Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ QUẾ VÕ

TỈNH BẮC NINH

Bản án số: 38/2024/DS-ST

Ngày: 23-7-2024

V/v: “Tranh chấp hợp đồng

tín dụng”.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

-

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thảo

Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Quang Tuyến, bà Nguyễn Thị Chung.

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy- Thư ký Toà án nhân dân thị xã Quế Võ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ – tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Quế Võ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 117/2024/TLST-DS ngày 09 tháng 4 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2024/QĐXXST-DS ngày 01/7/2024; Quyết định hoãn phiên toà số 24/2024/QÐST-DS ngày 18/7/2024 giữa:

Nguyên đơn: Ngân hàng T2 (G).

Địa chỉ: Số A T, phường C, quận H, Thành phố Hà Nội.

Người đại đại diện theo pháp luật: Ông Hồ Hữu M - Tổng Giám Đốc.

Người đại đại diện theo ủy quyền: Ông Phan Quang T– Giám Đốc Phòng G1.

Người đại đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng tại Tòa án:

  • - Ông Tạ Quang N, sinh năm 1988 – Trưởng Ban kinh doanh, có mặt.
  • - Ông Nguyễn Văn N1, sinh năm 1990 - Nhân Viên kinh doanh, có mặt.

Cùng địa chỉ: Số I+I phố T, phường Đ, quận L, Thành phố Hà Nội.

Bị đơn: Ông Nguyễn Minh Đ, sinh năm 1997, vắng mặt.

HKTT: Khu phố V, phường Đ, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Nguyễn Văn D sinh năm 1971, vắng mặt.
  2. Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1974, vắng mặt.

Cùng HKTT: Khu phố V, phường Đ, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh.

  1. Bà Nguyễn Thị D1, sinh năm 1994; vắng mặt

HKTT: Khu phố Đ, phường B, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo tại Toà án, nguyên đơn Ngân hàng T2 (Sau đây gọi tắt là G) do ông Nguyễn Văn N1 là người đại diện theo uỷ quyền trình bày:

Ngày 09/09/2022, Ngân hàng T2 – Chi nhánh T3 – P và ông Nguyễn Minh Đ đã ký kết Hợp đồng tín dụng số 0086/2022/PLB22/HDTD với số tiền vay 1.500.000.000 đồng; Thời hạn vay: 120 tháng; Lãi suất: Chương trình ưu đãi lãi suất đối với Khách hàng vay vốn thì lãi suất cố định 9%/năm trong 12 tháng đầu. Sau thời gian ưu đãi, áp dụng lãi suất điều chỉnh thay đổi 01 tháng 01 lần vào ngày 15 hàng tháng. Lãi xuất cho vay các kỳ tiếp theo được xác định theo thông báo của ngân hàng tại thời điểm xác định lãi xuất cho vay, tuân thủ theo chính sách lãi xuất của ngân hàng tại từng thời điểm, điều chỉnh thay đổi. Mục đích vay: Thanh toán tiền sửa chữa nhà theo hợp đồng sửa nhà số 04/2022/HĐSN ngày 02/08/2022. Phương thức vay: Dài hạn. Kế hoạch rút vốn: Một lần. Hình thức giải ngân: Chuyển khoản. Trả nợ lãi: 01 tháng/01 lần vào ngày 15 hàng tháng. Căn cứ vào Hợp đồng tín dụng này, G đã giải ngân cho ông Nguyễn Minh Đ số tiền là 1,5 tỷ đồng và ký Giấy nhận nợ ngày 09/09/2022.

Tài sản bảo đảm cho khoản vay trên:

  • - Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại Thửa đất số 377, tờ bản đồ số 23 có địa chỉ Thôn V, xã Đ, huyện Q nay là khu phố V, phường Đ, thị xã Q tỉnh Bắc Ninh, theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số CH 063196 do UBND huyện Q, tỉnh Bắc Ninh cấp ngày 30/12/2016 đứng tên ông Nguyễn Minh Đ
  • - Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại Thửa đất số 378, tờ bản đồ số 23 có địa chỉ Thôn V, xã Đ, huyện Q là khu phố V, phường Đ, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số CH 063261 do UBND huyện Q, tỉnh Bắc Ninh cấp ngày 30/12/2016 đứng tên ông Nguyễn Minh Đ.

Theo Hợp đồng thế chấp bất động sản để vay vốn ngân hàng đảm bảo cho khoản vay HĐTD số 0086/2022/PLB22/HDTD của ông Nguyễn Minh Đ đã công chứng ngày 08/09/2022 tại Văn phòng C – tỉnh Bắc Ninh.

Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Đ đã thanh toán cho Ngân hàng 36.000.000 đồng tiền gốc và 235.000.000 đồng tiền lãi. Từ ngày 16/3/2024 ông Đ không thanh toán được gốc và lãi theo thỏa thuận cho Ngân hàng. Kể từ ngày 25/3/2024 khoản vay của ông Đ bị chuyển nợ nhóm 2, phía Ngân hàng đã có thông báo về việc quá hạn và yêu cầu khách hàng thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng tín dụng đã ký với Ngân hàng nhưng ông Đ vẫn không thanh toán.

Nay G yêu cầu ông Đ có trách nhiệm thanh toán cho G tổng số tiền 1.492.870.652 đồng, trong đó: Nợ gốc 1,464,000,000 đồng; Lãi trong hạn 420.575 đồng; Lãi quá hạn 26.334.016 đồng; Lãi phạt 28.038 đồng; Lãi chậm trả: 119.990 đồng. Trong thời gian chưa thanh toán hết khoản nợ, tính từ ngày 17/4/2024 ông Nguyễn Minh Đ phải chịu lãi suất quá hạn theo quy định tại Hợp đồng cho vay số số 0086/2022/PLB22/HDTD ngày 09/09/2022.

Trong trường hợp bản án/quyết định có hiệu lực pháp luật nếu ông Nguyễn Minh Đ không thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ, G có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý, kê biên và tổ chức phát mại khối tài sản đã thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 377, tờ bản đồ số 23 và thửa đất số 378, tờ bản đồ số 23 có địa chỉ Thôn V, xã Đ, huyện Q nay là khu phố V, phường Đ, thị xã Q tỉnh Bắc Ninh, theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số CH 063196 do UBND huyện Q, tỉnh Bắc Ninh cấp ngày 30/12/2016 và Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số CH 063261 do UBND huyện Q, tỉnh Bắc Ninh cấp ngày 30/12/2016 mang tên ông Nguyễn Minh Đ.

Khi phát mại khối tài sản trên, nếu không đủ thanh toán số tiền phải thanh toán thì ông Nguyễn Minh Đ vẫn phải trả tiếp số tiền còn thiếu cho G.

Nếu số tiền phát mại khối tài sản trên còn dư so với số tiền phải thanh toán thì G phải trả lại số tiền dư đó cho chủ sở hữu.

Trong trường hợp ông Nguyễn Minh Đ trả được số tiền phải thanh toán thì G có trách nhiệm làm thủ tục giải chấp đối với khối tài sản đảm bảo cho chủ sở hữu.

Phía bị đơn, ông Nguyễn Minh Đ đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lí do nên không có bản tự khai, biên bản lấy lời khai đối với ông Đ.

Phía người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn D trình bày: vợ chồng ông chung sống cùng con trai là anh Nguyễn Minh Đ trên thửa đất số 377 và thửa đất số 378, cùng tờ bản đồ số 23, có địa chỉ thôn V, xã Đ, huyện Q nay là khu phố V, phường Đ, thị xã Q tỉnh Bắc Ninh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 063196 và số CH 063261 do UBND huyện Q, tỉnh Bắc Ninh cấp cùng ngày 30/12/2016 mang tên con ông Nguyễn Minh Đ. Việc Đ có vay vốn của ngân hàng T2 theo hợp đồng tín dụng số 0086/2022/PLB22/HDTD ngày 09/09/2022 ký với ngân hàng T2, chi nhánh T3 – PGĐ Long biên với số tiền vay 1.500.000.000 đồng; vợ chồng ông có biết. Mục đích vay, chủ yếu là để mua bất động sản và để gia đình kinh doanh sản xuất thuốc đông dược. Hiện nay, do thị trường bất động sản đóng băng và việc kinh doanh của gia đình ông không thu hồi được vốn nên Đ không có khả năng thanh toán số nợ gốc và lãi hàng tháng cho ngân hàng. Nay ngân hàng T2 yêu cầu Đ phải thanh toán khoản vay, vợ chồng ông sẽ bán thửa đất khác của vợ chồng để thanh toán nợ cho Ngân hàng.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T1, bà Nguyễn Thị D1 đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần, Tòa án đã giao giấy triệu tập và các văn bản tố tụng của Tòa án, bà T1, bà D1 đã nhận nhưng vắng mặt, nên không có bản tự khai, biên bản lấy lời khai đối với bà T1, bà D1.

Tại phiên toà, phía nguyên đơn Ngân hàng T2 (G) do ông Nguyễn Văn N1 là đại diện theo uỷ quyền giữ nguyên quan điểm về yêu cầu ông Đ có trách nhiệm thanh toán cho G tổng số tiền nợ tính đến ngày 23/7/2024 là 1.487.044.288 đồng. Trong đó: Nợ gốc 1.458.000.000 đồng; lãi trong hạn 3.350.795 đồng; lãi quá hạn 25.603.890 đồng; lãi phạt 6.904 đồng; lãi chậm trả 82.699 đồng.

Trong thời gian chưa thanh toán hết khoản nợ, tính từ ngày 24/7/2024 ông Nguyễn Minh Đ phải chịu lãi suất quá hạn theo quy định tại Hợp đồng cho vay số số 0086/2022/PLB22/HDTD ngày 09/09/2022.

Trong trường hợp Bản án có hiệu lực pháp luật nếu ông Nguyễn Minh Đ không thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ, G có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý, kê biên và tổ chức phát mại khối tài sản đã thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 377, tờ bản đồ số 23 và thửa đất số 378, tờ bản đồ số 23 có địa chỉ Thôn V, xã Đ, huyện Q nay là khu phố V, phường Đ, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh, theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số CH 063196 do UBND huyện Q, tỉnh Bắc Ninh cấp ngày 30/12/2016 và Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số CH 063261 do UBND huyện Q, tỉnh Bắc Ninh cấp ngày 30/12/2016 mang tên ông Nguyễn Minh Đ.

Khi phát mại khối tài sản trên, nếu không đủ thanh toán số tiền phải thanh toán thì ông Nguyễn Minh Đ vẫn phải trả tiếp số tiền còn thiếu cho G.

Nếu số tiền phát mại khối tài sản trên còn dư so với số tiền phải thanh toán thì G phải trả lại số tiền dư đó cho chủ sở hữu.

Trong trường hợp ông Nguyễn Minh Đ trả được số tiền phải thanh toán thì G có trách nhiệm làm thủ tục giải chấp đối với khối tài sản đảm bảo cho chủ sở hữu.

Phía bị đơn, ông Nguyễn Minh Đ, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông D, bà T1, bà D1 đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên toà không có lý do.

Cũng tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân thủ theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, thư ký, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến kết thúc phần tranh luận tại phiên tòa là đảm bảo theo đúng trình tự qui định của pháp luật.

Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng được quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 157; khoản 2 Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Căn cứ Điều 463 và 466; Điều 470; Điều 317, 318, 319, 320, 321, 322, 323 Điều 117; Điều 122, Điều 123 Bộ luật Dân sự Điều 166, Điều 170 Luật đất đai; Căn cứ khoản 2 Điều 91; Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14gày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

  • - Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc ông Nguyễn Minh Đ phải trả cho Ngân hàng T2 số tiền tính đến ngày 23/7/2024 là 1.487.044.288 đồng. Trong đó: Nợ gốc 1.458.000.000 đồng; lãi trong hạn 3.350.795 đồng; lãi quá hạn 25.603.890 đồng; lãi phạt 6.904 đồng; lãi chậm trả 82.699 đồng.
  • - Kể từ ngày 24/7/2024, ông Nguyễn Minh Đ phải chịu lãi suất quá hạn theo quy định tại Hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ đã ký với Ngân hàng T2 cho đến khi ông Đ thanh toán xong khoản nợ.

Trong trường hợp bản án có hiệu lực pháp luật nếu ông Nguyễn Minh Đ không thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng T2 có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý, kê biên và tổ chức phát mại khối tài sản đã thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại:

Thửa đất số 377, tờ bản đồ số 23 có địa chỉ Thôn V, xã Đ, huyện Q nay là khu phố V, phường Đ, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh, theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số CH 063196 do UBND huyện Q, tỉnh Bắc Ninh cấp ngày 30/12/2016 đứng tên ông Nguyễn Minh Đ.

Thửa đất số 378, tờ bản đồ số 23 có địa chỉ Thôn V, xã Đ, huyện Q là khu phố V, phường Đ, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số CH 063261 do UBND huyện Q, tỉnh Bắc Ninh cấp ngày 30/12/2016 đứng tên ông Nguyễn Minh Đ.

Khi phát mại khối tài sản trên, nếu không đủ thanh toán số tiền phải thanh toán thì ông Nguyễn Minh Đ vẫn phải trả tiếp số tiền còn thiếu cho Ngân hàng T2.

Nếu số tiền phát mại khối tài sản trên còn dư so với số tiền phải thanh toán thì Ngân hàng T2 phải trả lại số tiền dư đó cho chủ sở hữu.

Trong trường hợp ông Nguyễn Minh Đ trả được số tiền phải thanh toán thì Ngân hàng T2 có trách nhiệm làm thủ tục giải chấp đối với khối tài sản đảm bảo cho chủ sở hữu.

Về án phí, chi phí thẩm định tài sản: Các đương sự phải chịu án phí, phí thẩm định tài sản theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Ngân hàng T2 khởi kiện ông Nguyễn Minh Đ có địa chỉ ở khu phố V, phường Đ, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh phải trả số tiền vay gốc và lãi vay theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết. Do đó, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.

[2]. Về sự vắng mặt của bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến Tòa án để giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, nhưng bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà T1, bà D1 vắng mặt không có lý do. Như vậy, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà T1, bà D1 đã từ bỏ quyền và không chấp hành nghĩa vụ của mình khi tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông D đã được triệu tập hợp lệ, đã có lời trình bày đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Sau khi nghe ý kiến trình bày của nguyên đơn, các tài liệu về việc tống đạt các văn bản tố tụng và ý kiến của Kiểm sát viên, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là phù hợp với qui định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 2 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[3]. Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu Tòa án buộc bị đơn có trách nhiệm thanh toán cho G tổng số tiền nợ tính đến ngày 23/7/2024 là 1.487.044.288 đồng. Trong đó: Nợ gốc 1.458.000.000 đồng; lãi trong hạn 3.350.795 đồng; lãi quá hạn 25.603.890 đồng; lãi phạt 6.904 đồng; lãi chậm trả 82.699 đồng và buộc ông Đ phải tiếp tục trả lãi phát sinh kể từ ngày 24/7/2024 theo mức lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng đã ký kết cho đến khi thanh toán hết khoản nợ. Đồng thời yêu cầu xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng theo các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án thể hiện ông Đ có nợ số tiền gốc và tiền lãi như nguyên đơn trình bày.

[4]. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy: Hợp đồng tín dụng số 0086/2022/PLB22/HDTD ngày 09/09/2022 được ký kết giữa Ngân hàng T2, chi nhánh T3 – PGĐ Long biên với số tiền vay 1.500.000.000 đồng với ông Nguyễn Minh Đ trên cơ sở tự nguyện, không trái pháp luật, đạo đức xã hội, tuân thủ các quy định của pháp luật về nội dung và hình thức nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Các bên tham gia trong giao dịch này có mọi quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng đã ký kết nói trên. Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Đ đã không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ theo cam kết trong hợp đồng tín dụng. Mặc dù G đã nhắc nhở nhưng ông Đ vẫn không có thiện chí trả nợ. Tính đến ngày 23/7/2024, tổng số tiền gốc ông Đ còn nợ G là 1.487.044.288 đồng. Trong đó: Nợ gốc 1.458.000.000 đồng; lãi trong hạn 3.350.795 đồng; lãi quá hạn 25.603.890 đồng; lãi phạt 6.904 đồng; lãi chậm trả 82.699 đồng. Do ông Đ vi phạm các nghĩa vụ trả nợ như cam kết trong hợp đồng nên G đã khởi kiện tại Tòa án. Việc khởi kiện của Ngân hàng G yêu cầu Tòa án buộc ông Đ phải trả số tiền còn nợ nói trên là phù hợp với Điều 463 và 466 Bộ luật Dân sự nên HĐXX chấp nhận.

[5]. Về lãi suất: Xét sự thỏa thuận về mức lãi suất vay của các bên là phù hợp với quy định tại Điều 11 Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng. Để chứng minh cho yêu cầu của mình, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn cung cấp bảng tính lãi theo sự thỏa thuận của các bên trong hợp đồng tín dụng, phù hợp với chính sách lãi suất của Ngân hàng trong từng thời kỳ. Dư nợ gốc tính lãi phù hợp với tập sao kê giao dịch tài khoản vay. Như vậy, bảng tính lãi là có căn cứ được chấp nhận. Đối chiếu bảng tính lãi với tập sao kê giao dịch tài khoản vay xác định: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải thanh toán khoản tiền nợ gốc và nợ lãi tính đến hết ngày 23/7/2024, lãi trong hạn 3.350.795 đồng; lãi quá hạn 25.603.890 đồng; lãi phạt 6.904 đồng; lãi chậm trả 82.699 đồng. Lãi suất tiếp tục được tính kể từ ngày 24/7/2024 theo mức lãi suất nợ quá hạn do các bên thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 0086/2022/PLB22/HDTD ngày 09/09/2022 cho đến khi ông Đ thanh toán xong khoản nợ là có căn cứ.

[6]. Về tài sản thế chấp là nhà đất tại thửa đất số 377, tờ bản đồ số 23 và thửa đất số 378, tờ bản đồ số 23 có địa chỉ Thôn V, xã Đ, huyện Q là khu phố V, phường Đ, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số CH 063261 do UBND huyện Q, tỉnh Bắc Ninh cấp ngày 30/12/2016 đứng tên ông Nguyễn Minh Đ. Tài sản thế chấp thuộc quyền sở hữu/ sử dụng của ông Nguyễn Minh Đ. Hợp đồng thế chấp được các bên ký kết bằng văn bản, công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định của pháp luật. Trường hợp ông Đ không thanh toán khoản nợ theo hợp đồng nói trên thì tài sản thế chấp là quyền sử dụng 02 thửa đất nêu trên và quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất được xử lý theo quy định tại Điều 299 và Điều 303 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

[7]. Về chi phí thẩm định tài sản và án phí: Ông Đ phải chịu 15.000.000 đồng phí thẩm định tài sản và án phí DSST theo quy định của pháp luật. Hoàn trả nguyên đơn tiền nộp tạm ứng án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 157; khoản 2 Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự

Căn cứ Điều 463 và 466; Điều 470; Điều 317, 318, 319, 320, 321, 322, 323; Điều 117; Điều 122 Điều 123 Bộ luật Dân sự Điều 166, Điều 170 Luật đất đai;

Căn cứ khoản 2 Điều 91; Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14gày30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc ông Nguyễn Minh Đ phải trả cho Ngân hàng T2 tổng số tiền tính đến ngày 23/7/2024 là 1.487.044.288 đồng. Trong đó: Nợ gốc 1.458.000.000 đồng; lãi trong hạn 3.350.795 đồng; lãi quá hạn 25.603.890 đồng; lãi phạt 6.904 đồng; lãi chậm trả 82.699 đồng.
  2. Kể từ ngày 24/7/2024, ông Nguyễn Minh Đ phải chịu lãi suất quá hạn theo quy định tại Hợp đồng tín dụng, Khế ước nhận nợ đã ký với Ngân hàng T2 cho đến khi ông Đ thanh toán xong khoản nợ.
  3. Trong trường hợp bản án có hiệu lực pháp luật nếu ông Nguyễn Minh Đ không thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng T2 có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý, kê biên và tổ chức phát mại khối tài sản đã thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại: Thửa đất số 377, tờ bản đồ số 23 có địa chỉ Thôn V, xã Đ, huyện Q nay là khu phố V, phường Đ, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh, theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số CH 063196 do UBND huyện Q, tỉnh Bắc Ninh cấp ngày 30/12/2016 đứng tên ông Nguyễn Minh Đ và Thửa đất số 378, tờ bản đồ số 23 có địa chỉ Thôn V, xã Đ, huyện Q là khu phố V, phường Đ, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số CH 063261 do UBND huyện Q, tỉnh Bắc Ninh cấp ngày 30/12/2016 đứng tên ông Nguyễn Minh Đ.

    Khi phát mại khối tài sản trên, nếu không đủ thanh toán số tiền phải thanh toán thì ông Nguyễn Minh Đ vẫn phải trả tiếp số tiền còn thiếu cho Ngân hàng T2.

    Nếu số tiền phát mại khối tài sản trên còn dư so với số tiền phải thanh toán thì Ngân hàng T2 phải trả lại số tiền dư đó cho chủ sở hữu.

    Trong trường hợp ông Nguyễn Minh Đ trả được số tiền phải thanh toán thì Ngân hàng T2 có trách nhiệm làm thủ tục giải chấp đối với khối tài sản đảm bảo cho chủ sở hữu.

  4. Về án phí, chi phí thẩm định tài sản: Ông Nguyễn Minh Đ phải chịu 15.000.000 đồng phí thẩm định tài sản và 56.611.329 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

    Xác nhận Ngân hàng T2 đã nộp 15.000.000 đồng tiền phí đo đạc, thẩm định tài sản trong quá trình giải quyết vụ án, buộc ông Nguyễn Minh Đ phải hoàn trả cho Ngân hàng T2 15.000.000 đồng phí đo đạc thẩm định tài sản.

    Hoàn trả Ngân hàng T2 số tiền 28.230.000 đồng đã nộp tại biên lai thu số 0001927 ngày 09/4/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sựthời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - VKSND thị xã Quế Võ;
  • - TAND tỉnh Bắc Ninh;
  • - Chi cục THADS thị xã Quế Võ;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Thu Thảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 38/2024/DS-ST ngày 23/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 38/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng T2 khởi kiện ông Nguyễn Minh Đ về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger