|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU TỈNH SÓC TRĂNG ---------- |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------- |
Bản án số: 38/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 24 – 6 – 2024
Về việc Ly hôn, tranh
chấp về nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Hiếu.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh.
- Bà Nguyễn Huỳnh Hoa.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Hưng, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu.
Trong ngày 24 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 32/2024/TLST-HNGĐ, ngày 21 tháng 02 năm 2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 33/2024/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Liêu Thị Cẩm H, sinh năm 1986.
Địa chỉ: Khóm V, phường V, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.
* Bị đơn: Anh Trần Sor Vi Chít Tr, sinh năm 1984.
Địa chỉ: Trường Tiểu học B, Khóm F, Phường A, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.
(Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 29/01/2024 cũng như tại đơn xin giải quyết vắng mặt, nguyên đơn Liêu Thị Cẩm H trình bày:
Chị Liêu Thị Cẩm H và anh Trần Sor Vi Chít Tr kết hôn, có đăng ký kết hôn và đã được Ủy ban nhân dân phường V, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 06/4/2010. Trong thời gian kết hôn, vợ chồng có 02 con chung là cháu Trần Hạo Nh (nam) sinh ngày 27/8/2011 và Trần Thiên  (nam) sinh ngày 13/5/2018. Trong thời gian chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do không hợp tính tình, hiện nay tình cảm không còn.
Nay chị H yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Về hôn nhân: Chị Liêu Thị Cẩm H yêu cầu được ly hôn với anh Trần Sor Vi Chít Tr.
- Về con chung: Chị Liêu Thị Cẩm H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung là cháu Trần Hạo Nh (nam) sinh ngày 27/8/2011 và Trần Thiên  (nam) sinh ngày 13/5/2018 cho đến khi cháu Nh và cháu  thành niên, lao động được và không yêu cầu anh Trần Sor Vi Chít Tr cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Tài sản chung và nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chứng cứ do chị H giao nộp là bản sao Giấy chứng nhận kết hôn của chị Liêu Thị Cẩm H và anh Trần Sor Vi Chít Tr; bản sao căn cước công dân; bản sao Giấy khai sinh của cháu Trần Hạo Nh và cháu Trần Thiên Â.
Bị đơn anh Trần Sor Vi Chít Tr vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong quá trình giải quyết, anh Tr trình bày: Anh Trần Sor Vi Chít Tr và chị Liêu Thị Cẩm H tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn đúng như chị H trình bày. Trong thời gian sống chung, vợ chồng có 02 con chung là cháu Trần Hạo Nh (nam) sinh ngày 27/8/2011 và Trần Thiên  (nam) sinh ngày 13/5/2018.
Vợ chồng không có mâu thuẫn gì, do anh Tr có nợ riêng nên chị H không đồng ý đòi ly hôn.
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Trần Sor Vi Chít Tr không đồng ý ly hôn.
- Về con chung: Nếu Tòa án buộc phải cho ly hôn thì anh Tra đồng ý giao cho chị Liêu Thị Cẩm H được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung là cháu Trần Hạo Nh (nam) sinh ngày 27/8/2011 và Trần Thiên  (nam) sinh ngày 13/5/2018 cho đến khi cháu Nh và cháu  thành niên, lao động được.
- Về tài sản chung và nợ chung: Anh Trần Sor Vi Chít Tr khẳng định tài sản chung và nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Chị Liêu Thị Cẩm H khởi kiện, yêu cầu ly hôn với anh Trần Sor Vi Chít Tr và yêu cầu tiếp tục nuôi con chung. Yêu cầu của chị Liêu Thị Cẩm H được pháp luật điều chỉnh tại các Điều 51, Điều 56 và Điều 58 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 (sau đây gọi là Luật hôn nhân và gia đình) thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn anh Trần Sor Vi Chít Tr đã được triệu tập hợp lệ hai lần tham gia phiên tòa, đều vắng mặt không có lý do nên phải chịu hậu quả pháp lý về việc vắng mặt của mình. Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật và Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.
[2] Về nội dung giải quyết:
Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn; bản sao Giấy chứng minh nhân dân, Sổ hộ khẩu, Giấy khai sinh của cháu Trần Hạo Nh và cháu Trần Thiên  cũng như lời trình bày và thừa nhận của bị đơn Tr; đối chiếu với quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử khẳng định lời trình bày của chị H và anh Tr về việc kết hôn và đã được Ủy ban nhân dân phường V, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 06/4/2010 và vợ chồng đã có 02 con chung là sự thật. Vì vậy, giữa chị H và anh Tr đang tồn tại quan hệ hôn nhân hợp pháp, quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình.
Tuy nhiên, hiện nay, chị H và anh Tr chung sống không hạnh phúc, mạnh ai nấy sống, không quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau. Như vậy, chị H và anh Tr đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng quy định tại Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình; vợ chồng không còn yêu thương, tôn trọng lẫn nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, cần áp dụng các Điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình, giải quyết cho chị H được ly hôn với anh Tr.
Đối với quyền nuôi con chung: Tại thời điểm xét xử vụ án cháu Trần Hạo Nh đã trên 7 tuổi và có nguyện vọng muốn sống với mẹ, đồng thời chị H và anh Tr cùng thống nhất trong trường hợp Tòa án cho ly hôn thì anh Tr đồng ý giao cho chị H được tiếp tục nuôi dưỡng 02 (hai) con chung là cháu Trần Hạo Nh (nam) sinh ngày 27/8/2011 và Trần Thiên  (nam) sinh ngày 13/5/2018 cho đến khi cháu Nh và cháu  thành niên, lao động được. Do đó, căn cứ vào Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình, ghi nhận sự tự thỏa thuận của chị H và anh Tr là giao cho chị H được tiếp tục nuôi dưỡng hai con chung là cháu Trần Hạo Nh (nam) sinh ngày 27/8/2011 và Trần Thiên  (nam) sinh ngày 13/5/2018 cho đến khi cháu Nh và cháu  thành niên, lao động được.
Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của chị Hồng về việc không yêu cầu anh Tra cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn và bị đơn cùng khẳng định tài sản chung và nợ chung không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[3] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị H phải chịu là 300.000 đồng, theo điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Khóa XIV, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 và khoản 2 Điều 143, khoản 1 Điều 144, khoản 4 Điều 147, điểm a khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Khóa XIV.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Liêu Thị Cẩm H được ly hôn với anh Trần Sor Vi Chít Tr.
-
Về quyền nuôi con chung: Ghi nhận sự tự thỏa thuận của chị Liêu Thị Cẩm H và anh Trần Sor Vi Chít Tr là giao cho chị Liêu Thị Cẩm H được trực tiếp nuôi dưỡng 02 (hai) con chung là cháu Trần Hạo Nh (nam) sinh ngày 27/8/2011 và Trần Thiên  (nam) sinh ngày 13/5/2018 cho đến khi cháu Nh và cháu  thành niên, lao động được.
Trong thời gian chị H nuôi dưỡng con chung, không ai được quyền ngăn cản sự thăm nom, chăm sóc, giáo dục của cha mẹ đối với con chung.
-
Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của chị H về việc không yêu cầu anh Trần Sor Vi Chít Tr cấp dưỡng nuôi con.
Vì quyền lợi về mọi mặt của cháu Nh và cháu Â, chị H có thể yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi nghĩa vụ và mức cấp dưỡng cho con; anh Tr có thể yêu cầu giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Các đương sự thực hiện quyền này theo quy định pháp luật.
- Về tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn và bị đơn cùng khẳng định tài sản chung tự và nợ chung không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Liêu Thị Cẩm H phải chịu là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0003111 ngày 21/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Vĩnh Châu, chị H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Chị Liêu Thị Cẩm H có quyền kháng cáo đối với bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa tuyên án; anh Trần Sor Vi Chít Tr có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA VÕ THỊ HIẾU |
Bản án số 38/2024/HNGĐ-ST ngày 24/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 38/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu khởi kiện
