Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ SƠN TÂY, TP HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc

Bản án số: 38/2024/HNGĐ-ST

Ngày 24 - 07 - 2024

V/v Tranh chấp Hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY- THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Hoàng Đức Ngọc

  • - Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Bích Thuỷ

    Bà Nguyễn Thị Thi

  • - Thư ký phiên toà: Bà Đặng Thị Bích Loan, Thẩm tra viên Toà án nhân dân thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội.

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn tây, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Lê Minh Đức - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 07 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 45/2024/TLST- HNGĐ ngày 16 tháng 04 năm 2024 về việc Tranh chấp Hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 09 tháng 07 năm 2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Phan Thị V, sinh năm 1968; có đơn xin xét xử vắng mặt

    Địa chỉ: Thôn L, xã C, thị xã S, thành phố Hà Nội

  • - Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1962; có đơn xin xét xử vắng mặt

    Địa chỉ: Thôn V, xã T, thị xã K, tỉnh Hải Dương.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn và các bản tự khai tiếp theo tại Toà án, bà V trình bày: Bà đăng ký kết hôn cùng ông Nguyễn Văn H vào ngày 20/04/1984, có tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã C, thị xã S, thành phố Hà Nội. Sau khi đăng ký kết hôn, ông Huỳnh s chung cùng bà tại Thôn L, xã C, thị xã S, thành phố Hà Nội, thời gian này ông H là bộ đội đóng quân tại trung đoàn 916, sư đoàn C1 phòng không không quân có trụ sở tại xã C, thị xã S. Thời gian đầu vợ chồng sống chung hạnh phúc, được 3 tháng thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do không hợp nhau nên thường xẩy ra cãi nói nhau, từ đó cuộc sống chung vợ chồng không hạnh phúc, cùng thời gian này ông H xuất ngũ nên về quê ở Hải Dương từ đó đến nay bà và ông H chấm dứt mọi quan hệ không ai liên lạc gì với ai nữa. Do thời gian bà và ông H sống ly thân nhau đã quá lâu nên không thể đoàn tụ để tiếp tục sống chung cùng nhau được nữa vì tình cảm vợ chồng không còn nên bà đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn ông H.

Về con chung: Bà và ông H có 01 con chung là Nguyễn Thị N, sinh năm 1984. Hiện nay đã trưởng thành nên bà không có ý kiến gì.

Về tài sản chung và nợ: Không có.

- Tại Biên bản lấy lời khai của ông Nguyễn Văn H ngày 28/06/2024, ông Huỳnh t bày: Ông đồng ý ly hôn với bà Phan Thị V và đề nghị Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội giải quyết vụ án ly hôn giữa ông và bà V. Vì thời gian đã 40 năm ông và bà Vy

Anh và chị T tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã X, thị xã S vào ngày 17/01/2011. Thời gian đầu vợ chồng sống chung hạnh phúc, đến tháng 1 năm 2024 xẩy ra mâu thuẫn cãi nói nhau và chị T bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở từ đó đến nay không về sống chung cùng anh nữa, vợ chồng chấm dứt mọi quan hệ không ai hỏi ai, nhưng anh không muốn ly hôn. Trường hợp chị T kiên quyết ly hôn thì anh đồng ý.

Về con chung: Anh và chị T có 02 con chung là Nguyễn Minh V1, sinh ngày 09/11/2011 và Nguyễn Minh K, sinh ngày 12/12/2017. Hiện nay, cháu V1 đang sống chung cùng anh, cháu K ở cùng chị T. Anh đề nghị được nuôi cả hai con và không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con. Trường hợp chị T đề nghị được nuôi cả hai con thì anh cũng đồng ý.

Về tài sản chung và nợ: Không có.

Do anh Nguyễn Mạnh Q không đến Toà án nên Toà án không tiến hành hoà giải được.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội tại phiên tòa phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn là đúng pháp luật, bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.

Quan điểm giải quyết vụ án: Áp dụng Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị T1. Chị T1 được ly hôn anh Nguyễn Mạnh Q. Về con chung giao cháu Nguyễn Minh V1, sinh ngày 09/11/2011 cho anh Q; Giao cháu Nguyễn Minh K, sinh ngày 12/12/2017 cho chị T1 nuôi; Về tài sản chung và nợ: Không có. Về án phí: Chị T1 phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về tố tụng: Nguyên đơn là chị Nguyễn Thị T1 có đơn xin ly hôn anh Nguyễn Mạnh Q có đăng ký hộ khẩu thường trú tại Thôn X, xã X, thị xã S và quan hệ tranh chấp về ly hôn nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 3 Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã thực hiện đầy đủ trình tự tố tụng và đã giao các Văn bản tố tụng, giấy triệu tập hợp lệ cho anh Nguyễn Mạnh Q. Anh Q có đơn xin được vắng mặt trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như khi Tòa án xét xử vụ án nên Toà án không tiến hành hoà giải được. Vì vậy, căn cứ Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án nhân dân thị xã Sơn Tây ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Chị Nguyễn Thị T1 và anh Nguyễn Mạnh Q có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị T1 và anh Q.

[2]. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị T1 và anh Nguyễn Mạnh Q trên cơ sở kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 17/01/2011 tại UBND xã X, thị xã S nên xác định là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân gia đình.

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Chị T1 và anh Q sống chung đã xẩy ra mâu thuẫn, theo chị T1 năm 2011 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh Q thường xuyên uống rượu về nhà đánh chửi chị, từ đó vợ chồng cãi nói nhau. Mâu thuẫn xẩy ra trầm trọng vào tháng 1 năm 2024 cũng do vợ chồng cãi nói nhau, chị bị anh Q đánh nên về nhà bố mẹ đẻ ở từ đó đến nay không về sống chung cùng anh Q nữa. Anh Quân công nhận tháng 1 năm 2024 vợ chồng xẩy ra mâu thuẫn cãi nhau và chị T1 bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở, từ đó đến nay vợ chồng chấm dứt mọi quan hệ không ai quan tâm đến ai nữa.

Bà Quách Thị C là mẹ đẻ anh Q cho biết: Vợ chồng chị T1, anh Q sống ly thân nhau từ tháng 1 năm 2024 cho đến nay, chị T1 không có tư tưởng sống chung cùng anh Q nên đây là lần thứ hai chị T1 bỏ đi. Vì vậy để chị T1 về sống chung cùng anh Q là khó xẩy ra.

Quá trình giải quyết vụ án, chị T1 kiên quyết đề nghị được ly hôn anh Q. Phía anh Q không muốn ly hôn chị T1, nhưng không đến Tòa án tham gia hòa giải là từ bỏ quyền của mình cũng như thể hiện không mong muốn Tòa án hòa giải để vợ chồng về đoàn tụ sông chung cùng nhau. Điều này cho thấy tình trạng hôn nhân giữa chị T1 và anh Q đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không tồn tại, mục đích của hôn nhân không đạt được nên căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị T1 đối với anh Q.

Về con chung: Chị T1 và anh Q có 02 con chung là Nguyễn Minh V1, sinh ngày 09/11/2011 và Nguyễn Minh K, sinh ngày 12/12/2017.

Xét yêu cầu của anh Q đề nghị được nuôi cả hai con hoặc chị T1 phải nuôi cả hai con. Hội đồng xét xử thấy: Hiện nay, cháu V1 đang sống chung cùng anh Q và bố mẹ đẻ anh Q, cháu K đang sống chung cùng chị T1, cuộc sống của các cháu đang ổn định. Trường hợp giao cả hai con cho anh Q hay cho chị T1 nuôi sẽ không đảm bảo việc chăm sóc, nuôi dưỡng các cháu, điều này phù hợp với ý kiến của bà Quách Thị C đề nghị mỗi người nuôi một con để phù hợp với điều kiện nuôi con của anh Q. Hơn nữa, nguyện vọng của cháu V1 được sống chung cùng anh Q, cháu K có nguyện vọng được sống chung cùng chị T1 nên cần giữ nguyên như hiện tại là phù hợp. Vì vậy, Hội đồng xét xử không chấp nhận đề nghị nuôi con của anh Q.

- Về tài sản chung và nợ: Chị T1 và anh Q đều xác định không có.

[3]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án .

Xử:

  1. Chấp nhận đơn khởi kiện về việc yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị T1.
    1. Chị Nguyễn Thị T1 được ly hôn anh Nguyễn Mạnh Q.
    2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Minh V1, sinh ngày 09/11/2011 cho anh Q trực tiếp nuôi dưỡng; Giao cháu Nguyễn Minh K, sinh ngày 12/12/2017 cho chị T1 trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các cháu đủ 18 tuổi hoặc khi có quyết định thay đổi khác của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Tạm hoãn nghĩa vụ nuôi con chung cho chị T1 và anh Q đến khi có yêu cầu mới hoặc có quyết định khác của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Anh Q và chị T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
    3. Về tài sản chung và nợ: Không có.
  2. Về án phí: Chị Nguyễn Thị T1 phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0000902 ngày 17/04/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội.
  3. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự: Anh Q và chị T1 vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được giao nhận bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

  • - TAND thành phố Hà Nội;
  • - VKSND thị xã Sơn Tây;
  • - THADS thị xã S;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

Thẩm phán- Chủ tọa phiên toà

Đặng Trung T2

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 38/2024/HNGĐ-ST ngày 24/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 38/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger