TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Bản án số: 38/2024/HS-ST Ngày 24-9-2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Hoàng
Các Hội thẩm nhân dân.
Ông Nguyễn Khắc Quyết
Bà Đỗ Thị Viện
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Phúc Bình - Thư ký Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Vũ Duy Ninh - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại: Trụ sở Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng; địa chỉ: Ngõ B đường N, tổ dân phố số I, phường N, quận Đ, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai trực tiếp vụ án hình sự thụ lý số 36/2024/TLST-HS ngày 04/9/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2024/QĐXXST-HS ngày 11/9/2024 đối với bị cáo:
NGUYỄN VĂN THỂ
NGUYỄN VĂN THỂ, sinh ngày 07 tháng 7 năm 1970 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường H, quận Đ, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu L, sinh năm 1932 (đã chết) và bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1938; bị cáo có vợ lên Phạm Thị H, sinh năm 1973; bị cáo có 03 con, con thứ nhất sinh năm 1993, con thứ ba sinh năm 2008; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 10/7/2024; có mặt.
- Bị hại: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1977; nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường H, quận Đ, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Duy N, sinh năm 1958 - Luật sư Văn phòng L1 - Đoàn Luật sư thành phố H; địa chỉ Văn phòng: Số G P, quận H, thành phố Hải Phòng; có mặt.
- Người làm chứng: Chị Phạm Thị H, có mặt; anh Nguyễn Văn T1, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Gia đình Nguyễn Văn T2 và gia đình chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1977, nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường H, quận Đ, thành phố Hải Phòng đều có mộ phần của thành viên trong gia đình được xây dựng trong Nghĩa trang N1 thuộc tổ dân phố T, phường H, quận Đ, thành phố Hải Phòng. Vị trí khuôn viên của hai khu mộ giáp liền kề nhau. Khoảng tháng 4/2023, gia đình chị T tiến hành cải tạo lại khuôn viên khu mộ, làm lại nền sàn mộ, xây, lắp tường bao bằng đá xung quanh khuôn viên mộ. Việc cải tạo hoàn thiện vào khoảng cuối tháng 4/2023. Ngày 26/01/2024, Nguyễn Văn T2 đi ra mộ của con trai, T2 cho rằng phần nền mộ và tường đá bao quanh khu mộ của gia đình chị T xây dựng đè lên đai mộ của con trai T2, gây hư hỏng. Thể đến gặp anh Nguyễn Văn T1 (là anh chồng của chị T), sinh năm 1973; nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường H, quận Đ, thành phố Hải Phòng yêu cầu anh T1 nói với gia đình chị T phải tháo dỡ nền mộ, tường đá đè lên đai mộ của con trai T2, nếu gia đình chị T không làm, T2 sẽ tự tháo dỡ. Đến ngày 04/02/2024, do không thấy gia đình chị T thực hiện yêu cầu của mình, nên khoảng 10 giờ cùng ngày, T2 cầm 01 thanh kim loại (xà beng) dài 1,13 m, đường kính 2,5 cm đến Nghĩa trang. Thể dùng xà beng chọc, cạy phá một phần nền sàn mộ (kích thước: chiều dài 1,85 m; chiều rộng phần trên 28 cm, chiều rộng phần dưới 22 cm; chiều cao 11 cm); tháo dỡ làm hư hỏng một số bộ phận của tường đá bao quanh nền sàn mộ của người thân chị T. Sau đó, T2 đi về nhà nói với vợ (chị Phạm Thị H) biết việc T2 đã thực hiện hành vi như nêu trên.
Ngày 06/02/2024, chị T đến khu mộ của người thân, phát hiện sự việc nêu trên, nên đã trình báo với Công an phường H, quận Đ; ngày 07/3/2024, Nguyễn Văn T2 giao nộp Cơ quan điều tra 01 thanh kim loại (xà beng) đã sử dụng vào việc làm hư hỏng tài sản của gia đình chị T.
Tại Kết luận định giá tài sản số 09/KL-HĐĐGTS ngày 17/4/2024 của Hội đồng định giá thường xuyên tài sản trong tố tụng hình sự quận Đ kết luận:
“Nền sàn mộ bị đục phá kích thước: chiều dài 1,85 m; chiều rộng phần trên 28 cm, chiều rộng phần dưới 22 cm; chiều cao 11 cm. Nền sàn mộ làm bằng gạch đỏ giếng đáy. Phía dưới sàn đổ bê tông dày 10 cm có giá 183.813 đồng. Một số bộ phận bằng đá được điêu khắc, trạm chổ và lắp dựng tạo thành tường rào bao quanh sân mộ có giá 8.451.520 đồng. Tổng trị giá tài sản đề nghị định giá: 8.635.333 đồng”.
Vật chứng thu giữ: 01 thanh kim loại (xà beng) dài 113 cm, đường kính 2,5 cm; một số mảnh vỡ bê tông chuyển Chi cục Thi hành án dân sự quận Đồ Sơn quản lý.
Về trách nhiệm dân sự: Chị Nguyễn Thị T không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại tài sản và khắc phục thêm hậu quả nào khác (theo Biên bản lấy lời khai chị T ngày 08/8/2024 tại trụ sở Công an quận Đ, thành phố Hải Phòng - Bút lục số 101 - 102).
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn T2 khai nhận như nội dung nêu trên. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các lời khai của bị hại, người làm chứng, vật chứng thu giữ, Kết luận định giá tài sản và tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Tại bản Cáo trạng số 34/CT-VKSĐS ngày 29/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn truy tố Nguyễn Văn T2 về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản” của bị hại, các tình tiết khác có liên quan như nội dung vụ án đã nêu và khai: Bị cáo làm nghề câu C, đánh chuyển trồng cây thuê, thu nhập khoảng 300.000 đồng đến 400.000 đồng/ngày nhưng thu nhập không ổn định do không có việc làm thường xuyên; bị cáo có bố đẻ được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhì và có bố vợ được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhất; bị cáo trình bày, khẳng định sẽ tự nguyện bồi thường bị hại 10.000.000 đồng để khắc phục hậu quả.
Sau quá trình thẩm vấn, đánh giá tính chất của vụ án cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân của bị cáo; đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn trình bày luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng; đề xuất với Hội đồng xét xử về loại hình phạt, mức hình phạt, xử lý vật chứng, các vấn đề khác trong vụ án như sau:
- - Áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Văn T2 từ 09 (chín) đến 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Giao bị cáo T2 cho Ủy ban nhân dân phường H, quận Đ, thành phố Hải Phòng giám sát, giáo dục. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục.
- Không khấu trừ một phần thu nhập đối với bị cáo theo quy định tại khoản 3 Điều 36 Bộ luật Hình sự do bị cáo làm lao động tự do, không có thu nhập ổn định.
- - Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu huỷ: 01 thanh kim loại (xà beng) dài 113 cm, đường kính 2,5 cm; một số mảnh vỡ bê tông theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/9/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Đồ Sơn.
- - Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường, nên không xem xét. Tại phiên tòa, bị cáo trình bày, khẳng định sẽ tự nguyện bồi thường bị hại 10.000.000 đồng để khắc phục hậu quả. Đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện này của bị cáo.
- - Về án phí:
Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo phải nộp 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Người bào chữa - Ông N trình bày nội dung bào chữa cho bị cáo:
Về tội danh:
Tôi không có ý kiến tranh tụng gì thêm vì bản thân bị cáo đã nhận tội phù hợp với hiện trường, phù hợp với vật chứng, cũng như lời khai của bị hại và người làm chứng.
Về mức hình phạt:
Bị cáo không hiểu biết việc làm của mình là vi phạm pháp luật, đến khi được các cơ quan tiến hành tố tụng giải thích, bị cáo mới nhận rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã nhận thức được vấn đề đó và hứa với Hội đồng xét xử sau này sẽ không bao giờ tái phạm nữa. Như vậy việc bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nhưng chưa nhận thức được tính chất nguy hiểm về hành vi của mình. Hành vi của bị cáo thuộc nhóm tội ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo đã nhiều lần cùng vợ và gia đình đến xin lỗi gia đình bị hại, hòa giải mâu thuẫn và tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại. Bị cáo có bố đẻ và bố vợ là người có công với cách mạng. Tại phiên tòa ngày hôm nay, bị cáo tự nguyện bồi thường bị hại 10.000.000 đồng, đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận và tạo điều kiện cho bị cáo được thực hiện nguyện vọng này. Từ những phân tích ở trên, tôi đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đã đề xuất. Bị cáo cam kết sẽ đồng hành cùng gia đình bị hại sửa chữa khu mộ, giữ gìn đoàn kết và phù hợp với tâm linh, phù hợp với nguyện vọng của hai gia đình và xã hội.
Sau khi đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội, đề xuất với Hội đồng xét xử về loại hình phạt, mức hình phạt, xử lý vật chứng, các vấn đề khác trong vụ án. Bị cáo không tự bào chữa, không tranh luận, nhờ người bào chữa tranh luận, đối đáp giúp bị cáo. Bị cáo thể hiện thái độ ăn năn hối cải, xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Đ, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[1.1] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Chị T - Bị hại, anh T1 - người làm chứng đều vắng mặt tại phiên tòa, đã được triệu tập hợp lệ. Tuy nhiên, họ đã có lời khai đầy đủ; chị T không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại tài sản và khắc phục thêm hậu quả nào khác (theo Biên bản lấy lời khai chị T ngày 08/8/2024 tại trụ sở Công an quận Đ, thành phố Hải Phòng - Bút lục số 101 - 102); phù hợp với lời khai của bị cáo; các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Xác định, sự vắng mặt đó không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ như đề nghị của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, Kiểm sát viên tại phiên tòa theo quy định tại các điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Về tội danh, điều luật áp dụng:
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; phù hợp với các lời khai của bị hại, lời khai của những người làm chứng; vật chứng thu giữ, Kết luận định giá tài sản, sơ đồ, bản ảnh hiện trường và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Khoảng 10 giờ ngày 04/02/2024, tại Nghĩa trang N1 thuộc tổ dân phố T, phường H, quận Đ, thành phố Hải Phòng, Nguyễn Văn T2 có hành vi dùng xà beng cạy phá một phần nền mộ, tường bao bằng đá thuộc khu mộ của thành viên trong gia đình chị Nguyễn Thị T, gây thiệt hại tài sản có trị giá 8.635.333đ (Tám triệu, sáu trăm ba mươi lăm nghìn, ba trăm ba mươi ba đồng) theo Kết luận định giá tài sản số 09/KL-HĐĐGTS ngày 17/4/2024 của Hội đồng định giá thường xuyên tài sản trong tố tụng hình sự quận Đ. Vì vậy, hành vi của bị cáo đã có đủ các yếu tố cấu thành tội "Cố ý làm hư hỏng tài sản" theo quy định tại Điều 178 Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết định khung:
[3] Với hành vi nêu trên của bị cáo, xác định: Bị cáo có hành vi “dùng xà beng cạy phá một phần nền mộ, tường bao bằng đá thuộc khu mộ của gia đình bị hại, gây thiệt hại 8.635.333 đồng”. Nên bị cáo phải chịu tình tiết định khung theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự: “……… cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng...”. Do đó, Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo chưa có tiền sự, tiền án, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; có bố đẻ được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhì, bố vợ được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhất. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Xét các đề xuất của Kiểm sát viên, ý kiến của bị cáo, đề nghị của người bào chữa cho bị cáo cùng đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo về việc bị cáo sẽ bồi thường bị hại 10.000.000 đồng (nhiều hơn số tiền định giá tài sản về trị giá tài sản bị hư hỏng) là phù hợp, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Về hình phạt:
[7] Về hình phạt chính: Từ những phân tích về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội, về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Đánh giá hành vi phạm tội "Cố ý làm hư hỏng tài sản" của bị cáo thuộc loại tội phạm ít nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Theo những phân tích tại mục [5] nêu trên, thấy nên cho bị cáo được hưởng chính sách khoan hồng của pháp luật để được giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự khi quyết định mức hình phạt đối với bị cáo. Xác định loại hình phạt: Từ những phân tích nêu trên, thấy đủ điều kiện để áp dụng Điều 36 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng mức hình phạt cải tạo ngoài xã hội, cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
[7.1] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 36 Bộ luật Hình sự người phạm tội còn phải thực hiện một số nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ và bị khấu trừ một phần thu nhập. Tuy nhiên, do bị cáo làm lao động tự do, thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng có giá trị, không có nguồn thu nào khác. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo là có căn cứ, được chấp nhận nên Hội đồng xét xử không khấu trừ một phần thu nhập đối với bị cáo.
- Về các biện pháp tư pháp:
[8] Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu huỷ: 01 thanh kim loại (xà beng) dài 113 cm, đường kính 2,5 cm; một số mảnh vỡ bê tông theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/9/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Đồ Sơn.
[9] Về trách nhiệm dân sự, bồi thường thiệt hại: Bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại tài sản và khắc phục thêm hậu quả nào khác (theo Biên bản lấy lời khai chị T ngày 08/8/2024 tại trụ sở Công an quận Đ, thành phố Hải Phòng - Bút lục số 101 - 102). Nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- Các vấn đề khác:
[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về hình phạt chính:
Căn cứ khoản 1 Điều 178; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T2 phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T2 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ.
Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự cấp huyện nhận được Quyết định thi hành án. Giao bị cáo T2 cho Ủy ban nhân dân (sau đây viết tắt: UBND) phường H, quận Đ, thành phố Hải Phòng giám sát, giáo dục. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục.
Trong trường hợp người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 Luật Thi hành án hình sự như sau: Người chấp hành án có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo quy định tại khoản 2 Điều này, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 30 ngày và tổng số thời gian vắng mặt tại nơi cư trú không được vượt quá một phần ba thời gian chấp hành án, trừ trường hợp bị bệnh phải điều trị tại cơ sở y tế theo chỉ định của bác sỹ và phải có xác nhận điều trị của cơ sở y tế đó. Người chấp hành án khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của UBND cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục; trường hợp không đồng ý thì UBND cấp xã, đơn vị quân đội phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Người chấp hành án khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến tạm trú, lưu trú; hết thời hạn tạm trú, lưu trú phải có xác nhận của UBND cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú. Trường hợp người chấp hành án vi phạm pháp luật, UBND cấp xã nơi người đó đến tạm trú, lưu trú phải thông báo cho UBND cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục kèm theo tài liệu có liên quan. Việc giải quyết trường hợp người chấp hành án thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc trong quân đội thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật này. Người chấp hành án không được xuất cảnh trong thời gian chấp hành án.
- Về hình phạt bổ sung: Không khấu trừ một phần thu nhập đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu huỷ: 01 thanh kim loại (xà beng) dài 113 cm, đường kính 2,5 cm; một số mảnh vỡ bê tông theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/9/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Đồ Sơn.
- Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo:
Căn cứ các điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7ª và 9 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đức Hoàng |
Bản án số 38/2024/HS-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về cố ý làm hư hỏng tài sản
- Số bản án: 38/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý làm hư hỏng tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn T - Cố ý gây hủy hoại tài sản
