Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẨM PHẢ

TỈNH QUẢNG NINH

Bản án số: 38/2024/HS-ST

Ngày: 24 - 4 - 2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ - TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Đạt.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Lê Thị Thanh Thủy.
  2. Bà Nguyễn Thị Hiền.

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Thu Trang - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: Ông Lã Hải Long - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 16/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2024, đối với các bị cáo:

  1. Hoàng Văn N - Tên gọi khác: không; sinh ngày 05 tháng 10 năm 1979, tại huyện H, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: tổ A, khu L, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: công nhân Công ty T7; trình độ văn hoá: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Hoàng Văn T (đã chết) và bà: Phạm Thị H (đã chết); có vợ: Trần Thị T1, sinh năm 1984 và con: có 02 con, cùng sinh năm 2008; tiền sự: không; tiền án: ngày 04/12/2020, bị Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xử phạt 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng, về tội “Đánh bạc”. Ngày 04/12/2022 chấp hành xong bản án.

    Bị cáo đầu thú ngày 09/10/2023, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q. Có mặt.

  2. Nguyễn Thanh T2 - Tên gọi khác: không; sinh ngày 28 tháng 01 năm 1985, tại thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; nơi thường trú: tổ B, khu E, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; nơi ở hiện tại: thôn Đ, xã Đ, huyện V, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Xuân C (đã chết) và bà: Hoàng Thị L; có vợ: Ngô Ngọc H1, sinh năm 1988 và con: có 02 con, lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: không.

    Bị cáo đầu thú ngày 09/10/2023, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 03/11/2023. Có mặt.

  3. Vũ Văn Đ - Tên gọi khác: không; sinh ngày 02 tháng 11 năm 1986, tại thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; nơi thường trú: khu N, phường C, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; nơi ở hiện tại: tổ B, khu E, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: Công nhân Công ty T7; trình độ văn hoá: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Vũ Văn Đ1 (đã chết) và bà: Trần Thị B; có vợ: Đỗ Thị N1, sinh năm 1998 và con: có 02 con, lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: không.

    Bị cáo đầu thú ngày 09/10/2023, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 02/02/2024. Có mặt.

- Bị hại: anh Sỹ Văn T3, sinh năm 1983.

Nơi cư trú: tổ I, khu G, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Bà Đoàn Thị C1, sinh năm 1968; nơi cư trú: tổ H, khu G, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
  • + Anh Nguyễn Duy Tuấn A, sinh năm 1983; nơi thường trú: phố N, phường A, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh; nơi ở hiện tại: tổ H, khu F, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
  • + Anh Đào Ngọc K, sinh năm 1981; nơi thường trú: phố N, phường A, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh; nơi ở hiện tại: tổ F, khu M, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Người tham gia tố tụng khác:

Người làm chứng: chị Trần Thị N2, sinh năm 1994 và chị Bùi Phương T4, sinh năm 1991. Đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tối ngày 05/10/2023, Hoàng Văn N, Nguyễn Thanh T2, Vũ Văn Đ cùng bạn là người tên T5 (hiện chưa rõ lai lịch) hát Karaoke tại quán “Vườn Xoài” thuộc tổ H, khu G, phường C, thành phố C. Lúc này, anh Sỹ Văn T3 cùng bạn là các anh Nguyễn Duy Tuấn A, Đào Ngọc K cũng đang hát tại quán. Do N và anh K có quen biết nhau, nên anh K sang phòng hát của Năm để giao lưu. Tại đây, giữa T2 và anh K xảy ra mâu thuẫn cãi nhau, thì được mọi người can ngăn nên anh K về phòng hát của mình. Đến khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, khi nhóm Năm đang đứng ở khu vực sảnh quán để chờ thanh toán, thì gặp nhóm K đi ra. T2 và anh K tiếp tục cãi chửi nhau, được mọi người can ngăn, thì Tuấn A đi từ khu vực nhà vệ sinh ra cầm một chiếc hót rác trên tay giơ lên dọa đánh T5. Đ thấy vậy cầm chiếc điếu cày ở ngay cửa ra vào vụt vào người Tuấn A, rồi cả hai vật nhau ngã xuống đất. Thấy vậy, N cũng xông vào đánh anh Tuấn A, thì hai nhóm xảy ra xô xát nhau. T2 và anh K dùng tay chân đánh nhau, anh K nhặt 01 con dao cán gỗ, dài 31cm ném về phía T2 nhưng không trúng. Anh T6 xông về phía Đ, thì bị Đ dùng điếu cày vụt 02 nhát trúng vào chân trái của anh T6, anh T6 bỏ chạy thì Đ tiếp tục đuổi theo dùng điếu cày đánh. Anh K lấy cán chổi lau nhà đánh nhau với Đ, bị Đ cầm điếu cày và T2 cầm bình nước nhựa đánh lại. Lúc này, anh T6 nhìn thấy N và anh Tuấn A đánh nhau, anh T6 xông vào dùng tay chân đánh nhau với N, thì bị N dùng tay đấm 02 phát vào mặt. Anh T6 chạy ra khu vực quầy thu ngân, cầm 01 chiếc ghế đẩu bằng kim loại giơ lên định đánh lại nhóm N, thì bị N giằng lấy và vật anh T6 ngã xuống sàn nhà. Hai nhóm được can ngăn thì dừng lại không đánh nhau, nhưng vẫn cãi chửi nhau.

Ngay sau đó, T2 chạy ra khu vực sân của quán Karaoke lấy 01 thanh kim loại (dạng cán chổi lau nhà) dài 75cm, vụt về phía Tuấn A, còn Đ cầm điếu cày tiếp tục đánh Tuấn A. Thấy vậy, anh K đi ra ngoài sân, lấy 01 thanh kim loại có kích thước (2,65x0,06x0,03)m (thanh sắt hộp), chạy vào trong quán, vụt về phía T2 thì trúng tay trái T2. Năm lao đến ôm giữ K, Đ cũng lao vào anh K, thì Năm giằng được thanh sắt hộp trong tay anh K, làm anh K ngã xuống nền, Đ cầm điếu cày vụt anh K. Thấy vậy, anh T6 chạy đến giằng co thanh sắt hộp với N, thì bị T2 dùng tay phải đấm 01 phát vào mặt, nên anh T6 lùi lại đỡ. Năm cầm thanh sắt hộp bằng hai tay, giơ lên vụt 01 phát về phía anh T6, trúng vào đầu anh T6, làm anh T6 ngã cúi về phía trước, rồi N vụt thêm 01 phát nữa về phía anh T6, làm anh T6 ngã nằm xuống sàn nhà. Lúc này, T2 đi đến dùng chân phải đá 01 phát trúng đầu anh T6. Sau đó mọi người can ngăn, anh T6 được đưa đi bệnh viện cấp cứu. Cùng ngày, bà Đoàn Thị C1 là chủ quán Karaoke đến Công an phường trình báo.

Cơ quan điều tra thu giữ: 01 thanh kim loại (dạng thanh sắt hộp), kích thước (2,65x0,06x0,03)m; 01 điếu cày dài 53cm, bị vỡ ở phần đuôi; 01 điều cày dài 65cm; 01 con dao cán gỗ dài 31cm; 01 thanh kim loại (dạng cán chổi), dài 75cm; 01 cây lau nhà bằng kim loại, phần bàn lau kích thước (40x10)cm; 01 ghế đẩu bằng kim loại, bọc da màu đỏ; 01 USB chứa video thu của camera lắp đặt tại quán Karaoke, ghi lại toàn bộ diễn biến vụ án do bà Đoàn Thị C1 giao nộp. Hoàng Văn N, Nguyễn Thanh T2 và anh Đào Ngọc Khanh đã nhận dạng thanh sắt hộp kim loại do bà C1 giao nộp là hung khí Năm sử dụng đánh anh T6.

Theo giấy chứng nhận thương tích của Bệnh viện Đ2 xác định tình trạng thương tích của anh Sỹ Văn T3 lúc vào viện hồi 01 giờ 41 phút ngày 06/10/2023 thể hiện: glasgow 15 điểm, 01 vết thương vùng đỉnh (07x0,5)cm, 01 vết thương vùng chẩm (07x0,5)cm, không rõ độ sâu. CT Scanner sọ não: hình ảnh rải tăng tỉ trọng liềm đại não, vài bóng khí nội sọ vùng đỉnh- chẩm, phải. Đường mất liên tục xương trán lan vào xoang trán phải. Đường mất liên tục xương chẩm phải lan vào ổ khớp. Phù nề tụ khí mô mềm vùng đỉnh phải.

Tại bản kết luận giám định số 825A ngày 13/10/2023 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh Q kết luận: anh Sỹ Văn T3 bị 02 vết thương vùng đầu gây chấn thương sọ não, hiện không có di chứng về thần kinh, tổn thương như sau: vết thương vùng đỉnh trái dài 6,5cm là 02%; vết thương vùng đỉnh chẩm phải dài 06cm là 02%; gãy xương trái phải lan vào xoang trán phải dài 55mm là 20%; gãy lún 2 bản sọ xương chẩm phải (24x16)mm là 20%; tụ máu ngoài màng cứng đỉnh phải, hiện không còn hình ảnh tổn thương là 05%. Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể hiện tại là 42%. Các tổn thương do vật tày tác động trực tiếp gây lên. Anh Sỹ Văn T3 bị thanh kim loại hình hộp chữ nhật đập vào vùng chẩm phải (gây vết thương và lún xương chẩm phải, tụ máu dưới màng cứng vùng đỉnh phải) sau đó đập vùng đầu mặt bên phải xuống sàn nhà và hành vi Nguyễn Thanh T2 dùng chân đá vào đầu (trán thái dương bên phải của anh T3, sau đó vùng đầu mặt bên phải của T3 tiếp tục đập xuống sàn nhà) cũng có thể gây gãy xương trán phải lan vào xoang trán phải của anh Sỹ Văn T3.

Hoàng Văn N đã tác động gia đình cùng Nguyễn Thanh T2Vũ Văn Đ bồi thường tổng số tiền 100.000.000 đồng theo yêu cầu của anh Sỹ Văn T3. Anh T6 không có yêu cầu bồi thường gì khác và đề nghị giảm nhẹ hình phạt đối với các bị cáo. Đối với tài sản của quán Karaoke, chỉ bị hư hỏng, thiệt hại không đáng kể nên bà Đoàn Thị C1 không có yêu cầu bồi thường gì.

Quá trình điều tra, Hoàng Văn N, Nguyễn Thanh T2Vũ Văn Đ khai nhận hành vi phạm tội như trên. Năm khai thêm: Năm và anh T6 không quen biết, không mâu thuẫn gì từ trước. Năm giằng thanh sắt hộp từ tay anh K, để anh K không tiếp tục đánh nhóm N. Do anh T6 vẫn xông đến đánh nhau với T2, nên N đã dùng thanh kim loại trên đánh về phía anh T6. Năm không nhằm vào đầu hay vị trí nào trên người anh T6 để đánh. Thấy anh T6 bị thương tích, N có nhờ mọi người gọi taxi đưa anh T6 đi cấp cứu. T2 khai thêm: khi anh K vào phòng hát mời bia nên giữa T2 và anh K xảy ra mâu thuẫn, cãi chửi nhau. Trước đó T2 không có mâu thuẫn gì với anh T6. Khi Năm vụt anh T6 ngã, T2 đi đến đá 01 phát vào người anh T6, không nhằm vào vị trí nào trên người anh T6. Đ khai thêm: do thấy nhóm anh K có mâu thuẫn với nhóm Đ. Khi thấy anh T6 xông đến chửi bới, Đ lấy điếu cày vụt các anh T6, Tuấn A và K. Trong lúc đang đánh nhau, Đ nhìn thấy N giằng thanh sắt hộp của anh K, nhưng Đ không có hành vi ngăn cản gì mà tiếp tục xông vào đánh nhau với nhóm K.

Tại bản Cáo trạng số: 20/CT-VKSCP ngày 05/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố các bị cáo Hoàng Văn N, Nguyễn Thanh T2Vũ Văn Đ về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134) của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: tuyên bố các bị cáo Hoàng Văn N, Nguyễn Thanh T2Vũ Văn Đ - phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134) của Bộ luật Hình sự.

Áp dụng: điểm c khoản 3 Điều 134 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134); điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt: bị cáo Hoàng Văn N từ 05 (Năm) 06 (Sáu) tháng tù đến 06 (S) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ.

Áp dụng: điểm c khoản 3 Điều 134 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134); điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 17; Điều 58 và khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt: bị cáo Nguyễn Thanh T2Vũ Văn Đ, mỗi bị cáo 03 (Ba) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (Năm) năm, kể từ ngày tuyên án.

Về trách nhiệm bồi thường dân sự: bị cáo Hoàng Văn N đã tác động gia đình cùng Nguyễn Thanh T2Vũ Văn Đ tự nguyện thỏa thuận bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho bị hại anh Sỹ Văn T3 với số tiền 100.000.000 đồng. Bị hại anh T3 không có yêu cầu, đề nghị gì về việc bồi thường nữa, nên không đề cập; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: chị Đoàn Thị C1, anh Nguyễn Duy Tuấn A và anh Đào Ngọc Khanh không có yêu cầu, đề nghị gì về việc bồi thường, nên không đề cập.

Các bị cáo Hoàng Văn N, Nguyễn Thanh T2Vũ Văn Đ thừa nhận hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt.

Bị hại anh Sỹ Văn T3 trong quá trình điều tra có lời khai thể hiện: đêm ngày 05/10/2023, tại quán karaoke “Vườn Xoài” thuộc tổ H, khu G, phường C, thành phố C, anh bị Hoàng Văn N, Nguyễn Thanh T2Vũ Văn Đ sử dụng hung khí (thanh sắt hộp; điếu cày) và tay chân đánh anh gây thương tích, tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh là 42%. Sau khi gây thương tích cho anh, gia đình bị cáo N cùng với Đ và T2 đã thỏa thuận bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho anh với tổng số tiền là 100.000.000 đồng. Anh không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường nữa, anh đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Đào Ngọc Khanh và anh Nguyễn Duy Tuấn A trong quá trình điều tra đều có lời khai, quan điểm thể hiện: đêm ngày 05/10/2023, tại quán karaoke “Vườn Xoài” thuộc tổ H, khu G, phường C, thành phố C nhóm các anh gồm: Sỹ Văn T3, Đào Ngọc KNguyễn Duy Tuấn A có xảy ra mâu thuẫn, xô xát, đánh nhau với nhóm của Hoàng Văn N, Nguyễn Thanh T2Vũ Văn Đ. Các anh chỉ bị thương tích nhẹ, không đáng kể nên không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự, không yêu cầu ai phải bồi thường thương tích cho các anh.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đoàn Thị C1 trong quá trình điều tra có lời khai thể hiện: Bà là chủ quán karaoke “Vườn Xoài” thuộc tổ H, khu G, phường C, thành phố C. Đêm ngày 05/10/2023, tại quán của bà có xảy ra sự việc xô xát, đánh nhau giữa 02 nhóm thanh niên, cụ thể: nhóm Sỹ Văn T3, Đào Ngọc KNguyễn Duy Tuấn A với nhóm của Hoàng Văn N, Nguyễn Thanh T2Vũ Văn Đ. Quán của bà không bị thiệt hại gì về tài sản, nên bà không có yêu cầu, đề nghị gì về việc bồi thường dân sự. Đối với các đồ vật bà tự nguyện giao nộp và Cơ quan điều tra tạm giữ khi khám nghiện hiện trường, vì các đồ vật này đã cũ, hư hỏng nên bà không đề nghị được nhận lại.

Người làm chứng chị Nguyễn Thị N3 và chị Bùi Phương T4 trong quá trình điều tra đều có lời khai về thời gian, địa điểm và một số tình tiết của vụ án phù hợp với lời khai của các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố, xét xử đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
  2. [2] Hành vi của các bị cáo, qua tranh tụng tại phiên tòa các bị cáo Hoàng Văn N, Nguyễn Thanh T2Vũ Văn Đ thừa nhận: khoảng 23 giờ 30 phút ngày 05/10/2023, tại quán karaoke “Vườn Xoài” thuộc tổ H, khu G, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, do mâu thuẫn trong sinh hoạt dẫn đến xô xát đánh nhau, giữa nhóm của Hoàng Văn N, Nguyễn Thanh T2, Vũ Văn Đ với nhóm các anh Sỹ Văn T3, Nguyễn Duy Tuấn A, Đào Ngọc K. Trong quá trình xô xát đánh nhau, N đã có hành vi dùng 01 thanh sắt hộp (kích thước 2,65x0,06x0,03)m, Đ dùng 01 chiếc điếu cày, đều là hung khí nguy hiểm và T2 dùng tay, chân đánh anh Sỹ Văn T3 gây thương tích, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây lên là 42% sức khỏe.

    Hội đồng xét xử thấy, hành vi của các bị cáo gây thương tích đối với bị hại anh Sỹ Văn T3 đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác, là khách thể quan trọng được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Do mâu thuẫn cãi nhau, lời qua tiếng lại, các bị cáo đã cố ý sử dụng hung khí (thanh sắt hộp, điếu cày) và tay, chân tấn công, gây thương tích cho anh T3 nên thuộc trường hợp “dùng hung khí nguy hiểm”; bị hại anh T3 bị thương tích, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây lên là 42% sức khỏe. Do đó, các bị cáo đã phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134) của Bộ luật hình sự. Như vậy, Cáo trạng số 20/CT- VKSCP ngày 05/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả truy tố đối với Hoàng Văn N, Nguyễn Thanh T2Vũ Văn Đ là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật.

    Điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật hình sự, quy định:

    “1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

    a) Dùng hung khí nguy hiểm;

    3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

    ...

    c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này”.

  3. [3] Về tính chất, mức độ thực hiện tội phạm: hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi các bị cáo là người trưởng thành, nhận thức được thân thể, sức khỏe của người khác luôn được mọi người tôn trọng, pháp luật bảo vệ, mọi hành vi xâm phạm đến đều bị nghiêm cấm và nghiêm trị. Nhưng chỉ vì mâu thuẫn, phát sinh trong sinh hoạt giữa Nguyễn Thanh T2 với anh Đào Ngọc K. Các bị cáo đã không tìm cách ứng xử, hòa giải mâu thuẫn hợp lý, đúng quy tắc đạo đức, chuẩn mực xã hội mà chủ động sử dụng bạo lực để giải quyết mâu thuẫn. Điều đó thể hiện các bị cáo là những đối tượng thiếu ý thức chấp hành pháp luật, coi thường sức khỏe của người khác. Do đó, cần phải xử lý nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của từng bị cáo nhằm cải tạo, giáo dục riêng đối với các bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
  4. [4] Về vai trò, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

    Về vai trò của các bị cáo: đây là vụ án có tính chất đồng phạm nhưng không có sự phân công, câu kết chặt chẽ mà chỉ nhất thời phạm tội nên là đồng phạm giản đơn. Trong đó, bị cáo N là đối tượng chủ động, trực tiếp sử dụng hung khí (thanh sắt hộp) đánh vào vùng đầu gây thương tích cho anh T3, nên bị cáo N giữ vai trò chính trong vụ án. Bị cáo Nguyễn Thanh T2, Vũ Văn Đ cùng trực tiếp tham gia vào việc thực hiện tội phạm với vai trò giúp sức, trong đó: Đ sử dụng hung khí (điếu cày) đánh vào chân trái của anh T3; T2 sử dụng tay, chân đánh vào vùng mặt, đầu của anh T3, nên trong vụ án các bị cáo T2, Đ có vai trò ngang nhau và đứng sau bị cáo N.

    Về nhân thân, tình tiết tăng nặng: bị cáo N là đối tượng có nhân thân xấu, đã có 01 tiền án, chưa được xoá án tích nên phải chịu tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo T2, Đ có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu.

    Về tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải. Bị cáo N đã tác động gia đình cùng T2 và Đ tự nguyện bồi thường, khắc phục thiệt hại về sức khỏe cho bị hại anh Sỹ Văn T3. Nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, sau khi phạm tội các bị cáo đã tự giác ra đầu thú; bị hại anh T3 có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo; bị cáo T2 có bố đẻ là ông Nguyễn Xuân C được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Ba; bị cáo Đ, T2 có đơn trình bày được chính quyền địa phương xác nhận, nội dung thể hiện các bị cáo là lao động chính trong gia đình, hoàn cảnh gia đình khó khăn, con còn nhỏ và phải chăm sóc mẹ già bị bệnh (bị cáo T2 có mẹ là bà Hoàng Thị L bị khuyết tật vận động nặng; bị cáo Đ có mẹ là bà Trần Thị B bị bệnh tim). Nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

    Căn cứ vào tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy:

    Đối với bị cáo Hoàng Văn N có nhân thân xấu, đã có tiền án, chưa được xóa án tích nhưng lại tiếp tục phạm tội, là người chủ động sử dụng hung khí, đánh gây nên thương tích chính cho bị hại anh T3. Nên đối với bị cáo cần phải xử lý nghiêm, cách ly ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục.

    Đối với bị cáo Nguyễn Thanh T2Vũ Văn Đ phạm tội lần đầu, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Nên áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự, giảm nhẹ mức hình phạt cho các bị cáo được hưởng mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật đã quy định, để các bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà cải tạo mình cho tốt.

    Xét bị cáo Nguyễn Thanh T2Vũ Văn Đ là đồng phạm trong vụ án nhưng có vai trò thứ yếu, tham gia vào việc phạm tội không đáng kể, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, đều là lao động chính trong gia đình, Hội đồng xét xử đánh giá các bị cáo có khả năng tự cải tạo nên không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, cho các bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách tương ứng và giao các bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú và gia đình để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách là phù hợp. Điều đó cũng đáp ứng được mục đích của hình phạt, cũng bảo đảm giáo dục, cải tạo các bị cáo.

  5. [5] Về xử lý vật chứng của vụ án:
    • - 01 (một) chiếc hót rác bằng kim loại mà Nguyễn Duy Tuấn A sử dụng trong quá trình xô xát, đánh nhau với Hoàng Văn N, Nguyễn Thanh T2Vũ Văn Đ đã vứt tại hiện trường, Cơ quan điều tra đã truy tìm nhưng không thu hồi được. Do đó, Hội đồng xét xử không đề cập.
    • - 01 (một) USB vỏ nhựa màu đen, đã qua sử dụng; 03 (ba) đĩa CD ghi âm, ghi hình khi tiến hành hoạt động điều tra. Đây là tài liệu, vật chứng lưu hồ sơ vụ án.
    • - 01 (một) chiếc điếu cày, dài 53cm, đường kính 4,5cm; 01 (một) thanh kim loại dài 75cm, đường kính 2cm; 01 (một) thanh kim loại, kích thước (2,65x0,06x0,03)m; 01 (một) Dao cán gỗ, kích thước (0,31x0,05)m; 01 (một) Bàn lau nhà có cán kim loại, kích thước (0,73x0,02)m; 01 (một) Ghế có chân đế bằng kim loại, đệm ngồi bọc da màu đỏ, cao 1,2m; 01 (một) chiếc điếu cày, kích thước (0,65x0,07)m. Đây là những vật chứng, tài sản của bà Đoàn Thị C1 nhưng bà C1 không yêu cầu nhận lại, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
  6. [6] Về trách nhiệm bồi thường dân sự: các bị cáo đã thỏa thuận bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm cho bị hại anh Sỹ Văn T3. Anh T6 không có yêu cầu, đề nghị gì về việc bồi thường nữa, nên Hội đồng xét xử không xét.

    Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Duy Tuấn A, anh Đào Ngọc K và bà Đoàn Thị C1 không có yêu cầu, đề nghị gì về việc bồi thường dân sự nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

  7. [7] Về án phí: các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
  8. [8] Liên quan trong vụ án:

    Trong quá trình xô xát, đánh nhau: anh Đào Ngọc K bị thương tích hổn hại 08% sức khỏe; anh Nguyễn Duy Tuấn A 01% sức khỏe; Vũ Văn Đ 01% sức khỏe và Nguyễn Thanh T2 10% sức khỏe. Nhưng các anh K, Tuấn A, Đ và T2 đã có đơn không yêu cầu xử lý hình sự đối với hành vi gây thương tích cho mình, nên hành vi chưa đến mức xử lý hình sự. Công an thành phố C đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Sỹ Văn T3, Nguyễn Duy Tuấn A, Đào Ngọc K, Nguyễn Thanh T2, Vũ Văn ĐHoàng Văn N.

    Đối với Hoàng Văn N, Nguyễn Thanh T2, Vũ Văn Đ và các anh Nguyễn Duy Tuấn A, Đào Ngọc K, Sỹ Văn T3 có hành vi đánh nhau tại quán karaoke “Vườn Xoài” thuộc tổ H, khu G, phường C, thành phố C. Cơ quan điều tra đã xác minh tại tổ dân khu phố nơi xảy ra sự việc, chủ quán bà Đoàn Thị C1 và đại diện chính quyền địa phương có quan điểm thể hiện vụ việc không gây ảnh hưởng xấu đến hoạt động kinh doanh và an ninh trật tự tại địa phương, nên Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: các bị cáo Hoàng Văn N, Nguyễn Thanh T2Vũ Văn Đ - Đều phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.

Căn cứ vào: điểm c khoản 3 Điều 134 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134); điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.

- Xử phạt bị cáo Hoàng Văn N: 05 (Năm) năm 06 (S) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 09/10/2023.

Căn cứ vào: điểm c khoản 3 Điều 134 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134); điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 17; Điều 58; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự; điểm d khoản 1 Điều 125 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Xử phạt các bị cáo Nguyễn Thanh T2Vũ Văn Đ, mỗi bị cáo: 03 (Ba) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (Năm) năm, kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Nguyễn Thanh T2 cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện V, tỉnh Quảng Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Giao bị cáo Vũ Văn Đ cho Ủy ban nhân dân phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về Luật thi hành án hình sự.

“Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.

Huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” và “Tạm hoãn xuất cảnh” của Toà án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh đối với các bị cáo Nguyễn Thanh T2Vũ Văn Đ.

Căn cứ: điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1; điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) chiếc điếu cày, dài 53cm, đường kính 4,5cm đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc điếu cày, kích thước (0,65x0,07)m đã qua sử dụng; 01 (một) thanh kim loại dài 75cm, đường kính 2cm; 01 (một) thanh kim loại, kích thước (2,65x0,06x0,03)m; 01 (một) Dao cán gỗ, kích thước (0,31x0,05)m; 01 (một) Bàn lau nhà có cán kim loại, kích thước (0,73x0,02)m; 01 (một) Ghế có chân đế bằng kim loại, đệm ngồi bọc da màu đỏ, cao 1,2m đã cũ.

(Tình trạng các vật chứng trên theo biên bản giao nhận vật chứng số 72/BB- THA, ngày 01/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh).

Buộc các bị cáo Hoàng Văn N, Nguyễn Thanh T2Vũ Văn Đ, mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Ninh;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - Sở tư pháp tỉnh Quảng Ninh;
  • - VKSND thành phố Cẩm Phả
  • - CQCSĐT Công an TP. Cẩm Phả,
  • - CQTHAHS Công an TP Cẩm Phả;
  • - CCTHADS thành phố Cẩm Phả;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ, lưu văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Văn Đạt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 38/2024/HS-ST ngày 24/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ - TỈNH QUẢNG NINH về hình sự (cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 38/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ - TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hoàng Văn N và đồng phạm - Cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger