng là hành vi bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng vì mục đích hám lợi và thái độ coi thường pháp luật nên bị cáo đã bất chấp để thực hiện. Hội đồng xét xử thấy rằng cần lên một mức án nghiêm minh, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi mà bị cáo đã gây ra để bị cáo lấy đó là một bài học tu dưỡng, rèn luyện bản thân trở thành công dân có ích cho xã hội, góp phần đảm bảo an ninh trật tự cũng như phòng ngừa tội phạm trong gia đình, cộng đồng và xã hội.

[6] Về vật chứng:

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh T tạm giữ 04 tờ giấy có đường kẻ ngang ghi nhiều chữ và số màu đen. HĐXX xét thấy, đây là những tờ giấy bị cáo T ghi lại về thông tin người vay, số tiền vay, ngày vay tiền, ngày trả tiền. Do vậy, đây là giấy tờ, tài liệu liên quan đến liên quan đến hành vi cho vay lãi nặng của bị cáo Nguyễn Đức T nên cần tiếp tục tịch thu, lữu trữ trong hồ sơ vụ án.

Theo quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

[7] Về biện pháp tư pháp: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định được:

- Bị cáo Nguyễn Đức T đã có hành vi sử dụng số tiền 22.000.000đ để cho anh Nguyễn Hồng P, anh Lương Văn Đ, chị Đinh Thị Thùy D và anh Vũ Văn N vay lãi nặng nhằm thu lợi bất chính. Những người vay đã hoàn trả lại cho bị cáo T toàn bộ số tiền gốc đã vay. HĐXX xét thấy, toàn bộ số tiền trên là số tiền gốc bị cáo T cho những người khác vay dưới hình thức cho vay lãi nặng nhằm thu lợi bất chính, là hành vi vi phạm pháp luật nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Truy thu sung vào ngân sách nhà nước khoản tiền người phạm tội dùng để cho vay:

Truy thu của bị cáo Nguyễn Đức T số tiền 22.000.000đ.

- Quá trình cho vay lãi nặng, bị cáo Nguyễn Đức T nhiều lần thu tiền lãi (những người vay trả tiền lãi) của những người vay tiền. HĐXX xét thấy, trong số tiền lãi bị cáo T nhận của những người vay tiền có khoản tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự. Đây là số tiền phát sinh từ hành vi phạm tội nên cần tịch sung vào ngân sách nhà nước khoản tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự.

Tổng số tiền lãi cao nhất cho phép theo quy định của Bộ luật Dân sự đối với khoản tiền bị cáo T cho anh P vay là 1.642.000 đồng.

Tổng số tiền lãi cao nhất cho phép theo quy định của Bộ luật dân sự đối với khoản tiền bị cáo T cho anh Đ vay là 939.000 đồng.

Tổng số tiền lãi cao nhất cho phép theo quy định của Bộ luật dân sự đối với khoản tiền bị cáo T cho chị D vay là 769.000 đồng.

Tổng số tiền lãi cao nhất cho phép theo quy định của Bộ luật dân sự đối với khoản tiền bị cáo T cho anh N vay là 1.233.000 đồng.

Truy thu sung vào ngân sách nhà nước khoản tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự mà người phạm tội đã thu của người vay:

Truy thu của bị cáo Nguyễn Đức T số tiền 4.583.000đ.

- Quá trình cho vay lãi nặng, bị cáo Nguyễn Đức T nhiều lần thu tiền lãi (những người vay trả tiền lãi) của những người vay tiền. HĐXX xét thấy, trong số tiền lãi bị cáo T nhận của những người vay tiền, ngoài khoản tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự thì toàn bộ số tiền còn lại là số tiền thu lợi bất chính từ việc cho người vay tiền vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (vượt quá mức lãi suất 20%/năm). Quá trình điều tra, bị cáo T đã trả lại toàn bộ số tiền thu lợi bất chính cho những người vay. Bị cáo T và những người vay đều không có đề nghị gì thêm. Do vậy, HĐXX không xem xét, giải quyết.

Theo quy định tại Điều 46; Điều 47; Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 5 Nghị quyết số: 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20-12-2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao “Hướng dẫn áp dụng Điều 201 của Bộ luật hình sự và việc xét xử vụ án hình sự về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

[7] Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Đức T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21, khoản 1 Điều 23 theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 “quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”.

[8] Quyền kháng cáo: Bị cáo; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

[9] Về hành vi tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, HĐXX nhận thấy Cơ quan điều tra; Điều tra viên; Viện kiểm sát; Kiểm sát viên đã thực hiện hành vi, quyết định tố tụng về khởi tố vụ án, khởi tố bị can, áp dụng biện pháp ngăn chặn, ra quyết định truy tố; thu thập chứng cứ tài liệu, vật chứng đã khách quan, phù hợp với quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do vậy các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Khoản 1 Điều 201; điểm b, điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật hình sự;

Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự;

Điều 106; Khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Điều 21, khoản 1 Điều 23 theo Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 “Quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”.

Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Xử phạt tiền bị cáo Nguyễn Đức T số tiền 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng).

Về vật chứng:

Tiếp tục lưu trữ tài liệu, giấy tờ liên quan đến hành vi phạm tội theo hồ sơ vụ án:

04 tờ giấy có dòng kẻ ngang ghi nhiều chữ và số màu đen có chữ ký xác nhận của bị cáo Nguyễn Đức T.

Về biện pháp tư pháp:

Truy thu sung vào ngân sách nhà nước khoản tiền người phạm tội dùng để cho vay:

Truy thu của bị cáo Nguyễn Đức T số tiền 22.000.000đ (Hai mươi hai triệu đồng).

Truy thu sung vào ngân sách nhà nước khoản tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự mà người phạm tội đã thu của người vay:

Truy thu của bị cáo Nguyễn Đức T số tiền 4.583.000đ (Bốn triệu năm trăm tám mươi ba nghìn đồng).

Về án phí:

Buộc bị cáo Nguyễn Đức T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo:

Bị cáo Nguyễn Đức T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 25-4-2024).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Nguyễn Hồng P, anh Lương Văn Đ, chị Đinh Thị Thùy D và anh Vũ Văn N có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - VKSND huyện Sơn Dương;
  • - VKSND tỉnh Tuyên Quang;
  • - Công an huyện Sơn Dương;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang;
  • - Sở tư pháp tỉnh Tuyên Quang;
  • - Chi cục THADS huyện Sơn Dương;
  • - Lưu hs, hstha, vp.

T-M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Việt Cường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 38/2024/HS-ST ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG về hình sự sơ thẩm về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: 38/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đức Tiệp
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger