|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ TỈNH LAI CHÂU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 38/2024/HNGĐ-ST Ngày 22-8-2024 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Hạnh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đèo Văn Vĩnh; Ông Lò Văn Chiên.
- Thư ký phiên toà: Bà Lù Thị Xuân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Ông Đồng Xuân Tím - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số: 68/2024/TLST-HNGĐ, ngày 19 tháng 02 năm 2024, về việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 08 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Lừu Thị Thanh H, sinh năm: 2001, địa chỉ: Bản L, xã B, huyện P, tỉnh Lai Châu, vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
Bị đơn: Anh Phạm Chiến T, sinh năm: 2001, địa chỉ: Thôn T, xã M, huyện P, tỉnh Lai Châu, vắng mặt, không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Lừu Thị Thanh H trình bày:
Chị Lừu Thị Thanh H và anh Phạm Chiến T là vợ chồng, có đăng ký kết hôn ngày 13/4/2022, tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện P, tỉnh Lai Châu cấp. Chị H và anh T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không bị ép buộc. Sau khi kết hôn, chị H và anh T chung sống hạnh phúc được một thời gian, sau đó thì thường phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không thông cảm cho nhau, thường xuyên cãi chửi nhau, bất đồng quan điểm, vợ chồng không có tiếng nói chung.
Chị H và anh T đã sống ly thân từ khoảng đầu năm 2023, không ai quan tâm đến cuộc sống của ai, không liên lạc với nhau. Hiện nay, chị H không còn tình cảm với anh T nữa, vợ chồng không còn có sự quan tâm, chia sẻ với nhau, tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị H đề nghị Tòa án giải quyết cho chị H được ly hôn với anh T.
Về con chung: Chị Lừu Thị Thanh H và anh Phạm Chiến T có 01 con chung là cháu Phạm Huyền A, sinh ngày 13/8/2021. Từ khi chị H, anh T sống ly thân thì cháu Phạm Huyền A ở cùng với anh T, được anh T quan tâm, chăm sóc. Do chị H không có đủ điều kiện để nuôi con, anh T có đủ điều kiện, khả năng và mong muốn được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con nên chị H đồng ý để anh T nuôi cháu Phạm Huyền A. Về cấp dưỡng nuôi con chung, chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị Lừu Thị Thanh H và anh Phạm Chiến T không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ý kiến của bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án: Về quan hệ hôn nhân, tài sản chung, nợ chung, anh T khai đúng như lời khai của chị H. Anh T nhất trí ly hôn với chị H. Về con chung, anh T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi cháu Phạm Huyền A. Anh T không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con chung. Anh T không có yêu cầu phản tố.
Tòa án đã thông báo phiên hòa giải nhưng tại phiên hòa giải, bị đơn vắng mặt nên vụ án không hòa giải được.
Kết quả xác minh, thu thập tài liệu chứng cứ của Tòa án, xác định: Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng chị Lừu Thị Thanh H, anh Phạm Chiến T đúng như lời khai của các đương sự. Về điều kiện nuôi con: Hiện nay, cháu Phạm Huyền A đang ở cùng anh T và bố mẹ đẻ của anh T. Anh T có nơi ở ổn định, có bố mẹ đẻ hỗ trợ anh T chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Phạm Huyền A.
Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đã đảm bảo đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền theo Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, vi phạm quy định tại các Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 227, 228, 238, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận đơn khởi kiện của chị Lừu Thị Thanh H, xử: Về quan hệ hôn nhân: Chị Lừu Thị Thanh H được ly hôn với anh Phạm Chiến T. Về con chung: Giao cháu Phạm Huyền A cho anh Phạm Chiến T
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào diễn biến phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn là chị Lừu Thị Thanh H khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu giải quyết việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn giữa chị H và bị đơn là anh Phạm Chiến T. Anh T cư trú tại thôn T, xã M, huyện P, tỉnh Lai Châu. Vì vậy, đây là vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử vụ án theo thủ tục vắng mặt các đương sự theo quy định tại các Điều 227, 228, 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Lừu Thị Thanh H và anh Phạm Chiến T là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện P, tỉnh Lai Châu theo đúng quy định pháp luật nên đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, chị H và anh T chung sống hạnh phúc được một thời gian, sau đó thì thường phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không thông cảm cho nhau, thường xuyên cãi chửi nhau, bất đồng quan điểm, vợ chồng không có tiếng nói chung. Từ đầu năm 2023, chị H và anh T đã sống ly thân, không liên lạc với nhau, không còn có sự quan tâm, chia sẻ, yêu thương với nhau, không ai quan tâm đến cuộc sống của ai. Hiện nay, chị H không còn tình cảm với anh T nữa nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T. Anh T cũng nhất trí ly hôn với chị H. Tòa án đã thông báo phiên hòa giải và triệu tập các đương sự để tiến hành hòa giải nhưng tại phiên hòa giải, bị đơn vắng mặt nên không hòa giải được. Giữa chị H và anh T không còn có sự quan tâm, chia sẻ, chăm sóc, yêu thương nhau, quan hệ hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H, giải quyết cho chị H được ly hôn với anh T theo quy định tại Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Chị Lừu Thị Thanh H và anh Phạm Chiến T có 01 con chung là cháu Phạm Huyền A, sinh ngày 13/8/2021. Từ khi chị H, anh T sống ly thân, cháu Phạm Huyền A sống cùng với anh T, được anh T và bố mẹ đẻ của anh T quan tâm, chăm sóc. Hiện nay, chị H không có đủ điều kiện nuôi cháu Phạm Huyền A. Chị H nhất trí sau khi ly hôn, giao cháu Phạm Huyền A cho anh T trực tiếp nuôi. Anh T có nơi ở ổn định, có đủ điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con. Anh T có bố mẹ đẻ thường xuyên quan tâm, hỗ trợ anh T chăm sóc, giáo dục cháu Phạm Huyền A. Anh T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Phạm Huyền A. Vì vậy, để đảm bảo các điều kiện tốt nhất cho sự phát triển của trẻ, Hội đồng xét xử xét thấy cần giao cháu Phạm Huyền A cho anh T là người trực tiếp nuôi cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Chị H có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung: Đương sự không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ tham gia phiên tòa về việc giải quyết vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 227, 228, 238, 266, 271, 273, của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Lừu Thị Thanh H được ly hôn với anh Phạm Chiến T.
- Về con chung: Giao cháu Phạm Huyền A, sinh ngày 13/8/2021, cho anh Phạm Chiến T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi cháu Phạm Huyền A đủ 18 tuổi. Cha mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Phạm Chiến T không yêu cầu chị Lừu Thị Thanh H cấp dưỡng nuôi con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản: Chị Lừu Thị Thanh H và anh Phạm Chiến T không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm: Chị Lừu Thị Thanh H phải nộp 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm. Khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí theo biên lai số: 0000377, ngày 19/02/2024, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu, chị H đã nộp đủ tiền án phí phải nộp.
3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận: -TAND tỉnh Lai Châu; - VKSND huyện Phong Thổ; - THADS huyện Phong Thổ; - UBND xã Bản Lang (Nơi ĐKKH); - Đương sự; - Lưu: HS. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Hạnh |
|
HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Bản án số 38/2024/HNGĐ-ST ngày 22/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 38/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chị H xin ly hôn
