Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN LÊ CHÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Số: 38/2024/HNGĐ-ST

Ngày 23-7-2024

V/v ly hôn; tranh chấp về nuôi con.

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Phong Lan

Các Hội thẩm nhân dân.

Ông Nguyễn Văn Hạnh

Bà Hà Thị Nga

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Trần Tuấn Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 61/2024/TLST- HNGĐ ngày 19 tháng 4 năm 2024 về việc Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 577/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 28 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 646/2024/QÐST-HNGĐ ngày 16 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự :

- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị T; đăng ký hộ khẩu thường trú: Số A lô G Công nhân D, phường D, quận L, thành phố Hải Phòng; nơi sinh sống: Xóm Đ, xã Đ, huyện K, tỉnh Hải Dương. Có mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Đình T1; nơi cư trú: Số A lô G Công nhân D, phường D, quận L, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn xin ly hôn cùng lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Phạm Thị T trình bày: Chị và anh Nguyễn Đình T1 xây dựng gia đình với nhau trên cơ sở tự nguyện và có làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường D, quận L, thành phố Hải Phòng vào ngày 22/5/2014.

Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống cùng với bố mẹ chồng tại địa chỉ số A lô G Công nhân D, phường D, quận L, thành phố Hải Phòng. Đến năm 2015 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu do hai bên bất đồng về quan điểm, lối sống. Anh T1 không có công ăn việc làm ổn định nên kinh tế gia đình gặp nhiều khó khăn, dẫn đến vợ chồng mâu thuẫn với nhau về vấn đề kinh tế. Ngoài ra, trong quá trình chung sống với nhà chồng giữa chị và gia đình chồng có phát sinh mâu thuẫn, bất hòa. Bản thân chị cũng đã cố gắng khắc phục mâu thuẫn nhiều lần nhưng không có kết quả. Mâu thuẫn đỉnh điểm vào tháng 8/2023, chị đã chuyển về nhà ngoại sinh sống, vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay. Hiện tại chị xác định vợ chồng không còn tình cảm, không có khả năng hàn gắn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T1.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Phương A, sinh ngày 24/10/2015. Kể từ khi vợ chồng sống ly thân, cháu Phương A do anh T1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Nay ly hôn, anh T1 có nguyện vọng được nuôi dưỡng con chung, chị đồng ý để anh T1 trực tiếp nuôi con chung. Về cấp dưỡng nuôi con, hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị Phạm Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngày 17 tháng 5 năm 2024, sau khi nhận được Thông báo thụ lý vụ án và giấy triệu tập của Tòa án, anh Nguyễn Đình T1 có đến trụ sở Tòa án quận Lê Lê C làm việc và trình bày: Anh xác nhận vợ chồng có mâu thuẫn như chị T trình bày là đúng, song anh T1 không đồng ý ly hôn. Nếu chị T kiên quyết xin ly hôn anh buộc phải chấp nhận. Trong trường hợp vợ chồng ly hôn thì anh đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, về cấp dưỡng nuôi con, anh T1 không yêu cầu chị T cấp dưỡng; về tài sản chung: Anh T1 không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tuy nhiên anh T1 không đồng ý viết bản tự khai và từ chối ký biên bản làm việc tại trụ sở Toà án vào ngày 17/5/2024 nêu trên.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ nhiều lần, song anh T1 không đến Tòa án theo giấy triệu tập; thông báo hòa giải; quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa của Tòa án.

Tại phiên tòa, chị Phạm Thị T giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin ly hôn với anh Nguyễn Đình T1 cũng như những quan điểm về con chung và tài sản chung đã trình bày ở trên.

Kiểm sát viên tham gia phát biểu ý kiến tại phiên tòa:

- Về tố tụng: Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định về trình tự thủ tục tố tụng tại phiên tòa; nguyên đơn chấp hành đúng các quy định về tố tụng dân sự; bị đơn đã không chấp hành các quy định về tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho chị Phạm Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Đình T1. Về nuôi con chung: Giao con chung Nguyễn Phương A, sinh ngày 24/10/2015 cho anh Nguyễn Đình T1 trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con, hai bên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét. Về tài sản chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giải quyết.

- Về án phí: Chị T phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng:

[1] Theo đơn khởi kiện xin ly hôn và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện bị đơn - Anh Nguyễn Đình T1 có nơi cư trú tại: Số A lô G Công nhân D, phường D, quận L, thành phố Hải Phòng. Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án khởi kiện xin ly hôn giữa chị Phạm Thị T và anh Nguyễn Đình T1 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.

[2] Tại phiên tòa, bị đơn là anh Nguyễn Đình T1 vắng mặt không có lý do, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai. Bởi vậy căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh Nguyễn Đình T1.

- Về quan hệ hôn nhân:

[3] Chị Phạm Thị T và anh Nguyễn Đình T1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân phường D, quận L, thành phố Hải Phòng vào ngày 22/5/2014. Quan hệ hôn nhân giữa Chị Phạm Thị T và anh Nguyễn Đình T1 là hợp pháp.

[4] Quá trình vợ chồng chung sống bắt đầu phát sinh mâu thuẫn từ năm 2015. Nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu do hai bên bất đồng về quan điểm, lối sống và trong cả vấn đề kinh tế. Ngoài ra khi sống chung giữa chị T và gia đình nhà chồng cũng phát sinh mâu thuẫn bất hòa giữa chị T với mẹ chồng. Quá trình giải quyết vụ án mặc dù anh T1 có mặt tại địa phương, biết việc chị T khởi kiện yêu cầu ly hôn và Tòa án đang thụ lý giải quyết vụ án thông qua những lần nhận các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng anh T1 đã không hợp tác, không đến Tòa án để giải quyết. Việc này thể hiện anh T1 thiếu thiện chí trong việc hòa giải, bỏ mặc tình trạng hôn nhân ngày càng xấu đi. Mặt khác qua điều tra, xác minh tại địa phương và mẹ đẻ của anh T1 cho thấy quá trình chung sống giữa chị T và anh T1 thường xuyên xảy ra cãi vã, bất đồng. Ngoài ra cũng có việc mâu thuẫn giữa chị T với nhà chồng. Mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T và anh T1 ngày càng căng thẳng. Do đó đến tháng 8/2023 chị T đã trở về nhà ngoại sinh sống, vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay, không ai quan tâm đến ai về tình cảm cũng như vè kinh tế. Điều đó chứng tỏ quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh T1 trên thực tế không còn tồn tại, mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được, bởi vậy yêu cầu của chị T xin được ly hôn với anh T1 là chính đáng, phù hợp với thực tế, phù hợp với quy định tại các Điều 51, 56 Luật Hôn và nhân gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

- Về nuôi con chung:

[5] Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Phương A, sinh ngày 24/10/2015. Ly hôn, chị T đồng ý để anh T1 trực tiếp nuôi con chung. Qua xác minh thực tế, từ khi chị T về nhà ngoại sinh sống thì cháu Phương A do anh T1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng từ đó đến nay. Anh T1 cũng có nguyện vọng trực tiếp nuôi con chung. Đồng thời qua xem xét nguyện vọng của cháu Nguyễn Phương A có nguyện vọng được ở với bố ( là anh Nguyễn Đình T1). Hội đồng xét xử xét thấy: Giao cháu Nguyễn Phương A cho anh Nguyễn Đình T1 trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với thực tế và phù hợp với quy định của pháp luật. Về việc cấp dưỡng nuôi con, hai bên không yêu cầu Tòa án xem xét việc cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

- Về chia tài sản:

[6] Chị T không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về án phí:

[7] Chị T phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. - Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Phạm Thị T được ly hôn anh Nguyễn Đình T1.
  2. - Về nuôi con chung: Giao con chung Nguyễn Phương A, sinh ngày 24/10/2015 cho anh Nguyễn Đình T1 trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con, chị T và anh T1 cùng không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  3. - Về án phí: Chị Phạm Thị T phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được tính trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng theo biên lai thu tiền số số 0005829 ngày 17 tháng 4 năm 2024. Chị T đã nộp đủ tiền án phí.
  4. - Về quyền kháng cáo: Chị Phạm Thị T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Đình T1 có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND quận Lê Chân;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân
  • - UBND phường Dư Hàng, quận Lê Chân, HP (ngày ĐKKH 22/5/2014);
  • - Lưu: HCTP, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Phong Lan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 38/2024/HNGĐ-ST ngày 23/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn; tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 38/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn; tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Thúy - Thắng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger