|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 38/2024/HSST
Ngày 23 tháng 4 năm 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG, TỈNH BẮC GIANG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
* Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ánh Dương
* Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Tin.
- Ông Lương Ngọc Biên.
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Thu Hoàn - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng.
- Đại diện VKSND huyện Yên Dũng tham gia phiên tòa: Ông Lương Văn T – Kiểm sát viên .
Trong ngày 23 tháng 4 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang, điểm cầu thành phần Trại tạm giam công an tỉnh B, Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số: 34/2024/HSST ngày 25 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2024/HSST- QĐ ngày 08 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
- Họ và tên: Hà Ngọc K, sinh ngày 01/8/2005. Tên gọi khác: không; Giới tính: Nam
- Nơi đăng ký HKTT và nơi ở: Tổ dân phố N, thị trấn T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
- Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Văn hóa: 08/12.
- Nghề nghiệp: Tự do; Đảng, đoàn thể: Không.
- Bố: Hà Văn H, sinh năm 1982; Mẹ: Trần Thị S, sinh năm 1984
- Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất.
- Vợ: Chưa có.
- Con: Bị cáo có 01 con sinh năm 2023.
- Nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 138 ngày 30/8/2022, Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng.
- Nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 06 ngày 18/01/2024, Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang xử phạt 06 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Hiện bị cáo đang chấp hành án tại Trại giam N2, Cục C, Bộ C1. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại:
- Anh Phùng Quốc T1, sinh năm 1980 (Vắng mặt)
Trú tại tổ G, khu E, phường M, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh.
* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại Phùng Quốc T1:
- Bà Luân Thị N – Luật sư thuộc Công ty L chi nhánh H3 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Số H đường N, phường C, thành phố H, tỉnh Hải Dương.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Hà Văn N1, sinh năm 1991 (Vắng mặt)
Trú tại: thôn T, xã D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
* Người làm chứng:
- Ông Phạm Hữu P, sinh năm 1957 (Vắng mặt)
- Bà Đặng Thị M, sinh năm 1957 (Vắng mặt)
Đều trú tại: thôn B, xã T, huyện B, tỉnh Hải Dương.
- Chị Lê Thị H1, sinh năm 1994 (Vắng mặt)
Trú tại: Thôn X, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình.
- Anh Hà Văn H2, sinh năm 2002 (Vắng mặt)
Trú tại: thôn T, xã D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hà Ngọc K, sinh ngày 01/8/2005, trú tại tổ dân phố N, thị trấn T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang là đối tượng không có công ăn việc làm ổn định. Do không có tiền chi tiêu cá nhân nên K nảy sinh ý định thuê xe ô tô của người khác, sau đó mang xe đi bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. Thông qua mạng xã hội Facebook, Hà Ngọc K nhờ một người không quen biết chỉnh sửa hình ảnh căn cước công dân của Hà Ngọc K với thông tin giả ngày sinh 01/8/1997, số căn cước [...] với mục đích khi đi thuê xe ô tô thì người chủ xe sẽ không biết thông tin thật của Hà Ngọc K. Ngày 16/8/2023, Hà Ngọc K đăng bài tìm thuê xe ô tô tải trên mạng xã hội Facebook thì anh Phùng Quốc T1, sinh năm 1980, trú tại tổ G, khu E, phường M, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh vào bình luận và đăng bài cho thuê xe ô tô tải biển kiểm soát 34C- 084.48. Thấy vậy, Hà Ngọc K đã liên hệ trao đổi và nói dối anh Phùng Quốc T1 là muốn thuê lại chiếc xe ô tô biển kiểm soát 34C-084.48 để đi chở hàng. Do tin tưởng nên anh Phùng Quốc T1 đồng ý. Ngày 19/8/2023, anh Phùng Quốc T1 điều khiển chiếc xe ô tô tải nhãn hiệu VIETTRUNG, màu sơn trắng, biển kiểm soát 34C-084.48 đến thôn T, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Giang để Hà Ngọc K xem xe. Sau khi kiểm tra xe, Hà Ngọc K lấy hợp đồng đã soạn sẵn từ trước đưa cho anh Phùng Quốc T2 đọc và gửi hình ảnh căn cước công dân giả đã chỉnh sửa thông tin của Hà Ngọc K cho anh Phùng Quốc T1 xem. Hai bên thoả thuận, thống nhất việc thuê chiếc xe ô tô và cùng ký vào hợp đồng thuê xe ô tô với nội dung: Anh Phùng Quốc T2 cho Hà Ngọc K thuế chiếc xe ô tô này trong thời hạn 04 (Bốn) tháng, từ ngày 19/8/2023 đến ngày 19/12/2023 với giá 37.000.000 đồng/01 tháng. Sau khi ký hợp đồng xong, anh Phùng Quốc T1 giao xe và các giấy tờ liên quan của xe ô tô biển kiểm soát 34C-084.48 cho Hà Ngọc K rồi ra về. Ngay sau khi thuê được xe ô tô của anh Phùng Quốc T1 thì Hà Ngọc K đã liên hệ tìm người mua để bán chiếc xe ôtô này. Khoảng 17 giờ 50 phút cùng ngày, anh Hà Văn N1, sinh năm 1991, trú tại thôn T, xã D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang biết được thông tin Hà Ngọc K có chiếc xe ô tổ tải muốn bán nên đã đến gặp Hà Ngọc K để xem chiếc xe. Sau khi trao đổi, anh Hà Văn N1 đồng ý mua chiếc xe ô tô trên với giá 180.000.000 đ và chuyển tiền cho K. Toàn bộ số tiền này K đã sử dụng để chi tiêu cá nhân hết.
Ngày 21/9/2023, Hà Ngọc K tiếp tục liên hệ với anh Phùng Quốc T1 và nói dối là có 02 (Hai) quả lốp của chiếc xe ô tô biển số 34C-084.48 cần phải thay thế, đề nghị anh T1 hỗ trợ tiền thay lốp xe. Do tin tưởng nên anh T1 đồng ý và chuyển tiền cho Hà Ngọc K số tiền 2.600.000 đ. Số tiền này Hà Ngọc K không sử dụng để thay lốp xe ô tô mà đã chi tiêu cá nhân hết.
Khoảng cuối tháng 10/2023, anh Phùng Quốc T1 nhiều lần đề nghị Hà Ngọc K trả nốt số tiền thuê xe theo hợp đồng (do Hà Ngọc K mới thanh toán tiền thuê xe 01 tháng), nhưng Hà Ngọc K chỉ hứa hẹn, mà không thanh toán nốt tiền thuê xe. Sau đó, anh Phùng Quốc T1 phát hiện Hà Ngọc K đã mang chiếc xe ô tô trên của anh đi bán, nên anh đã gửi đơn tố giác đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y và giao nộp 01 hợp đồng thuê xe ô tô biển số 34C-084.48 giữa anh T1 và Khoa ngày 19/8/2023 (BL 50, 70) .
Ngày 07/12/2023, anh Hà Văn N1 giao nộp cho Cơ quan điều tra Công an huyện Y 01 xe ô tô biển số 34C-084.48, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe , 01 giấy chứng nhận bảo hiểm, 01 giấy kiểm định của xe ô tô trên, 01 giấy bán xe (bản chính) (BL 31).
Ngày 11/12/2023 Cơ quan điều tra Công an huyện Y có yêu cầu định giá đối với chiếc xe ô tô trên. Tại Kết luận định giá tài sản số 81 ngày 13/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Y kết luận: Chiếc xe ô tô biển kiểm soát 34C-084.48 trị giá 375.000.000 đồng (BL 42).
Ngày 13/12/2023, Cơ quan điều tra Công an huyện Y có yêu cầu giám định chữ ký, chữ viết trên hợp đồng thuê xe ô tô ngày 19/8/2023 giữa anh Phùng Quốc T1 và Hà Ngọc K (ký hiệu A1) và Giấy bán xe ngày 19/8/2023 giữa Hà Ngọc K và anh Hà Văn N1 (ký hiệu A2). Tại Bản kết luận giám định số 2562 ngày 25/12/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận:
- Chữ ký dạng chữ viết, chữ viết có nội dung “T1 - Phùng Quốc T1” dưới mục “Đại diện bên A ký” trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A1) so với chữ ký, chữ viết của Phùng Quốc T1 trên các tài liệu mẫu (ký hiệu M4, M5, M6) là do cùng một người ký, viết ra.
- Chữ ký dạng chữ viết, chữ viết có nội dung “Khoa - H” dưới các mục “Đại diện bên B ký”, “Người bán ký tên” trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu A1, A2); chữ viết có nội dung “Hợp đồng chia thành 2 bản có pháp lý như nhau 2 bên mỗi người dữ 1 bản” trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A1) so với chữ ký, chữ viết của Hà Ngọc K trên các tài liệu mẫu (ký hiệu M1, M2, M3) là do cùng một người ký, viết ra.
- Chữ ký, chữ viết trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A2 - trừ nội dung đã kết luận ở trên và chữ viết có nội dung “H2 - Hà Văn H2” dưới mục “Người làm chứng”) so với chữ ký, chữ viết của Hà Văn N1 trên các tài liệu mẫu (ký hiệu M7, M8, M9) là do cùng một người ký, viết ra (BL 49-54).
Đối với người đã làm giả hình ảnh căn cước công dân của Hà Ngọc K do không xác định được tên tuổi, địa chỉ nên không có căn cứ xử lý. Đối với anh Hà Văn N1 có hành vi mua chiếc xe ô tô biển số 34C- 084.48 của K nhưng anh N1 không biết đó là tài sản do K phạm tội mà có nên không có căn cứ xử lý.
Về vật chứng của vụ án: Chiếc xe ô tô Biển số 34C-084.48 đứng tên chủ sở hữu là ông Phạm Hữu P, sinh năm 1957 thôn B, xã T, huyện B, tỉnh Hải Dương, ông P đã bán chiếc xe ô tô trên cho anh Phùng Quốc T1 vào khoảng tháng 3/2023. Do đó, ngày 12/01/2024 Cơ quan điều tra Công an huyện Y đã trả lại 01 xe ô tô biển số 34C-084.48, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe, 01 giấy chứng nhận bảo hiểm, 01 giấy kiểm định của xe ô tô trên cho chủ sở hữu là anh Phùng Quốc T1 theo quy định (BL 39).
Về trách nhiệm dân sự: Anh Phùng Quốc T1 yêu cầu Hà Ngọc K phải trả số tiền thuê xe 3 tháng là 111.000.000 đ và bồi thường số tiền 2.600.000 đ, tổng số tiền là 113.600.000 đ. Anh Hà Văn N1 yêu cầu Hà Ngọc K phải hoàn trả số tiền 180.000.000 đ đã bỏ ra để mua chiếc xe ô tô trên. Đến nay K chưa bồi thường cho anh T1 và anh N1.
Đối với 01 hợp đồng thuê xe ô tô ngày 19/8/2023 giữa anh Phùng Quốc T1 và Hà Ngọc K và 01 giấy bán xe ngày 19/8/2023 giữa Hà Ngọc K và anh Hà Văn N1 được lưu trong hồ sơ vụ án.
Bản Cáo trạng số: 35/CT-VKS, ngày 20/3/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng truy tố Hà Ngọc Khoa về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật hình sự;
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng giữ nguyên quyết định truy tố theo toàn bộ nội dung cáo trạng đã nêu, đồng thời đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
* Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 56, khoản 5 Điều 65, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hà Ngọc K từ 08 năm dến 08 năm 06 tháng tù. Tổng hợp hình phạt 06 năm tù của Bản án HSST số: 06/2024/HSST, ngày 18/1/2024 của TAND huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang và hình phạt 06 tháng tù tại Bản án HSST số: 138/2022/HSST, ngày 30/8/2022 của TAND huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội buộc bị cáo Hà Ngọc K chấp hành hình phạt chung từ 14 năm 06 tháng đến 15 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 03/11/2023.
* Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 BLHS; Điều 589 BLDS.
Buộc bị cáo Hà Ngọc K trả cho anh Phùng Quốc T1 113.600.000 đồng (Trong đó: tiền thuê xe 3 tháng là 111.000.000 đồng và tiền hỗ trợ thay lốp xe 2.600.000 đồng).
Buộc bị cáo Hà Ngọc K trả lại cho anh Hà Văn N1 180.000.000 đồng.
Bị cáo K phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại Phùng Quốc T1 là bà Luân Thị N có ý kiến: Bị cáo Hà Ngọc K phạm tội hai lần trở lên, phạm tội có tính chất chuyên nghiệp theo điểm b điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS. Đề nghị xử phạt nặng đối với bị cáo Hà Ngọc K.
Buộc bị cáo Hà Ngọc K trả cho anh Phùng Quốc T1 113.600.000 đồng (Trong đó: tiền thuê xe 3 tháng là 111.000.000 đồng và tiền hỗ trợ thay lốp xe 2.600.000 đồng).
Bị cáo Hà Ngọc K nói lời sau cùng: Bị cáo xin xử phạt mức án nhẹ nhất để trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Y, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung vụ án: Ngày 19/8/2023, tại thôn T, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Giang, Hà Ngọc K có hành vi lừa đảo chiếm đoạt 01 chiếc xe ô tô biển số 34C-084.48 trị giá 375.000.000 đồng của anh Phùng Quốc T1 sau đó bán chiếc xe ô tô trên cho anh Hà Văn N1 được 180.000.000 đồng. Toàn bộ số tiền có được K đã sử dụng để chi tiêu cá nhân hết. Đến ngày 21/9/2023, Hà Ngọc K tiếp tục lừa đảo chiếm đoạt của anh Phùng Quốc T1 số tiền 2.600.000 đ để chi tiêu cá nhân hết.
Lời khai nhận tội của bị cáo Hà Ngọc K phù hợp với: Đơn tố cáo, lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, vật chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Tài sản mà bị cáo K 02 lần lừa đảo của anh T1, theo Kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Y kết luận có tổng giá trị tài sản trộm cắp là 377.600.000 đồng. Như vậy, hành vi trên của bị cáo Hà Ngọc K đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật hình sự. Bị cáo hoàn toàn đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng và kết luận của Kiểm sát viên truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản được pháp luật bảo vệ. Hành vi phạm tội của bị cáo ảnh hưởng đến an ninh trật tự xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do vậy, hành vi của bị cáo cần phải được xử lý bằng pháp luật hình sự để giáo dục riêng và phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này. Cần xử phạt tù với thời hạn nhất định đối với bị cáo để bị cáo biết tuân thủ pháp luật và có điều kiện tu dưỡng rèn luyện bản thân làm người có ích cho gia đình và xã hội như đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở.
Bị cáo Hà Ngọc K không có tài sản, nghề nghiệp gì nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền theo khoản 5 Điều 174 của BLHS đối với bị cáo.
[4] Xét nhân thân, xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy:
- Nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 138 ngày 30/8/2022, Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 01 Điều 174 BLHS. Bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng và trên 16 tuổi, là người chưa thành niên nên không tính là tái phạm theo điểm b khoản 1 Điều 107 BLHS.
- Nhân thân: Bản án HSST số 06 ngày 18/01/2024, Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang xử phạt 06 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Bị cáo K thực hiện hành vi phạm tội sau hành vi của bản án này.
Chứng tỏ bị cáo Hà Ngọc K có nhân thân xấu.
Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy:
Bị cáo phạm tội 2 lần trở lên. Nên áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Hà Ngọc K thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS.
Tại Bản án HSST số: 138/2022/HSST, ngày 30/8/2022 của TAND huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội xử phạt bị cáo Hà Ngọc K 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 12 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (30/8/2022). Trong thời gian thử thách thì ngày 19/8/2023 bị cáo lại phạm tội mới. Nên cần chuyển 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo của Bản án HSST số: 138/2022/HSST, ngày 30/8/2022 của TAND huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội thành tù giam theo khoản 5 Điều 65 BLHS và tổng hợp hình phạt 06 năm tù của Bản án hình sự sơ thẩm số: 06/2024/HSST, ngày 18/1/2024 của TAND huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang và tổng hợp hình phạt của bản án này. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của các bản án theo Điều 56 BLHS. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03/11/2023.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 BLHS; Điều 589 BLDS.
Anh Phùng Quốc T1 yêu cầu bị cáo Hà Ngọc K trả tổng số tiền 113.600.000 đồng (Trong đó: tiền thuê xe 3 tháng là 111.000.000 đồng và tiền hỗ trợ thay lốp xe 2.600.000 đồng) và bị cáo K đồng ý. Nên buộc bị cáo Hà Ngọc K trả cho anh Phùng Quốc T1 113.600.000 đồng (Trong đó: tiền thuê xe 3 tháng là 111.000.000 đồng và tiền hỗ trợ thay lốp xe 2.600.000 đồng).
Buộc bị cáo Hà Ngọc K trả lại cho anh Hà Văn N1 180.000.000 đồng mà anh Hà Văn N1 đã bỏ ra để mua để mua chiếc xe ô tô Biển số 34C-084.48.
[6] Về vật chứng của vụ án: Chiếc xe ô tô Biển số 34C-084.48 đứng tên chủ sở hữu là ông Phạm Hữu P, sinh năm 1957 thôn B, xã T, huyện B, tỉnh Hải Dương, ông P đã bán chiếc xe ô tô trên cho anh Phùng Quốc T1 vào khoảng tháng 3/2023. Nên, ngày 12/01/2024 Cơ quan điều tra Công an huyện Y đã trả lại 01 xe ô tô biển số 34C-084.48, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe, 01 giấy chứng nhận bảo hiểm, 01 giấy kiểm định của xe ô tô trên cho chủ sở hữu là anh Phùng Quốc T1 là đúng.
[7] Đối với người đã làm giả hình ảnh căn cước công dân của Hà Ngọc K do không xác định được tên tuổi, địa chỉ nên không có căn cứ xử lý. Đối với anh Hà Văn N1 có hành vi mua chiếc xe ô tô biển số 34C- 084.48 của K nhưng anh N1 không biết đó là tài sản do K phạm tội mà có nên không có căn cứ xử lý.
Bị cáo Hà Ngọc K phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ: Điểm a khoản 3 Điều 174, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 56, khoản 5 Điều 65, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Hà Ngọc K 08 năm 06 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp 06 tháng tù (nhưng cho hưởng án treo) của Bản án HSST số: 138/2022/HSST, ngày 30/8/2022 của TAND huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội và tổng hợp hình phạt 06 năm tù của Bản án hình sự sơ thẩm số: 06/2024/HSST, ngày 18/1/2024 của TAND huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang. Buộc bị cáo Hà Ngọc K chấp hành hình phạt chung của các bản án là 15 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 03/11/2023.
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 BLHS; Điều 357, khoản 2 Điều 468, Điều 589 BLDS.
Buộc bị cáo Hà Ngọc K trả cho anh Phùng Quốc T1 tổng số tiền 113.600.000 đồng.
Buộc bị cáo Hà Ngọc K trả lại cho anh Hà Văn N1 180.000.000 đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Áp dụng khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của BLTTHS; điểm a điểm c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Buộc bị cáo Hà Ngọc K phải chịu 200.000 đồng án phí HSST và 5.680.000 đồng án phí DSST.
Bị cáo (có mặt) có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại, người có quyền, nghĩa vụ liên quan (vắng mặt) có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt (hoặc niêm yết) bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Lụât Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Ánh Dương |
Bản án số 38/2024/HSST ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG, TỈNH BẮC GIANG về hình sự sơ thẩm (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Số bản án: 38/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hà Ngọc K lừa đảo chiếm đoạt tài sản
