|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH TỈNH QUẢNG BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 38/2024/HS-ST Ngày: 23 - 9 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Nam
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Cao Thế và ông Văn Anh Trình
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Mỹ Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Phan Bảo Cường - Kiểm sát viên.
Trong ngày 23 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 36/2024/TLST - HS ngày 10 tháng 9 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Bị cáo Trần Ngọc H, sinh ngày 14 tháng 6 năm 1986 tại xã X, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: thôn X, xã X, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 03/12; Nghề nghiệp: Đánh cá; Con ông Trần Văn B (đã chết) và bà Đồng Thị Anh V, sinh năm 1947. Vợ là Phạm Thị B1, sinh năm 1990. Bị cáo có 02 (hai) người con; con lớn nhất sinh năm 2013, con nhỏ nhất sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 19/6/2024 đến ngày 21/6/2024 được thay đổi áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
2. Bị cáo Hồ Bá H1, sinh ngày: 02 tháng 7 năm 1985 tại xã X, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: thôn X, xã X, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lái xe; Con ông: Hồ Bá H2, sinh năm 1936 và bà Trần Thị N, sinh năm: 1941; Vợ là Võ Thị M, sinh năm 1994. Bị cáo có 01 (một) người con, sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 19/6/2024 đến ngày 21/6/2024 được thay đổi áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
3. Bị cáo Trương Thị Hồng T, sinh ngày: 07 tháng 3 năm 1975 tại xã X, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: thôn X, xã X, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 06/12; Nghề nghiệp: Buôn bán; Con bà Trương Thị M1; Chồng là Phạm Văn Đ, sinh năm 1970. Bị cáo có 02 (hai) người con; con lớn nhất sinh năm 1997, con nhỏ nhất sinh năm 2000; Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 19/6/2024 đến ngày 21/6/2024 được thay đổi áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
4. Bị cáo Dương Thúy K, sinh ngày: 07 tháng 8 năm 1984 tại xã T, huyện N, tỉnh Cà Mau. Nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: thôn T, xã T, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 08/12; Nghề nghiệp: Buôn bán; Con ông: Dương Văn S (Đã chết) và bà Nguyễn Thị D (Đã chết); Chồng là Võ Thanh H3, sinh năm 1988. Bị cáo có 03 (ba) người con, con lớn nhất sinh năm 2010, con nhỏ nhất sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: không
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 19/6/2024 đến ngày 21/6/2024 được thay đổi áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
5. Bị cáo Nguyễn Thị G, sinh ngày 07 tháng 3 năm 1989 tại: xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã T, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Buôn bán; Con ông Nguyễn Đức S1 (đã chết) và bà Lê Thị P (đã chết). Chồng là Lê Văn T1, sinh năm 1981. Bị cáo có 04 (bốn) người con; con lớn nhất sinh năm 2009, con nhỏ nhất sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 21/6/2024 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 15 giờ 20 phút ngày 19/06/2024, qua việc xác minh tin báo của quần chúng nhân dân, đội Cảnh sát điều tra tội phạm về hình sự, kinh tế và ma túy Công an huyện Q phối hợp với Công an xã H, huyện Q đã phát hiện và bắt quả tang Dương Thúy K, Hồ Bá H1, Trần Ngọc H, Trương Thị Hồng T và Nguyễn Thị G đang có hành vi đánh bạc dưới hình thức bài ba cây (cào tố) thắng thua bằng tiền, tại bãi đất trống ở khu nghĩa địa thuộc thôn Đ, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ số tiền 40.750.000 đồng (bốn mươi triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) tiền Ngân hàng N1 và 01 (một) bộ bài tú lơ khơ, bộ E (năm mươi hai) quân bài.
Quá trình điều tra, các đối tượng khai nhận:
Vào khoảng 13 giờ 00 phút ngày 19/6/2024, tại bãi đất trống thuộc khu nghĩa địa ở thôn Đ, xã H, Quảng Ninh, Quảng Bình, Trần Ngọc H, Hồ Bá H1, Trương Thị Hồng T, Dương Thúy K và Nguyễn Thị G gặp nhau và ngồi liên hoan ăn nhậu với nhau. Sau đó, Trần Ngọc H, Hồ Bá H1, Trương Thị Hồng T, Dương Thúy K và Nguyễn Thị G đã cùng rủ nhau đánh bài tú lơ khơ thắng thua bằng tiền dưới hình thức bài ba cây (cào tố).
Cách thức đánh như sau: Trước khi đánh, những người tham gia đánh bạc quy ước với nhau như sau: Mỗi người chơi đặt ra giữa sòng bài số tiền 50.000 đồng (gọi là tiền mậu), sau đó mỗi người được chia 03 quân bài. Người chia bài sẽ được đánh trước, với số tiền đặt tối thiểu 50.000 đồng, tối đa 200.000 đồng (gọi là tiền tố), những người chơi tiếp theo có thể đánh hoặc không đánh. Nếu những người chơi tiếp theo không đánh thì người đánh đầu tiên sẽ thắng với toàn bộ số tiền đã đặt trên ván bài và ván bài đó kết thúc. Nếu người tiếp theo đánh thì sẽ đặt số tiền tương ứng với số tiền tố người chơi trước đã đặt hoặc đặt thêm số tiền tố cần đánh để người tiếp theo có cơ sở đánh, khi đến lượt theo vòng có người đặt số tiền tố lớn nhất và không có ai đánh nữa, thì người đánh đó sẽ thắng với toàn bộ số tiền đã đặt trên ván bài và ván bài đó kết thúc. Nếu không có ai đánh nữa, những người chơi lật bài ra kiểm tra, bài người nào to nhất thì sẽ thắng toàn bộ số tiền đã đặt trên ván bài. Nếu có hai người trở lên cùng hoà điểm cao nhất, thì những người bài điểm nhỏ hơn sẽ mua và phải đặt ra một nửa số tiền đang có của ván bài để được đánh tiếp ván đó, rồi tiếp tục đánh với hình thức như trên, còn nếu những người bài điểm nhỏ hơn không mua thì hai người trở lên cùng hoà điểm cao nhất sẽ chia đều số tiền thắng của ván bài đó với nhau.
Cách tính điểm như sau: Lớn nhất là X, X gồm 3 quân bài bằng nhau, trong đó, Xam A (Át) lớn nhất, Xam 2 nhỏ nhất. Tiếp đến là L, L gồm 3 quân bài liên tiếp nhau, trong đó L lớn nhất là Q, K, A, Liêng nhỏ nhất là A, 2, 3. Tiếp đến là Ba T2, Ba T2 chỉ gồm 3 quân bài có hình người J, Q, K và và cuối cùng là 9 điểm, điểm được tính theo số ghi trên quân bài theo thứ tự từ 2 đến 9. Riêng quân bài 10 và các quân bài có hình người được tính 0 điểm, quân bài A được tính 1 điểm (khi so bài tính điểm với nhau).
Vật chứng vụ án: Cơ quan điều tra đã thu giữ: 40.750.000 đồng (bốn mươi triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) tiền Ngân hàng N1 và 01 (một) bộ bài tú lơ khơ, bộ E (năm mươi hai) quân bài. Tất cả có đặc điểm mô tả như biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Tại bản Cáo trạng số 34/CT - VKS ngày 09 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh truy tố các bị cáo Trần Ngọc H, Hồ Bá H1, Trương Thị Hồng T, Dương Thúy K, Nguyễn Thị G về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự;
Tại phiên tòa các bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu lời luận tội, chứng minh và phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện; Giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Trần Ngọc H, Hồ Bá H1, Trương Thị Hồng T, Dương Thúy K, Nguyễn Thị G phạm tội “Đánh bạc”.
Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Trần Ngọc H, Hồ Bá H1, Nguyễn Thị G;
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 36 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trương Thị Hồng T, Dương Thúy K;
Đề nghị xử phạt các bị cáo Trần Ngọc H, Hồ Bá H1, Trương Thị Hồng T, Dương Thúy K, Nguyễn Thị G từ 24 đến 30 tháng cải tạo không giam giữ; các bị cáo có việc làm và thu nhập ổn định nên đề nghị mỗi tháng khấu trừ thu nhập của các bị cáo với mức 5%/thu nhập tháng cho đến khi các bị cáo chấp hành xong mức hình phạt cải tạo không giam giữ.
Về xử lý vật chứng: căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự đề nghị tuyên tịch thu, sung vào Ngân sách Nhà nước số tiền: 40.750.000 đồng (bốn mươi triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) đã thu giữ trên chiếu bạc của các bị cáo.
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bộ bài tú lơ khơ, bộ E (năm mươi hai) quân bài mà các bị cáo dùng để đánh bạc.
Về án phí sơ thẩm: các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Cơ quan Điều tra, cơ quan Truy tố đã thực hiện đúng chức năng, thẩm quyền, ban hành các quyết định theo đúng trình tự pháp luật quy định.
[2] Xem xét hành vi của các bị cáo bị truy tố:
Tại phiên toà các bị cáo Trần Ngọc H, Hồ Bá H1, Trương Thị Hồng T, Dương Thúy K và Nguyễn Thị G đều khai nhận hành vi như sau: Vào khoảng 13 giờ 00 phút ngày 19/6/2024, tại bãi đất trống thuộc khu nghĩa địa ở thôn Đ, xã H, Quảng Ninh, Quảng Bình, các bị cáo gặp nhau và ngồi ăn nhậu với nhau. Sau đó, khi thấy bộ bài có sẵn của trẻ chăn trâu để lại, các bị cáo đã cùng rủ nhau đánh bài tú lơ khơ thắng thua bằng tiền dưới hình thức bài ba cây (cào tố). Trước khi đánh, những người tham gia đánh bạc quy ước với nhau như sau: Mỗi người chơi đặt ra giữa sòng bài số tiền 50.000 đồng (gọi là tiền mậu), sau đó mỗi người được chia 03 quân bài. Người chia bài sẽ được đánh trước, với số tiền đặt tối thiểu 50.000 đồng, tối đa 200.000 đồng (gọi là tiền tố), những người chơi tiếp theo có thể đánh hoặc không đánh. Nếu những người chơi tiếp theo không đánh thì người đánh đầu tiên sẽ thắng với toàn bộ số tiền đã đặt trên ván bài và ván bài đó kết thúc. Nếu người tiếp theo đánh thì sẽ đặt số tiền tương ứng với số tiền tố người chơi trước đã đặt hoặc đặt thêm số tiền tố cần đánh để người tiếp theo có cơ sở đánh, khi đến lượt theo vòng có người đặt số tiền tố lớn nhất và không có ai đánh nữa, thì người đánh đó sẽ thắng với toàn bộ số tiền đã đặt trên ván bài và ván bài đó kết thúc. Nếu không có ai đánh nữa, những người chơi lật bài ra kiểm tra, bài người nào to nhất thì sẽ thắng toàn bộ số tiền đã đặt trên ván bài. Nếu có hai người trở lên cùng hoà điểm cao nhất, thì những người bài điểm nhỏ hơn sẽ mua và phải đặt ra một nửa số tiền đang có của ván bài để được đánh tiếp ván đó, rồi tiếp tục đánh với hình thức như trên, còn nếu những người bài điểm nhỏ hơn không mua thì hai người trở lên cùng hoà điểm cao nhất sẽ chia đều số tiền thắng của ván bài đó với nhau. Cách tính điểm như sau: Lớn nhất là X, X gồm 3 quân bài bằng nhau, trong đó, Xam A (Át) lớn nhất, Xam 2 nhỏ nhất. Tiếp đến là L, L gồm 3 quân bài liên tiếp nhau, trong đó L lớn nhất là Q, K, A, Liêng nhỏ nhất là A, 2, 3. Tiếp đến là Ba T2, Ba T2 chỉ gồm 3 quân bài có hình người J, Q, K và và cuối cùng là 9 điểm, điểm được tính theo số ghi trên quân bài theo thứ tự từ 2 đến 9. Riêng quân bài 10 và các quân bài có hình người được tính 0 điểm, quân bài A được tính 1 điểm (khi so bài tính điểm với nhau).
Trong lúc các bị cáo đang đánh bài thắng thua bằng tiền, vào lúc 15 giờ 20 phút ngày 19/06/2024 thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về hình sự, kinh tế và ma túy Công an huyện Q phối hợp với Công an xã H, huyện Q phát hiện và bắt quả tang. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ số tiền 40.750.000 đồng (bốn mươi triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) tiền Ngân hàng N1 và 01 (một) bộ bài tú lơ khơ, bộ E (năm mươi hai) quân bài.
Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án. Các bị cáo Trần Ngọc H, Hồ Bá H1, Trương Thị Hồng T, Dương Thúy K và Nguyễn Thị G đều là những người có năng lực hành vi trách nhiệm hình sự; nhận thức được pháp luật quy định cấm đánh bạc bất hợp pháp dưới mọi hình thức nhưng các bị cáo vẫn cố tình phạm tội. Cơ quan điều tra thu giữ trên chiếu bạc số tiền: 40.750.000 đồng, các bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì về số tiền bị bắt quả tang này. Như vậy, Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh đã truy tố và lời phát biểu luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa đối với các bị cáo là có cơ sở.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Các bị cáo Trần Ngọc H, Hồ Bá H1, Trương Thị Hồng T, Dương Thúy K và Nguyễn Thị G không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Trần Ngọc H, Hồ Bá H1, Trương Thị Hồng T, Dương Thúy K, Nguyễn Thị G thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên đều được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Đối với bị cáo Trần Ngọc H, Hồ Bá H1 đều có bố mẹ là người có công với cách mạng được tặng thưởng huân, huy chương; bị cáo Nguyễn Thị G đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, vì vậy các bị cáo này được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[4] Về tính chất, mức độ, phân hóa vai trò phạm tội của các bị cáo và áp dụng hình phạt:
Hành vi phạm tội của các bị cáo gây mất trật tự trị an ở địa phương, ảnh hưởng, tác động xấu đến cuộc sống của người dân xung quanh và xã hội. Các bị cáo đều có vai trò như nhau, cùng rủ nhau, tiếp nhận ý chí và thực hiện hành vi đánh bạc. Vụ án có tính đồng phạm tuy nhiên tính chất đơn giản, tự phát, không có sự bàn bạc, phân công nhiệm vụ, tổ chức, cấu kết chặt chẽ, vì vậy mức chịu trách nhiệm hình sự của các bị cáo như nhau.
Về hình phạt: Nhận thấy các bị cáo đều có 2 tình tiết giảm nhẹ trở lên quy định tại khoản 1, 2 Điều 51 BLHS; các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đều có nơi cư trú rõ ràng, có nhân thân tốt; quá điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo đều chấp hành tốt nghĩa vụ của mình, không có biểu hiện trốn tránh; việc cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội là không cần thiết; vì vậy cho các bị cáo được hưởng hình phạt cải tạo không giam giữ như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là cũng đủ sức răn đe, cải tạo, giáo dục các bị cáo, đồng thời thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.
Theo quy định tại khoản 3 Điều 36 Bộ luật Hình sự: “...người bị kết án phải thực hiện một số nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ và bị khấu trừ thu nhập từ 05% đến 20%”; tại phiên tòa bị cáo H khai bị cáo làm nghề đánh cá biển, mức thu nhập bình quân ổn định là 10.000.000 đồng/tháng. Bị cáo H1 khai bị cáo làm nghề lái xe, mức thu nhập bình quân ổn định là 7.000.000 đồng/tháng; Bị cáo T khai bị cáo làm nghề buôn bán mức thu nhập bình quân ổn định là 5.000.000 đồng/tháng. Bị cáo K và bị cáo G khai làm nghề buôn bán mức thu nhập bình quân ổn định mỗi tháng là 6.000.000 đồng/tháng. Hội đồng xét xử thấy có cơ sở để buộc các bị cáo mỗi tháng khấu trừ thu nhập mức 5% để sung Ngân sách Nhà nước cho đến khi chấp hành xong hình phạt.
[5] Về xử lý vật chứng: căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, để xem xét, xử lý các vật chứng sau:
- Đối với số tiền 40.750.000 đồng (bốn mươi triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) tiền Ngân hàng N1 mà Cơ quan điều tra đã thu giữ trên chiếu bạc, các đối tượng dùng để sát phạt thắng thua, cần tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.
- Đối với 01 (một) bộ bài tú lơ khơ, bộ E (năm mươi hai) quân bài, cơ quan điều tra thu được tại chiếu bạc là phương tiện, công cụ các bị cáo dùng phạm tội, không còn giá trị sử dụng cần tịch thu, tiêu hủy.
[6] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[7] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136; Điều 260; khoản 1 Điều 268, khoản 1 Điều 269; khoản 1 Điều 298; khoản 1 Điều 331; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Tuyên xử:
1. Về tội danh, áp dụng điều luật và hình phạt:
Tuyên bố các bị cáo Trần Ngọc H, Hồ Bá H1, Trương Thị Hồng T, Dương Thúy K và Nguyễn Thị G phạm tội “Đánh bạc".
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Ngọc H 24 tháng cải tạo không giam giữ, được trừ vào 03 ngày đã bị tạm giữ từ ngày 19/6/2024 đến 21/6/2024, quy đổi thành 09 ngày cải tạo không giam giữ. Thời gian còn lại buộc bị cáo H phải chấp hành là 23 (hai mươi ba) tháng 21 (hai mươi mốt) ngày cải tạo không giam giữ.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật Hình sự, xử phạt Hồ Bá H1 24 tháng cải tạo không giam giữ, được trừ vào 03 ngày đã bị tạm giữ từ ngày 19/6/2024 đến 21/6/2024, quy đổi thành 09 ngày cải tạo không giam giữ. Thời gian còn lại buộc bị cáo H1 phải chấp hành là 23 (hai mươi ba) tháng 21 (hai mươi mốt) ngày cải tạo không giam giữ.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 36 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trương Thị Hồng T 24 tháng cải tạo không giam giữ, được trừ vào 03 ngày đã bị tạm giữ từ ngày 19/6/2024 đến 21/6/2024, quy đổi thành 09 ngày cải tạo không giam giữ. Thời gian còn lại buộc bị cáo T phải chấp hành là 23 (hai mươi ba) tháng 21 (hai mươi mốt) ngày cải tạo không giam giữ.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 36 Bộ luật Hình sự, xử phạt Dương Thúy K 24 tháng cải tạo không giam giữ, được trừ vào 03 ngày đã bị tạm giữ từ ngày 19/6/2024 đến 21/6/2024, quy đổi thành 09 ngày cải tạo không giam giữ. Thời gian còn lại buộc bị cáo K phải chấp hành là 23 (hai mươi ba) tháng 21 (hai mươi mốt) ngày cải tạo không giam giữ.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Thị G 24 tháng cải tạo không giam giữ.
Thời hạn chấp hành hình phạt của các bị cáo được tính từ ngày cơ quan, tổ chức giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản án.
Giao các bị cáo Trần Ngọc H, Hồ Bá H1, Trương Thị Hồng T cho UBND xã X, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; Giao các bị cáo Dương Thúy K, Nguyễn Thị G cho UBND xã T, huyện Q, tỉnh Quảng Bình quản lý, giám sát và giáo dục các bị cáo trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.
Trường hợp người chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 Luật thi hành án hình sự năm 2019.
2. Trong thời gian các bị cáo chấp hành án: Khấu trừ 5%/thu nhập bình quân/ tháng đối với các bị cáo Trần Ngọc H, Hồ Bá H1, Trương Thị Hồng T, Dương Thúy K và Nguyễn Thị G, cụ thể: buộc bị cáo H nộp 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng)/tháng; bị cáo H1 nộp 350.000 đồng (ba trăm năm mươi nghìn đồng)/tháng; bị cáo T nộp 250.000 đồng (Hai trăm năm mươi nghìn đồng)/tháng; bị cáo G nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng)/tháng; bị cáo K nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng)/tháng, để sung vào Ngân sách Nhà nước. Việc khấu trừ thu thập được thực hiện hằng tháng, kể từ tháng 10/2024 cho đến khi các bị cáo chấp hành xong hình phạt cải tạo không giam giữ.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự:
- Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước số tiền 40.750.000 đồng (bốn mươi triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) mà cơ quan điều tra thu giữ trên chiếu bạc, theo ủy nhiệm chi lập ngày 20/9/2024 giữa Công an huyện Q và Chi cục thi hành án Dân sự huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình tại Kho bạc Nhà nước huyện Q, tỉnh Quảng Bình và theo Biên lai thu tiền số 0003960 ngày 20/9/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.
- Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) bộ bài tú lơ khơ, bộ E (năm mươi hai) quân bài mà cơ quan điều tra thu giữ được tại chiếu bạc, theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/9/2024 giữa Cơ quan điều tra Công an huyện Q và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.
4. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo Trần Ngọc H, Hồ Bá H1, Trương Thị Hồng T, Dương Thúy K và Nguyễn Thị G, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án này trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (23/9/2024).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Nam |
Bản án số 38/2024/HS-ST ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH về hình sự (đánh bạc)
- Số bản án: 38/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Ngọc Hường và đồng phạm bị truy tố về tội đánh bạc
