Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÀM THUẬN BẮC

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 38/2024/DS-ST.

Ngày: 23-4-2024

V/v: “ Tranh chấp về hợp đồng cầm cố tài sản”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa : Bà Nguyễn Thị Bạch Tuyết.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Văn Minh;

Ông Trần Văn Em.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Kim Quy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hàm

Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận

tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Ngọc H – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 326/2023/TLST – DS ngày 09 tháng 11 năm 2023, về việc: “Tranh chấp về hợp đồng cầm cố tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2024/QĐXXST-DS ngày 08/3/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 33/2024/QÐST-DS ngày 04/4/2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Công ty TNHH S.

Địa chỉ: số A N, phường B, thành phố V, tỉnh Nghệ An.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Prart J, chức vụ: Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Phạm Thị Ngọc T – sinh năm 1984; Chức vụ:

Nhân viên Công ty TNHH S. Theo giấy ủy quyền ngày 01/8/2023. Địa chỉ liên hệ:

320/26/1 N, phường X, T, tỉnh Bình Thuận.

Bị đơn: Ông Lê T1 – sinh năm 2001;

Địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Bị đơn vắng mặt không có lý do.

1

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 10/10/2023, đơn thay đổi nội dung yêu cầu khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết, nguyên đơn Công ty TNHH S do bà Phạm Thị Ngọc T đại diện theo ủy quyền trình bày:

Ngày 18/02/2023 ông Lê T1 có đến Chi nhánh P1 của Công ty để ký hợp đồng cầm cố tài sản số PHM 230201009 NA21X. Ông Lê T1 có ký hợp đồng cầm cố tài sản là 01 xe mô tô hai bánh BKS 86B3 – 924.21, loại xe HONDA Vario 125cc, màu: Trắng đen, số khung MH1JM5115MK979550, số máy: JM51E1978459, số giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 000107 cấp ngày 08/08/2022 để lấy số tiền 23.100.000đồng, thời hạn cầm cố là 12 tháng (từ ngày 18/02/2023 – 18/02/2024) với mức lãi suất là 1.1%/tháng, phí quản lý hồ sơ cố định là 0.5%/tháng, phí bảo dưỡng và hao mòn xe khi mượn là 693.000 đồng/tháng.

Do nhu cầu cần xe đi lại hằng ngày nên Công ty có ký giấy cho ông Lê T1 mượn lại xe sử dụng. Trong giấy mượn xe có quy định rõ thời hạn mượn xe từ 18/02/2023 – 18/03/2023. Quá trình trả nợ ông T1 có thanh toán cho Công ty B kỳ với số tiền 5.195.000đồng, trong đó tiền gốc là 3.559.983đồng, lãi và phí là 711.017đồng, phí bảo dưỡng và hao mòn là 924.000đồng. Đến nay ông Lê T1 không trả nợ cho Công ty, nhân viên Công ty đã nhiều lần liên hệ qua điện thoại và đến nhà ông T1 nhưng ông T1 vẫn không thanh toán.

Tại đơn khởi kiện Công ty yêu cầu ông Lê T1 thực hiện nghĩa vụ trả lại số tiền 26.016.765đồng. Trong đó nợ gốc: 19.540.017đồng và tiền lãi tính đến ngày 10/10/2023 là 6.476.748đồng(Trong đó: Lãi trong hạn là 1.239.488đồng; P (QLHSCĐ là 563.404 đồng; phí bảo dưỡng và hao mòn xe khi mượn là: 4.158.000đồng; Lãi quá hạn là: 515.856đồng). Ngoài ra, ông T1 còn phải tiếp tục chịu lãi suất, phí phát sinh theo Hợp đồng cầm cố đã ký kể từ ngày 11/10/2023 cho đến khi thanh toán xong nợ. Tuy nhiên, ngày 19/01/2024 phía Công ty tự nguyện, đồng ý rút lại yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu phí (QLHSCĐ) là 563.404đồng; phí bảo dưỡng và hao mòn xe khi mượn là: 4.158.000đồng. Vì vậy, Công ty yêu cầu buộc ông Lê T1 thực hiện nghĩa vụ trả lại số tiền 23.401.776 đồng. Trong đó nợ gốc: 19.540.017 đồng và tiền lãi tính đến ngày 23/4/2024 là 3.861.758đồng (Lãi trong hạn 1,1%/tháng là 2.643.764đồng; Lãi quá hạn 0,55%/tháng là 1.217.994đồng). Ngoài ra, ông T1 còn phải tiếp tục chịu lãi suất phát sinh theo Hợp đồng cầm cố đã ký kể từ ngày 24/4/2024 cho đến khi thanh toán xong nợ.

Bị đơn ông Lê T1 vắng mặt nên không có bản khai tại hồ sơ.

Quá trình Tòa án giải quyết vụ án, Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án như thông báo thụ lý vụ án, thông báo về việc mở phiên họp kiểm tra việc giao

2

nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông T1 đều vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 203 và Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau: Việc Công ty TNHH S yêu cầu ông Lê T1 có nghĩa vụ trả số tiền 23.401.776đồng. Trong đó nợ gốc: 19.540.017đồng và tiền lãi tính đến ngày 23/4/2024 là 3.861.758đồng. Căn cứ hợp đồng cầm cố giữa các bên có thoả thuận về mức lãi suất và phía nguyên đơn cũng đã cung cấp bảng kê chi tiết tính lãi, do đó việc yêu cầu lãi của nguyên đơn là hoàn toàn có cơ sở đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận. Ngoài ra, ông T1 còn phải tiếp tục chịu tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất 1,65%/tháng của số tiền gốc 19.540.017 đồng kể từ ngày 24/4/2024 cho đến khi thanh toán xong nợ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả số tiền nợ theo hợp đồng cầm cố tài sản số PHM 230201009 NA21X ngày 18/02/2023. Bị đơn có địa chỉ tại xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Căn cứ vào nơi cư trú và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn. Xét vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận, được pháp luật quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn ông Lê T1 đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và được Tòa án triệu tập đến phiên tòa hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn cố tình vắng mặt, chứng tỏ ông T1 tự từ bỏ quyền và không thực hiện nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[3] Về nội dung: Công ty TNHH S yêu cầu ông Lê T1 có nghĩa vụ trả số tiền 23.401.776 đồng. Trong đó nợ gốc: 19.540.017đồng và tiền lãi tính đến ngày 23/4/2024 là 3.861.758đồng (Lãi trong hạn 1,1%/tháng là 2.643.764đồng; Lãi quá hạn 0,55%/tháng là 1.217.994đồng). Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy:

3

[3.1] Căn cứ vào Hợp đồng cầm cố tài sản số PHM 230201009 NA21X ngày 18/02/2023 giữa Công ty TNHH S – Chi nhánh P1 2 với ông Lê T1 thì tại thời điểm ký kết hợp đồng Công ty TNHH S – Chi nhánh P1 2 có đầy đủ tư cách pháp nhân; Ông Lê T1 có đầy đủ năng lực hành vi dân sự; các bên giao kết hợp đồng là hoàn toàn tự nguyện, không giả tạo, không bị ép buộc, lừa dối, các bên đã đọc lại, hiểu rõ, nhất trí và cùng ký tên. Vì vậy, Hợp đồng cầm cố tài sản số PHM 230201009 NA21X ngày 18/02/2023 và các văn bản kèm theo giữa các bên được thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Theo Hợp đồng cầm cố tài sản số PHM 230201009 NA21X ngày 18/02/2023 và các văn bản kèm theo thì Công ty TNHH S – Chi nhánh P1 đã cho ông Lê T1 vay số tiền gốc là 23.100.000 đồng, với mức lãi suất là 1.1%/ tháng, biện pháp bảo đảm là cầm cố tài sản, thời hạn cầm cố là 12 tháng từ ngày 18/02/2023 – 18/02/2024), hình thức thanh toán trả gốc và lãi theo kỳ với số tiền 2.131.022đồng vào ngày 18 hàng tháng. Quá trình thực hiện ông T1 có thanh toán cho Công ty B kỳ với số tiền 5.195.000 đồng (trong đó tiền gốc là 3.559.983 đồng, lãi và phí là 711.017 đồng, phí bảo dưỡng và hao mòn là 924.000 đồng). Tài sản cầm cố: 01 xe mô tô hai bánh BKS 86B3 – 924.21, loại xe HONDA Vario 125cc, màu: Trắng đen, số khung MH1JM5115MK979550, số máy: JM51E1978459, số giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 000107 cấp ngày 08/08/2022 do Công an xã H cấp đứng tên Lê Tín . Tuy nhiên, tại thời điểm ký kết hợp đồng, bên cầm cố ông T1 không giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho Công ty, Công ty T2 điều kiện cho ông T1 có phương tiện đi lại, nên không nắm giữ tài sản là chiếc xe mà ông T1 cầm cố, chỉ giữ giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 000107 do Công an xã H cấp ngày 08/08/2022 đứng tên Lê Tín . Theo quy định tại Điều 309 của Bộ luật dân sự, cầm cố tài sản chỉ là một trong những biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, trong vụ án này là nghĩa vụ vay tiền. Như vậy giao kết giữa các bên thực chất là giao kết hợp đồng vay tiền. Đây là hợp đồng vay có kỳ hạn và có lãi, phù hợp quy định tại Điều 463 và khoản 2 Điều 470 của Bộ luật Dân sự. Giao dịch dân sự được xác lập giữa các bên có hiệu lực theo quy định tại Điều 116 và Điều 117 của Bộ luật Dân sự.

Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Lê T1 không thực hiện đúng theo cam kết là đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay theo thỏa thuận. Ông T1 không đến Tòa trình bày ý kiến là tự từ bỏ quyền chứng minh của mình nên phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại Điều 91 Bộ luật tố tụng Dân sự.

[3.2] Theo quy định tại khoản 1 Điều 466 của Bộ luật Dân sự về nghĩa vụ trả tiền của bên vay: “1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn ...”. Khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự về lãi suất quy định: “... Trường hợp các bên có thỏa

4

thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay...”. Do ông T1 vi phạm việc trả nợ nên Công ty S yêu cầu ông Lê T1 phải có nghĩa vụ trả số tiền 23.401.776 đồng (Hai mươi ba triệu bốn trăm lẻ một nghìn bảy trăm bảy mươi sáu đồng). Trong đó nợ gốc: 19.540.017 đồng và tiền lãi tính đến ngày 23/4/2024 là 3.861.758 đồng (Trong đó: Lãi trong hạn là 2.643.764 đồng; Lãi quá hạn là 1.217.994 đồng). Căn cứ hợp đồng cầm cố giữa các bên có thoả thuận về mức lãi suất và phía nguyên đơn cũng đã cung cấp bảng kê chi tiết tính lãi, do đó việc yêu cầu trả gốc và lãi của nguyên đơn là hoàn toàn có cơ sở chấp nhận. Ngoài ra, ông T1 còn phải tiếp tục chịu tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất 1,65%/tháng của số tiền gốc 19.540.017 đồng kể từ ngày 24/4/2024 cho đến khi thanh toán xong nợ.

[3.3] Công ty TNHH S phải giao trả cho ông Lê T1 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 000107 do Công an xã H cấp ngày 08/08/2022 đứng tên Lê T1, khi ông T1 trả hết nợ.

[3.4] Về xử lý tài sản cầm cố: Công ty TNHH S không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[4] Về án phí: Ông Lê T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Công ty TNHH S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, Khoản 4 Điều 91, Điều 147, Điều 203, Điều 207, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Điều 309, Điều 357, Điều 463, khoản 1 Điều 466, Điều 468, khoản 2 Điều 470 Bộ luật Dân sự;
  • - Điều 26 Luật Thi hành án dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

5

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH S.

    Buộc ông Lê T1 phải thanh toán cho Công ty TNHH S tổng số tiền 23.401.776 đồng (Hai mươi ba triệu bốn trăm lẻ một nghìn bảy trăm bảy mươi sáu đồng). Trong đó nợ gốc: 19.540.017đồng và tiền lãi tính đến ngày 23/4/2024 là 3.861.758 đồng.

    Ông Lê T1 còn phải tiếp tục chịu tiền lãi phát sinh của số tiền gốc 19.540.017đồng theo mức lãi suất 1,65%/tháng kể từ ngày 24/4/2024 cho đến khi thanh toán xong nợ.

    Trường hợp ông Lê T1 đã thanh toán hết số tiền nợ cho Công ty TNHH S thì Công ty TNHH S phải trả lại bản chính Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 000107 do Công an xã H cấp ngày 08/8/2022 đứng tên Lê T1 cho ông T1.

  2. Về án phí: Ông Lê T1 phải chịu 1.170.000đồng án phí Dân sự sơ thẩm.

    Công ty TNHH S không phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho Công ty TNHH S số tiền 650.000đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0019964 ngày 09/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.

  3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Thuận;
  • - VKSND huyện Hàm Thuận Bắc;
  • - Chi cục THADS H.Hàm Thuận Bắc;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Bạch Tuyết

6

7

8

9

10

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 38/2024/DS-ST ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp về hợp đồng cầm cố tài sản

  • Số bản án: 38/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hợp đồng cầm cố tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/04/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp Hợp đồng cầm cố tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger