Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 23/5/2024

V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình

NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Minh.

Hội Thẩm nhân dân: Ông Ngô Bá Tiến.

Bà Nguyễn Thị Bẩy.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Bình - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân nhân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 64/2024/TLST-HNGĐ ngày 08/3/2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08/4/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 38/2024/QĐST-HNGĐ ngày 24/4/2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Đỗ Văn H, sinh năm 1990. HKTT: Thôn C, xã A, huyện L, tỉnh Bắc Ninh. (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

Bị đơn: Chị Lương Thị T, sinh năm 1992. HKTT: Thôn C, xã A, huyện L, tỉnh Bắc Ninh. Hiện trú tại: Đài Loan (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn anh Đỗ Văn H trình bày: Qua quá trình tìm hiểu tự nguyện, anh và chị Lương Thị T đã đăng ký kết hôn vào ngày 01/02/2012 tại UBND xã A, huyện L, tỉnh Bắc Ninh. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc. Được một thời gian, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, chủ yếu bất đồng quan điểm trong sinh hoạt, trong công việc làm ăn. Vợ chồng anh đã sống ly thân thời gian dài. Nay anh thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không hạnh phúc và không thể tiếp tục chung sống cùng nhau được nữa, anh H xin được ly hôn với chị T.

Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng anh có 03 con chung là cháu Đỗ Thị Mai A, sinh ngày 26/9/2012, cháu Đỗ Thị Lan A1, sinh ngày 26/9/2012 và cháu Đỗ Gia L, sinh ngày 28/10/2013. Hiện cả 03 cháu đều đang ở với anh, khi ly hôn anh xin được nuôi cả 03 cháu và không yêu cầu chị T phải cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung, công nợ: Không có.

Do công việc bận, nên anh H xin xét xử vắng mặt.

Bị đơn chị Lương Thị T đã được Tòa án thông báo, triệu tập nhiều lần thông qua người thân và thực hiện việc niêm yết, nhưng chị L1 không gửi văn bản và không cung cấp địa chỉ cụ thể ở nước ngoài cho Tòa án.

Tòa án đã tiến hành làm việc với anh Lương Văn M là em ruột chị L1, anh M trình bày: Tôi là em ruột của chị Lương Thị T, sinh ngày 16/9/1992; Số CMTND: [...] cấp ngày 3/12/2015 tại Công an tỉnh B; HKTT: Thôn C, xã A, huyện L, tỉnh Bắc Ninh; hiện đang sinh sống và làm việc tại Đài Loan. Theo tôi được biết, qua quá trình tìm hiểu tự nguyện, chị tôi Lương Thị T và anh Đỗ Văn H kết hôn với nhau vào ngày 01/02/2012 có đăng ký kết hôn tại UBND xã A, huyện L, tỉnh Bắc Ninh. Quá trình chung sống vợ chồng anh H, chị T có 03 con chung là cháu Đỗ Thị Mai A, sinh ngày 26/9/2012, cháu Đỗ Thị Lan A1, sinh ngày 26/9/2012 và cháu Đỗ Gia L, sinh ngày 28/10/2013, hiện 03 cháu đều do bố mẹ đẻ của anh H nuôi dưỡng chăm sóc.

Năm 2022, chị ruột tôi là Lương Thị T đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Địa chỉ cụ thể ở Đài Loan của chị T thì tôi không biết, chị T vẫn thường xuyên liên lạc, gọi điện với tôi và gia đình bằng điện thoại. Sau khi được Tòa án thông báo việc thụ lý yêu cầu của anh H xin ly hôn với chị T thì tôi đã thông báo cho chị T biết và hỏi địa chỉ cụ thể của chị T ở Đài Loan nhưng chị T không nói cho tôi, chị T chỉ nói với tôi cũng nhất trí ly hôn, nhưng bận việc nên sẽ không gửi văn bản về cho Tòa án.

Nay liên quan đến việc ly hôn giữa anh H và chị T thì tôi sẽ nhận thay cho chị T các văn bản tố tụng, bản án và tôi cam kết sẽ giao lại những văn bản này cho chị T ngay trong ngày nhận được.

Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, 03 cháu Đỗ Thị Mai A, Đỗ Thị Lan A1, Đỗ Gia L trình bày nguyện vọng khi bố mẹ ly hôn thì các cháu đều có nguyện vọng được ở với bố là anh Đỗ Văn H.

Tại phiên toà: Nguyên đơn anh H có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn chị T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai mà không có lý do chính đáng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến trước khi nghị án là đảm bảo đúng quy định của pháp luật tố tụng. Về nội dung đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 28, 35, 37, 38, 146, 147, 227, 228, 271, 273, 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH, xử cho anh Đỗ Văn H được ly hôn chị Lương Thị T. Về con chung: Giao 03 con chung là cháu Đỗ Thị Mai A, sinh ngày 26/9/2012, cháu Đỗ Thị Lan A1, sinh ngày 26/9/2012 và cháu Đỗ Gia L, sinh ngày 28/10/2013 cho anh H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung, công nợ: không đặt ra giải quyết.

Về án phí: Anh H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện lời trình bày của các đương sự, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ tranh chấp: Theo đơn xin ly hôn, anh Đỗ Văn H đề nghị Tòa án xem xét cho chị được ly hôn với chị Lương Thị T và có nguyện vọng xin nuôi của 03 con chung. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự thì quan hệ tranh chấp trong vụ án được xác định là “Tranh chấp hôn nhân và gia đình".

Về thẩm quyền giải quyết: Theo đơn xin ly hôn của anh Đỗ Văn H thì bị đơn là chị Lương Thị T có hộ khẩu thường trú tại thôn C, xã A, huyện L, tỉnh Bắc Ninh và hiện đang cư trú, làm việc tại Đài Loan. Căn cứ khoản 3 Điều 35, Điều 37, Điều 38 Bộ luật Tố tụng dân sự thì tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.

Việc tham gia tố tụng của các đương sự: Bị đơn chị Lương Thị T trong suốt quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã 02 lần làm việc, yêu cầu anh M là em ruột chị T cung cấp địa chỉ cụ thể ở nước ngoài của chị T nhưng đều không cung cấp mặc dù chị T thường xuyên liên lạc về cho anh M và gia đình, do đó chị T thuộc trường hợp cố tình giấu địa chỉ. Tòa án đã tiến hành tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng.

[2]. Về nội dung vụ án:

[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Anh Đỗ Văn H và chị Lương Thị T kết hôn ngày 01/02/2012, tại thời điểm kết hôn anh H và chị T đều đủ tuổi, đủ năng lực, đủ điều kiện kết hôn theo luật định và đã đăng ký kết hôn tại UBND xã A, huyện L, tỉnh Bắc Ninh. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa anh H và chị T là hợp pháp.

Sau khi kết hôn, theo anh H trình bày vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, chủ yếu bất đồng quan điểm trong sinh hoạt, trong công việc làm ăn, đã ly thân thời gian dài. Hội đồng xét xử nhận thấy, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng anh H, chị T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Yêu cầu xin ly hôn của anh H là có căn cứ, cần chấp nhận, xử cho anh Đỗ Văn H được ly hôn chị Lương Thị T.

[2.2]. Về con chung: Anh H trình bày, vợ chồng chị có 03 con chung là cháu Đỗ Thị Mai A, sinh ngày 26/9/2012, cháu Đỗ Thị Lan A1, sinh ngày 26/9/2012 và cháu Đỗ Gia L, sinh ngày 28/10/2013, cả 03 cháu đều đang ở với anh H. Anh H có nguyện vọng nuôi cả 03 con chung, cả 03 con chung đều có nguyện vọng ở với anh H, mặt khác hiện nay chị T vẫn đang ở nước ngoài, do vậy để đảm bảo sự phát triển ổn định của các cháu cần giao 03 con chung cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Vấn đề cấp dưỡng anh H không yêu cầu nên HĐXX không xem xét.

[2.3]. Về tài sản chung, công nợ chung: Anh H trình bày không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.

[3]. Về án phí: Anh Đỗ Văn H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, 35, 37, 38, 146, 147, 227, 228, 271, 273, 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án, xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Đỗ Văn H: Anh Đỗ Văn H được ly hôn chị Lương Thị T.
  2. Giao 03 con chung là cháu Đỗ Thị Mai A, sinh ngày 26/9/2012, cháu Đỗ Thị Lan A1, sinh ngày 26/9/2012 và cháu Đỗ Gia L, sinh ngày 28/10/2013 cho anh Đỗ Văn H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

    Chị Lương Thị T được quyền thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

    Vấn đề cấp dưỡng: Không đặt ra giải quyết.

  3. Về án phí: Anh Đỗ Văn H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận anh H đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng số 0000122 ngày 08/3/2024 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh.
  4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhân:

  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - Cục THADS tỉnh Bắc Ninh;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã nơi cư trú của đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hữu Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 38/2024/HNGĐ-ST ngày 23/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 38/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: anh H xin ly hôn chị T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger