|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 38/2024/HS-ST. Ngày 23 - 7 - 2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Văn Chương.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Duyên, ông Nguyễn Văn Sảo.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hương Giang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huyền Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Tuyên Quang xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 41/2024/TLST - HS ngày 01 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2024/QĐXXST - HS ngày 09 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Vũ Văn T (tên gọi khác: Không), sinh ngày 02/4/1991 tại tỉnh Tuyên Quang;
Nơi cư trú: Thôn Đ, xã V, huyện S, tỉnh Tuyên Quang;
Nghề nghiệp: Giám đốc Công ty TNHH MTV T4; trình độ văn hóa (học vấn) lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; chức vụ Đảng, đoàn thể: Đảng viên Đ. Đang bị đình chỉ sinh hoạt đảng theo Quyết định số 159-QĐ/UBKTHU ngày 15/7/2024 của Ủy ban Kiểm tra huyện ủy S; con ông Vũ Văn L và bà Nguyễn Thị K; có vợ Nguyễn Thị Kim O và 03 con;
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Anh Hoàng Văn P, sinh năm 1979; vắng mặt, có đơn xin vắng mặt;
- Chị Nguyễn Thị Kim O, sinh năm 1996; có mặt;
- Chị Nguyễn Thùy D, sinh năm 1992; có mặt;
Địa chỉ: Tổ Dân phố C, phường M, quận N, Thành phố Hà Nội.
Địa chỉ: Thôn Đ, xã V, huyện S, tỉnh Tuyên Quang.
Địa chỉ: Tổ B, phường G, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.
* Người làm chứng:
- Anh Phùng Văn H, sinh năm 1985; có mặt;
- Anh Phí Thành T1, sinh năm 1978; có mặt;
- Anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 1989; vắng mặt;
Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ.
Địa chỉ: Tổ B, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.
Địa chỉ: Tổ A, phường Đ, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Công ty TNHH Một thành viên T4 (viết tắt là Công ty T4), được Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh T cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh lần đầu ngày 25/9/2015 do Vũ Văn T là Giám đốc, ngành nghề kinh doanh gồm nhiều lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực kinh doanh, chế biến dăm gỗ. Trong khoảng thời gian từ tháng 12/2020 đến tháng 01/2022, T đã chỉ đạo nhân viên Công ty T4 thu mua gỗ nguyên liệu không có hoá đơn đầu vào từ các hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn các huyện S, huyện H, tỉnh Tuyên Quang. Sau đó, T thuê nhân công là lao động tự do tại địa phương chế biến toàn bộ số gỗ đã mua được thành dăm gỗ. Đồng thời, T đã trực tiếp liên hệ bán số dăm gỗ trên cho anh Phùng Văn H và anh Nguyễn Văn T2. T yêu cầu các anh H và anh T2 chuyển tiền mua dăm gỗ vào tài khoản cá nhân của Tân số [...] của mở tại V và T không chỉ đạo kế toán xuất hóa đơn Giá trị gia tăng, không kê khai số tiền thu được vào doanh thu của Công ty T4 đối với toàn bộ số dăm gỗ đã bán cho các ông H và T2, cụ thể:
- Từ tháng 12/2020 đến tháng 01/2022: T đã 14 lần bán tổng số 754 tấn dăm gỗ cho ông Phùng Văn H; ông H đã sử dụng tài khoản cá nhân của mình số [...] mở tại V và nhờ một số người quen sử dụng tài khoản cá nhân chuyển tổng cộng 1.765.425.000 đồng vào tài khoản số [...] của T mở tại V (số tài khoản này do T cung cấp, không phải là số tài khoản đăng ký của Công ty T4), trong đó:
- Ngày 07/12/2020, T bán cho ông H 30 tấn dăm gỗ và đã nhận chuyển khoản của ông H số tiền 70.385.000 đồng.
- Ngày 29/01/2021, T bán cho ông H 45 tấn dăm gỗ và nhận chuyển khoản số tiền 100.000.000 đồng.
- Ngày 06/02/2021, T bán cho ông H 22 tấn dăm gỗ và nhận chuyển khoản số tiền 48.820.000 đồng.
- Ngày 22/3/2021, T bán cho ông H 45 tấn dăm gỗ và nhận chuyển khoản số tiền 100.000.000 đồng.
- Ngày 11/4/2021, T bán cho ông H 23 tấn dăm gỗ và nhận chuyển khoản số tiền 50.000.000 đồng.
- Ngày 26/5/2021, T bán cho ông H 80 tấn dăm gỗ và nhận chuyển khoản số tiền 200.000.000 đồng.
- Ngày 28/6/2021, T bán cho ông H 65 tấn dăm gỗ và nhận chuyển khoản số tiền 150.000.000 đồng.
- Ngày 09/7/2021, T bán cho ông H 65 tấn dăm gỗ và nhận chuyển khoản số tiền 150.000.000 đồng.
- Ngày 23/7/2021, T bán cho ông H 80 tấn dăm gỗ và nhận chuyển khoản số tiền 200.000.000 đồng.
- Ngày 25/8/2021, T bán cho ông H 65 tấn dăm gỗ và nhận chuyển khoản số tiền 150.000.000 đồng.
- Ngày 24/9/2021, T bán cho ông H 65 tấn dăm gỗ và nhận chuyển khoản số tiền 150.000.000 đồng
- Ngày 25/11/2021, T bán cho ông H 23 tấn dăm gỗ và nhận chuyển khoản số tiền 50.000.000 đồng.
- Ngày 22/12/2021, T bán cho ông H 66 tấn dăm gỗ và nhận chuyển khoản số tiền 153.170.000 đồng.
- Ngày 27/01/2022, T bán cho ông H 80 tấn dăm gỗ và nhận chuyển khoản số tiền 193.050.000 đồng.
- Từ tháng 09/2021 đến tháng 01/2022, T đã 11 lần bán tổng số 495 tấn dăm gỗ cho ông Nguyễn Văn T2; ông T2 đã sử dụng tài khoản cá nhân số [...] mở tại V chuyển tổng cộng 1.167.253.000 đồng vào tài khoản số [...] của T mở tại V (số tài khoản này do T cung cấp, không phải là số tài khoản đăng ký của Công ty T4), trong đó:
- Ngày 22/9/2021, T bán cho ông T2 70 tấn dăm gỗ và đã nhận chuyển khoản của ông T2 số tiền 150.000.000 đồng.
- Ngày 28/9/2021, T bán cho ông T2 40 tấn dăm gỗ và nhận chuyển khoản số tiền 100.000.000 đồng.
- Ngày 08/10/2021, T bán cho ông T2 70 tấn dăm gỗ và nhận chuyển khoản số tiền 150.000.000 đồng.
- Ngày 18/10/2021, T bán cho ông T2 50 tấn dăm gỗ và nhận chuyển khoản số tiền 116.234.000 đồng.
- Ngày 29/10/2021, T bán cho ông T2 40 tấn dăm gỗ và nhận chuyển khoản số tiền 100.000.000 đồng.
- Ngày 05/11/2021, T bán cho ông T2 80 tấn dăm gỗ và nhận chuyển khoản số tiền 200.000.000 đồng.
- Ngày 18/11/2021, T bán cho ông T2 30 tấn dăm gỗ và nhận chuyển khoản số tiền 71.686.000 đồng.
- Ngày 25/11/2021, T bán cho ông T2 13 tấn dăm gỗ và nhận chuyển khoản số tiền 30.041.000 đồng.
- Ngày 08/12/2021, T bán cho ông T2 15 tấn dăm gỗ và nhận chuyển khoản số tiền 34.732.000 đồng.
- Ngày 12/01/2022, T bán cho ông T2 80 tấn dăm gỗ và nhận chuyển khoản số tiền 200.000.000 đồng.
- Ngày 18/01/2022, T bán cho ông T2 07 tấn dăm gỗ và nhận chuyển khoản số tiền 14.560.000 đồng.
Như vậy, từ tháng 12/2020 đến tháng 01/2022, Vũ Văn T đã có hành vi nhiều lần bán tổng cộng 1.249 tấn dăm gỗ cho các ông Phùng Văn H và Nguyễn Văn T2, nhưng không lập hợp đồng mua bán, không xuất hóa đơn giá trị gia tăng; T đã cung cấp cho các ông H và T2 tài khoản cá nhân của mình số [...] mở tại V để nhận toàn bộ số tiền 2.932.678.000 đồng bán dăm gỗ trên (bán cho ông H 754 tấn dăm gỗ, nhận 1.765.425.000 đồng; bán cho ông T2 495 tấn dăm gỗ, nhận 1.167.253.000 đồng). Sau đó, T cũng không nộp số tiền này vào tài khoản của Công ty T4, không cung cấp cho kế toán kê khai vào doanh thu của Công ty các năm 2020, 2021, 2022 để thực hiện việc quyết toán thuế Thu nhập doanh nghiệp với Chi cục thuế huyện S, qua đó T đã trốn thuế Giá trị gia tăng với số tiền là 293.267.800 đồng (theo Kết luận giám định của Tổ giám định Cục Thuế tỉnh T).
Tại Kết luận giám định số 02/CTTQU-GĐTP ngày 02/01/2024 của Tổ giám định số 01/QĐ-CTTQU, Cục Thuế tỉnh T, kết luận: Hành vi bán hàng không xuất hóa đơn giá trị gia tăng, không kê khai nộp thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng của Công ty T4 từ năm 2020 đến năm 2022 đối với doanh thu bán hàng cho ông Nguyễn Văn T2 và ông Phùng Văn H là hành vi trốn thuế. Trong đó:
- Số tiền thuế GTGT trốn là 293.267.800 đồng (năm 2021 trốn 112.669.242 đồng; năm 2022 trốn 170.598.558 đồng).
- Số tiền thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp: Không phát sinh, do Công ty T4 được chuyển lỗ từ hoạt động sản xuất kinh doanh các năm trước (giảm lỗ năm 2020 số tiền 1.219.483 đồng; tăng số lỗ từ hoạt động sản xuất kinh doanh được chuyển trong kỳ năm 2021 số tiền 19.210.806 đồng và năm 2022 số tiền 24.287.711 đồng).
Tại Cáo trạng số 41/CT-VKSTQ-P1 ngày 28 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang đã truy tố bị cáo Vũ Văn T về tội Trốn thuế theo điểm c khoản 1 Điều 200 Bộ luật Hình sự.
Kết thúc phần tranh luận, Kiểm sát viên trình bày luận tội giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Vũ Văn T phạm tội Trốn thuế.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 200; các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; và Điều 35 Bộ luật Hình sự.
Phạt tiền bị cáo Vũ Văn T từ 150.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng.
- Về biện pháp tư pháp: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Truy thu của bị cáo Vũ Văn T số tiền trốn thuế là 293.267.800 đồng; số tiền này chuyển đến tài khoản của Chi cục thuế huyện S, tỉnh Tuyên Quang để sung vào ngân sách Nhà nước. Ghi nhận bị cáo Vũ Văn T đã tự nguyện nộp số tiền 293.267.800 đồng tiền trốn thuế để khắc phục hậu quả (Theo Biên lai thu tiền số 0000077 ngày 16/7/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Tuyên Quang và tại Quyết định chuyển tiền số 181/QĐ-STC, ngày 22/7/2024 của Sở Tài chính tỉnh T).
- Về xử lý vật chứng: Lưu theo hồ sơ vụ án hồ sơ khai thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2020, 2021, 2022; Hồ sơ khai thuế thu nhập cá nhân năm 2020, 2021, 2022; Hồ sơ khai thuế GTGT từ quý I đến quý VI các năm 2020, 2021, 2022, từ quý I đến quý III năm 2023; Quyết định xử lý vi phạm hành chính về thuế năm 2021 kỳ kiểm tra 2019, 2020.
Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Kết thúc phần tranh luận, bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử phạt bị cáo hình thức nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa, bị cáo Vũ Văn T tiếp tục khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, các biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu, vật chứng thu giữ, các kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Từ tháng 12/2020 đến tháng 01/2022, trong quá trình điều hành hoạt động kinh doanh của Công ty T4, Vũ Văn Tân sinh năm 1991 (trú tại Thôn Đ, xã V, huyện S, tỉnh Tuyên Quang), là Giám đốc Công ty T4 đã nhiều lần bán cho cá nhân các ông Phùng Văn H, sinh năm 1985 (trú tại Thôn T, xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ) và Nguyễn Văn T2, sinh năm 1989 (trú tại Tổ A, phường Đ, thành phố T) tổng cộng 1.249 tấn dăm gỗ, nhưng không lập hợp đồng mua bán, không xuất hóa đơn giá trị gia tăng; T đã cung cấp cho các ông H và T2 tài khoản cá nhân của mình số [...] mở tại V để nhận toàn bộ số tiền 2.932.678.000 đồng bán dăm gỗ trên (trong đó, bán cho ông H 754 tấn dăm gỗ, nhận 1.765.425.000 đồng; bán cho ông T2 495 tấn dăm gỗ, nhận 1.167.253.000 đồng). Sau đó, T không nộp số tiền này vào tài khoản của Công ty T4, không cung cấp cho kế toán kê khai vào doanh thu của Công ty các năm 2020, 2021, 2022 để thực hiện việc quyết toán thuế Thu nhập doanh nghiệp với Chi cục thuế huyện S, qua đó T đã trốn thuế Giá trị gia tăng với số tiền là 293.267.800 đồng. Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội; Hội đồng xét xử đủ căn cứ quy kết bị cáo Vũ Văn T phạm tội “Trốn thuế” tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 200 Bộ luật Hình sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã vi phạm quy định của Nhà nước về thuế, xâm phạm tới lợi ích của Nhà nước trong hoạt động thu thuế, nộp ngân sách cho Nhà nước từ đó gây thất thoát nguồn thu của Nhà nước. Bị cáo biết việc không kê khai với cơ quan thuế mà để ngoài sổ sách là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố tình thực hiện, thể hiện ý thức xem thường pháp luật nên cần xử phạt nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời để phòng ngừa tội phạm chung.
[2] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như sau.
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo tự nguyện khắc phục toàn bộ số tiền trốn thuế; bị cáo được Chủ tịch UBND xã V tặng Giấy khen do có thành tích xuất sắc trong cuộc vận động T3 dân xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh năm 2023. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng cho bị cáo. Xét bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì vậy để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật cần xem xét áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo Vũ Văn T như đề nghị của Kiểm sát viên cũng đủ tác dụng phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm và răn đe giáo dục bị cáo.
[3] Về biện pháp tư pháp: Truy thu của bị cáo Vũ Văn T số tiền trốn thuế là 293.267.800 đồng; số tiền này chuyển đến tài khoản của Chi cục thuế huyện S, tỉnh Tuyên Quang để sung vào ngân sách Nhà nước. Ghi nhận bị cáo Vũ Văn T đã tự nguyện nộp số tiền 293.267.800 đồng tiền trốn thuế để khắc phục hậu quả.
[4] Về xử lý vật chứng: Đối với các chứng từ, tài liệu liên quan đến việc kê khai, quyết toán thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp của Công ty T4, gồm: Hồ sơ khai thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2020, 2021, 2022; Hồ sơ khai thuế thu nhập cá nhân năm 2020, 2021, 2022; Hồ sơ khai thuế GTGT từ quý I đến quý VI các năm 2020, 2021, 2022, từ quý I đến quý III năm 2023; Quyết định xử lý vi phạm hành chính về thuế năm 2021 kỳ kiểm tra 2019, 2020. Xét thấy, đây là các tài liệu, chứng cứ liên quan đến vụ án nên cần lưu theo hồ sơ vụ án.
[5] Về mức án Viện kiểm sát đề nghị, Hội đồng xét xử xét thấy phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo nên chấp nhận.
[6] Đối với Nguyễn Thị Kim O (vợ của T) là Kế toán Công ty T4 từ năm 2019 đến nay: Kết quả điều tra xác định, chị O là Kế toán của Công ty T4 nhưng thực tế bị cáo T là người người điều hành toàn bộ hoạt động của Công ty và trực tiếp thực hiện việc giao dịch mua bán, thanh toán tiền hàng. Chị O không biết việc bị cáo Tân bán dăm gỗ không xuất hóa đơn và nhận tiền bán hàng vào tài khoản cá nhân nhằm mục đích trốn thuế, nên không có đủ căn cứ xem xét, xử lý đối với chị O với vai trò đồng phạm về hành vi Trốn thuế.
- Đối với số dăm gỗ được Công ty T4 bán cho Nguyễn Văn T2 và Phùng Văn H: Kết quả điều tra xác định Nguyễn Văn T2 liên hệ mua dăm của Công ty T4 cho Công ty TNHH T5 (Công ty T5), địa chỉ: Số H, ngõ I, phố H, phường Ô, quận Đ, Thành phố Hà Nội; Phùng Văn H liên hệ mua dăm cho Công ty TNHH T6 (Công ty T6), địa chỉ: Tổ D, phường C, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên. Số dăm gỗ trên, sau khi mua được, Hoàng Văn P, sinh năm 1979, trú tại tổ dân phố C, phường M, quận N, thành phố Hà Nội là Giám đốc Công ty T5 và Nguyễn Thùy D, sinh năm 1992, trú tại tổ B, phường G, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên là Giám đốc Công ty T6, đã bán cho một số đơn vị khác. Việc bán số dăm gỗ này được hai Công ty xuất hóa đơn, kê khai bán cùng với số dăm đã được thu mua từ các tổ chức, cá nhân khác. Hiện Công ty T5 thuộc quản lý của Chi cục thuế quận Đ, Thành phố Hà Nội, còn Công ty T6 thuộc quản lý của Chi cục thuế khu vực S1, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Cơ quan CSĐT điều tra đã có văn bản thông báo, đề nghị các cơ quan thuế trên kiểm tra, xử lý hành vi bán dăm gỗ của Công ty T5 và Công ty T6 nếu có vi phạm nên không đề cập xử lý.
- Đối Chi cục thuế huyện S: Trong các năm 2021 và 2023, Chi cục thuế huyện S có tổ chức kiểm tra việc chấp hành pháp luật về thuế đối với Công ty T4. Việc kiểm tra thuế được thực hiện dựa trên hồ sơ quyết toán thuế, hồ sơ khai thuế, tài liệu, sổ sách, hóa đơn và chứng từ kế toán do Công ty T4 cung cấp, đã ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Công ty do có vi phạm trong việc khai sai thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp, nhưng không phát hiện được hành vi trốn thuế của Vũ Văn T. Tại văn bản số 508 ngày 16/4/2024 của Cục Thuế tỉnh T xác định: căn cứ khoản 4 Điều 110 Luật Quản lý thuế, không quy định quá trình kiểm tra thuế tại trụ sở của người nộp thuế bắt buộc phải kiểm tra, đối chiếu số liệu trên tài khoản của Giám đốc doanh nghiệp. Do đó, không có căn cứ xác định Đoàn kiểm tra của Chi cục thuế huyện S đã có hành vi cố ý làm trái hoặc thiếu trách nhiệm khi kiểm tra thuế tại Công ty T4, nên không đề cập xử lý.
- Đối với các giao dịch chuyển tiền của những người liên quan đến tài khoản số [...] của Vũ Văn T, gồm Bà Đoàn Thị H1 (trú tại Khu Phố, xã T, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ); bà Nguyễn Thị H2 (trú tại Tổ A, phường Y, quận C, thành phố Hà Nội); bà Nguyễn Thị Bích P1 (trú tại Thôn A, xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ); ông Trần Cao C (trú tại Số nhà F, H, phường H, quận H, thành phố Hải Phòng); ông Nguyễn Văn T2 (trú tại Tổ C, khu A, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ); ông Nguyễn Văn D1 (trú tại Thôn C, xã P, huyện T, tỉnh Thái Bình): Quá trình điều tra xác định những giao dịch chuyển tiền giữa T và những người này là tiền vay mượn để kinh doanh; tiền tạm ứng mua dăm gỗ và hàng hóa khác, nhưng do T không có hàng hóa cung cấp nên đã trả lại đầy đủ. Xét thấy đây là các giao dịch dân sự, không liên quan đến hành vi trốn thuế, nên không xem xét.với
[7] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên thuộc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T; Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[8] Về án phí: Bị cáo Vũ Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9] Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (kháng cáo phần liên quan) được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 200; điểm b, điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự.
- Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tuyên bố bị cáo Vũ Văn T phạm tội Trốn thuế.
Phạt tiền bị cáo Vũ Văn T 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng).
Truy thu của bị cáo Vũ Văn T số tiền trốn thuế là 293.267.800 đồng (Hai trăm chín ba triệu hai trăm sáu bảy nghìn tám trăm đồng); số tiền này chuyển đến số tài khoản 7111, Mã cơ quan thu 1054039 của Chi cục thuế huyện S, tỉnh Tuyên Quang, mở tại Kho bạc Nhà nước huyện S, tỉnh Tuyên Quang để sung vào ngân sách Nhà nước.
Ghi nhận bị cáo Vũ Văn T đã tự nguyện nộp số tiền 293.267.800 đồng tiền trốn thuế để khắc phục hậu quả (Số tiền đã thu giữ của bị cáo Vũ Văn T hiện đang tạm giữ tại tài khoản số 3949.0.1054495.00000 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Tuyên Quang theo Quyết định chuyển tiền số 181/QĐ-STC, ngày 22/7/2024 của Sở Tài chính tỉnh T là 20.000.000 đồng và tại Biên lai thu tiền số 0000077 ngày 16/7/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Tuyên Quang số tiền là 273.267.800 đồng).
Bị cáo Vũ Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (kháng cáo phần liên quan) có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Văn Chương |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Hoàng Thị Duyên - Nguyễn Văn Sảo |
Hà Văn Chương |
Bản án số 38/2024/HS-ST ngày 23/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG về hình sự sơ thẩm (trốn thuế)
- Số bản án: 38/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Trốn thuế)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vũ Văn T phạm tội Trốn thuế
