|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN TỈNH VĨNH PHÚC Bản án số: 38/2024/HS-ST Ngày 23 – 4 -2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Bích
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đường Ngọc Đại và ông Nguyễn Xuân Thịnh.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Nhật Mai - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phúc Yên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên tham gia phiên toà:
Ông Trần Hồng Khánh - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 4 năm 2024, tại nhà văn hóa tổ 6, phường Trưng Trắc, thành phố Phúc Yên. Tòa án nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 27/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2024/QĐXXST- HS ngày 08 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc đối với bị cáo:
Họ và tên Trần Quốc T, sinh năm 1995 tại Hà Nội; Hộ khẩu thường trú: Thôn Vạn Phúc, xã Vạn Yên, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Công T1 và bà Đỗ Thị T2; vợ, Nguyễn Ngọc A; con: có 02 con lớn sinh năm 2020 nhỏ sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/12/2023 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Vĩnh Phúc. (có mặt)
Người chứng kiến:
- + Anh Tường Thế Q, sinh năm 1980 (vắng mặt)
- + Anh Ngô Anh T4, sinh năm 1983 (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 24/12/2023, T đang ở nhà tại thôn V, V, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội thì có người bạn nghiện mới quen tên là N đến rủ T đến thành phố Phúc Yên để xem quán làm đầu bếp cho N thì T đồng ý (T không biết họ tên đệm đầy đủ, địa chỉ của N). T khai nhận khi gặp nhau, N cho T 01 túi ma túy đá để T sử dụng. T cầm túi ma túy đá cất giấu vào túi áo khoác bên phải đang mặc, mục đích để khi nào có có hội sử dụng cho bản thân. Sau khi được N cho ma túy, T ngồi lên xe mô tô của N rồi cả hai đi đến thành phố Phúc Yên để xem quán.
Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, khi N chở T đi đến tổ 7, phường H, thành phố Phúc Yên thì bị cơ quan Công an phường H yêu cầu dừng xe kiểm tra hành chính phát hiện bắt giữ được T đang có hành vi cất giữ ma túy trong người để sử dụng, Công an đã thu giữ toàn bộ vật chứng liên quan, còn N lợi dụng khi Công an đang kiểm tra đối với T đã phóng xe bỏ chạy thoát.
Vật chứng thu giữ gồm: Thu giữ tại túi áo khoác bên phải của Trần Quốc T có 01 túi nilon màu trắng, bên trong có chứa các chất tinh thể dạng đá màu trắng, túi nilon này được niêm phong trong phong bì ký hiệu A1 theo quy định.
Ngày 28/12/2023, Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Phúc ra Bản kết luận giám định số: 3535/KLGĐ-KTHS, kết luận: “Tinh thể dạng đá màu trắng có trong mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng 0,3782g (Không phảy ba bảy tám hai gam, không kể bao bì). Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục IIC, STT 247, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ”. Cơ quan giám định đã hoàn lại A1 = 0,3507 gam mẫu cùng toàn bộ bao gói được niêm phong trong cùng một bao gói giấy “MẪU TRẢ VỤ 3358” trên giáp lai có chữ ký của người tham gia đóng gói, niêm phong và hình dấu tròn đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Phúc.
Tại bản Kết luận giám định số 3547/KL-KTHS ngày 30/12/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc đối với mẫu nước tiểu thu giữ của Trần Quốc T, kết luận: “Tìm thấy chất ma túy Methamphetamine trong mẫu nước tiểu thu của Trần Quốc T – SN: 1995, trú tại: xã Vạn Yên, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội gửi giám định”. Cơ quan giám định hoàn lại 0,0ml mẫu và toàn bộ bao gói được niêm phong dán kín theo quy định, trên giấy dán niêm phong có chữ ký, chữ viết của những người tham gia đóng gói, niêm phong và hình dấu tròn đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Phúc.
Quá trình điều tra vụ án, đến nay Cơ quan điều tra chưa xác định được nhân thân, địa chỉ cụ thể của người đàn ông tên N là người đã cho T ma túy + Biển kiểm soát của xe moto. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.
Căn cứ vào các tình tiết và chứng cứ nêu trên: Tại bản Cáo trạng số: 38/CT - VKSPY ngày 21 tháng 3 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên truy tố Trần Quốc T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa Trần Quốc T đã khai nhận thành khẩn về hành vi phạm tội của mình như nội dung nêu trên. Thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên truy tố về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng. Đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
Tại phiên tòa kiểm sát viên luận tội đối với bị cáo: Giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng đối với bị cáo Trần Quốc T; sau khi đánh giá tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Quốc T từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 07 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo và đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật. Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo không có khiếu nại gì, đại diện Viện kiểm sát không có ý kiến gì về các hoạt động tố tụng của cơ quan T hành tố tụng và người có thẩm quyền T hành tố tụng.
Sau khi thẩm tra các chứng cứ có trong hồ sơ, nghe lời khai của bị cáo, ý kiến của Kiểm sát viên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Phúc Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung vụ án: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà. Trần Quốc T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên đã truy tố. Xét lời nhận tội của bị cáo là phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 24 tháng 12 năm 2023, lời khai của người chứng kiến; phù hợp với vật chứng thu giữ được. Vì vậy, có đủ cơ sở để khẳng định: Hồi 14 giờ 30 phút ngày 24/12/2023, tại tổ dân phố số 7, phường H, thành phố Phúc Yên Trần Quốc T có hành vi Tàng trữ trái phép 01 túi ma túy Methamphetamine có khối lượng = 0,3782 gam, mục đích để sử dụng. thì bị tổ công tác Công an thành phố Phúc Yên bắt quả tang. Hành vi nêu trên của Trần Quốc T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 cụ thể điểm c khoản 1 Điều 249 quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
...
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.
Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc truy tố bị cáo theo Cáo trạng số: 38/CT - VKSPY ngày 21 tháng 3 năm 2024 là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy, gây ảnh hưởng tình hình trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm khắc trước pháp luật mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong toàn xã hội.
[4] Xét nhân thân các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng: Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo tàng trữ phép chất ma túy vì mục đích sử dụng cho bản thân, quá trình điều tra và tại phiên tòa làm rõ bị cáo là người nghiện ma túy không có tài sản, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định. Vì vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp.
[6] Đối với người đàn ông tên N là người đã cho T ma túy đến nay Cơ quan điều tra chưa xác định được nhân thân, địa chỉ cụ thể + Biển kiểm soát của xe moto. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau. Nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về vật chứng vụ án: Đối với toàn bộ số ma túy cơ quan giám định hoàn A1 = 0,3507 gam mẫu cùng toàn bộ bao gói được niêm phong trong cùng một bao gói giấy “MẪU TRẢ VỤ 3358” và 0,00ml mẫu cùng toàn bộ bao gói được niêm phong cần tịch thu tiêu hủy.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự;
Tuyên bố bị cáo Trần Quốc T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Trần Quốc T 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 30 tháng 12 năm 2023.
Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
Tịch thu, tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định A1 = 0,3507 gam mẫu cùng toàn bộ bao gói được niêm phong trong cùng một bao gói giấy “MẪU TRẢ VỤ 3358” và 0,00ml mẫu cùng toàn bộ bao gói được niêm phong. (Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 01 tháng 4 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Phúc Yên).
Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Hoàng Văn Bích |
Bản án số 38/2024/HS-ST ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 38/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Quốc T phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
