|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂK HÀ TỈNH KON TUM |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 38/2024/HS-ST Ngày: 22-7-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂK HÀ, TỈNH KON TUM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Nga
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Đình Lê
- Bà Phạm Thị Giang
- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Đức Huynh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đăk Hà.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Hà tham gia phiên tòa: Ông Võ Quang Ngọc - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 29/2024/HSST ngày 10/6/2024; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2024/QĐXXST- HS ngày 04 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:
Bị cáo thứ nhất: A T (Tên gọi khác: Không), sinh ngày 06/9/2000; Tại tỉnh Kon Tum.
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn E, xã Đ, thành phố K, tỉnh Kon Tum. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 08/12; Dân tộc Rơ Ngao; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông A A, sinh năm 1966 và bà Y L, sinh năm 1968. Bị cáo chưa có vợ, con. Bị cáo là con thứ 3 trong gia đình có 05 anh, chị, em. Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 31/3/2024 đến ngày 08/4/2024 được hủy bỏ biện pháp tạm giữ và áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay có mặt tại phiên tòa.
Bị cáo thứ hai: A T1 (Tên gọi khác: Không), sinh ngày: 10/01/2005; Tại tỉnh Kon Tum.
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn E, xã Đ, thành phố K, tỉnh Kon Tum. Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Rơ Ngao; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông A Đ, sinh năm 1977 và bà Y R, sinh năm: 1986. Bị cáo chưa có vợ, con. Bị cáo là con thứ ba trong gia đình có 05 chị, em.
Tiền sự: Không.
Tiền án: 01 tiền án (Ngày 18/5/2023 bị Toà án nhân dân huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai xử phạt 09 (chín) tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 14/2023/HS-ST; Chấp hành án tại Trại giam X; Đến ngày 04/11/2023 chấp hành xong hình phạt).
Bị cáo bị bị bắt, tạm giữ từ ngày 31/3/2024 đến ngày 08/4/2024 được hủy bỏ biện pháp tạm giữ và áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay có mặt tại phiên toà.
Người bị hại: Chị Hà Thị M, sinh năm 1989
Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum (Có mặt).
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông A A, sinh năm 1966
Địa chỉ: Thôn E, xã Đ, thành phố K, tỉnh Kon Tum (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 09h00 ngày 30/3/2024, A T điều khiển xe môtô không gắn biển số của gia đình đến nhà A T1 tại thôn E, xã Đ, thành phố K, tỉnh Kon Tum rủ A T1 đi lên huyện Đ, tỉnh Kon Tum tìm kiếm nhà dân có sơ hở trong việc quản lý tài sản là xe môtô lấy trộm đem về làm phương tiện đi lại thì được A T1 đồng ý. Sau đó, A T điều khiển xe môtô chở A T1 theo đường tỉnh lộ 671 đi qua các xã N, Đ, Đ của huyện Đ để tìm kiếm tài sản lấy trộm. Đến khoảng 12h00 cùng ngày, khi đi ngang qua nhà chị Hà Thị M (sinh năm 1989; trú tại thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum); A T thấy trong sân nhà chị M có dựng chiếc xe môtô nhãn hiệu Espero, màu sơn đỏ-đen, biển kiểm soát 82AA-103.61, chìa khoá cắm sẵn trong ổ khoá, cửa cổng không khóa và không có người trông coi. Lúc này, A T quay lại và dừng xe trên đường cách cổng nhà chị Mai m đoạn khoảng 10m rồi chỉ tay về hướng chiếc xe môtô và nói với A T1 “Xe kìa, qua lấy đi”; A T1 xuống xe, đi vào sân dắt chiếc xe môtô biển kiểm soát 82AA-103.61 ra nơi A T đứng; A T1 mở khoá, khởi động máy rồi điều khiển xe môtô trộm cắp được chạy trước lên bờ đập “Mùa Xuân” tại xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum; A T điều khiển xe môtô đi theo sau. Tại bờ đập “Mùa Xuân”, để tránh bị chủ phương tiện nhận diện được xe môtô; A T dùng tay bẻ gãy biển số xe vừa trộm cắp được rồi ném biển số xe vào bụi cây ở bờ đập; A T1 đưa xe môtô trộm cắp được đến vườn cà phê gần đó dùng tay bẽ toàn bộ phần vỏ nhựa bên ngoài của xe môtô sau đó A T1 điều khiển xe môtô trộm cắp được về nhà A T cất giấu. Sau khi phát hiện mất xe môtô, chị Hà Thị M đến Công an huyện Đ trình báo. Ngay sau khi tiếp nhận đơn trình báo, bằng các biện pháp nghiệp vụ Công an huyện Đ triệu tập A T, A T1 đến làm việc. Tại Cơ quan điều tra, A T, A T1 khai nhận hành vi trộm cắp tài sản nói trên.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 08/KL-HĐĐG ngày 05/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện Đ kết luận: 01 (một) xe môtô nhãn hiệu: ESPERO, loại xe 50C2S, màu sơn Đỏ Đen, biển kiểm
soát 82AA-103.61; thời điểm định giá tháng 3/2024; giá trị tài sản thành tiền là 6.750.000 đồng (Sáu triệu bảy trăm năm mươi ngàn đồng).
Tại bản cáo trạng số: 29/CT-VKSĐH ngày 07 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum truy tố các bị cáo A T; A T1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Hà phát biểu lời luận tội đối với các bị cáo A T; A T1. Đề nghị Hội đồng xét xử;
Tuyên bố:
Các bị cáo A T; A T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng:
Khoản 1 Điều 173; Điều 17; Điều 36; điểm b, i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Điều 58 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt:
Bị cáo A T mức án từ 18 đến 24 tháng cải tạo không giam giữ. Nhưng được trừ đi thời gian bị cáo bị tạm giữ từ ngày 31/3/2024 đến ngày 08/4/2024 là 09 ngày x 3 = 27 ngày. Thời điểm chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an thành phố K, tỉnh Kon Tum nhận được quyết định thi hành án.
Giao bị cáo A T cho Ủy ban nhân dân xã Đ, thành phố K, tỉnh Kon Tum giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành hình phạt. Giao gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo.
Áp dụng:
Khoản 1 Điều 173; Đều 17; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 2 Điều 52; Điều 58 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt:
Bị cáo A T1 mức án từ 12 đến 15 tháng tù, nhưng được trừ đi thời gian bị cáo bị tạm giữ từ ngày 31/3/2024 đến ngày 08/4/2024, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
Về trách nhiệm dân sự:
Ghi nhận sự tự nguyện thoả thuận của chị Hà Thị M và bị cáo A T1. Bị cáo A T1 phải bồi thường cho chị Hà Thị M số tiền 350.000đ (Ba trăm năm mươi ngàn đồng).
Ngoài ra, Kiểm sát viên đề nghị hội đồng xét xử tuyên về phần án phí, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, các bị cáo A T, A T1 thành khẩn khai nhận tòa bộ hành vi phạm tội. Các bị cáo A T, A T1 không có ý kiến bào chữa và tranh luận gì. Các bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Người bị hại chị Hà Thị M mong hội đồng xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo A T1, A T.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông A A không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường gì.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá
trình tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, các quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội:
Tại phiên tòa, các bị cáo A T, A T1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã truy tố. Xét lời khai của các bị cáo là phù hợp với các chứng cứ khác về thời gian, địa điểm và hành vi phạm tội thể hiện;
Vào khoảng 09h00 ngày 30/3/2024, A T đến nhà A T1 tại thôn E, xã Đ, thành phố K, tỉnh Kon Tum rủ A T1 đi lên huyện Đ tìm kiếm nhà dân có sơ hở trong việc quản lý tài sản là xe môtô lấy trộm đưa về làm phương tiện đi lại thì A T1 đồng ý. Đến khoảng 12h00 cùng ngày, khi đến thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum bị cáo A T, và bị cáo A T1 phát hiện trong sân nhà chị Hà Thị M có dựng chiếc xe môtô biển kiểm soát 82AA-103.61 trị giá 6.750.000 đồng (Sáu triệu bảy trăm năm mươi ngàn đồng) chìa khóa cắm sẵn trong ổ khóa và không có người trông coi; A T, A T1 lấy trộm chiếc xe môtô biển kiểm soát 82AA-103.61 đưa đến bờ đập “Mùa Xuân” thuộc xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum bẻ gãy biển số xe và phần vỏ nhựa bảo vệ bên ngoài của xe nhằm tránh để chủ phương tiện nhận diện được xe môtô sau đó đưa xe môtô trộm cắp về nhà A T cất giấu nhưng bị lực lượng Công an huyện Đ phát hiện, thi hành lệnh bắt giữ ngay sau đó.
[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:
Đây là vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn do nhiều người cùng thực hiện. Trong đó, A T là người khởi xướng, rủ rê A T1 và cùng A T1 thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Quá trình trộm cắp A T1 là người trực tiếp vào lấy tài sản còn A T là người cảnh giới cho A T1 trộm cắp. Sau khi lấy cắp được xe nhằm tránh sự phát hiện của chủ sở hữu các bị cáo đã cố tình phá hỏng biên số và tháo bỏ đi một số thiết bị của chiếc xe.
Hành vi của các bị cáo A T, A T1 đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Tại thời điểm thực hiện hành vi tội phạm, các bị cáo A T, A T1 có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật nên các bị cáo A T, A T1 phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi phạm tội mà các bị cáo A T, A T1 đã thực hiện với lỗi cố ý.
Hành vi của các bị cáo không những đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác cụ thể là tài sản của chị Hà Thị M. Hành vi đó đã gây xôn xao bất bình trong dư luận quần chúng, làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự chính
trị tại địa phương. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà các bị cáo đã gây ra.
[4] Về nhân thân, và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
[4.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo T không phải tình tiết tăng nặng nào được quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Đối với bị cáo A T1, trước khi phạm tội đã có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xoá án tích lại tiếp tục phạm tội do cố ý nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
[4.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo A T, A T1 đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội. Quá trình điều tra, truy tố bị cáo A T đã bồi thường số tiền 1.350.000 đồng (Một triệu ba trăm năm mươi ngàn đồng), bị cáo A T1 đã bồi thường được số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng). Tại phiên toà, bị hại chị Hà Thị M đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng cho các bị cáo.
Bị cáo A T tham gia trộm cắp 01 lần cùng A T1, số tiền trộm cắp là 6.750.000 đồng (Sáu triệu bảy trăm năm mươi ngàn đồng). Do đó, cần áp dụng tình tiết “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo A T.
Qua phân tích, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo A T; A T1. Đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo. HĐXX xét thấy.
Trong vụ án này A T chưa có tiền án, tiền sự. Phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do đó, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà giao bị cáo cho chính quyền địa phương và gia đình giám sát quản lý, giáo dục bị cáo A T cũng đủ sức răn đe, cải tạo bị cáo trở thành người biết tôn pháp luật.
Bị cáo A T1 là người có nhân thân xấu, mặc dù trước đó ngày 18/5/2023 đã từng bị Toà án nhân dân huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai xử phạt 09 (chín) tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Tuy nhiên, bị cáo không lấy đó làm bài học để tự rèn luyện bản thân, sống trở thành người có ích cho xã hội và biết chấp hành pháp luật hơn mà lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Do đó, cần phải có mức án thật nghiêm khắc đối với bị cáo. Cách ly bị cáo ra khởi đời sống xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe giáo dục bị cáo.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo A T, A T1 không có thu nhập ổn định. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với các bị cáo A T, A T1.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra bị hại chị Hà Thị M yêu cầu các bị can bồi thường chi phí sửa chữa, cấp biển số mới đối với hư hỏng của xe
môtô biển kiểm soát 82AA-103.61 là 2.700.000 đồng (Hai triệu bảy trăm ngàn đồng). Quá trình điều tra, truy tố bị cáo A T đã bồi thường số tiền 1.350.000 đồng (Một triệu ba trăm năm mươi ngàn đồng), bị cáo A T1 đã bồi thường được số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng). Tại phiên toà hôm nay, chị Hà Thị M yêu cầu bị cáo A T1 phải bồi thường số tiền còn lại là 350.000đ. Bị cáo A T1 đồng ý bồi thường tiếp số tiền 350.000đ cho chị Hà Thị M. Do đó, HĐXX ghi nhận sự tự nguyện thoả thuận này.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông A A không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường gì về trách nhiệm dân sự nên HĐXX không xem xét là phù hợp.
[7] Về vật chứng của vụ án: Quá trình điều tra cơ quan cảnh sát điều tra đã thu giữ;
- 01 (một) xe môtô nhãn hiệu ESPERO, loại xe 50CS2, màu sơn Đỏ Đen, biển kiểm soát 82AA-103.61, số máy: VDEJQ139FMB7123252, số khung: RPENCBBPEMA123252 (xe không có biển số);
- 01 (một) yếm xe môtô bên phải, màu Đỏ Đen;
- 01 (một) yếm xe môtô bên trái, màu Đỏ Đen;
- 01 (một) ốp sườn xe môtô bên phải, màu Đỏ Đen;
- 01 (một) ốp sườn xe môtô bên trái, màu Đỏ Đen;
- 01 (một) mặt nạ trước xe môtô, màu đen;
- 01 (một) xe môtô biển kiểm soát 82K3-4484, nhãn hiệu HuaNghe, màu đen, số khung: 01088227, số máy: 01088227;
- 01 (một) giấy đăng ký môtô, xe máy số A0039399, biển số xe 82K3-4484 mang tên A K (sinh năm 1967; trú tại thôn E, xã Đ, thành phố K, tỉnh Kon Tum).
Về nguồn gốc đồ vật tạm giữ, qua điều tra xác minh xác định:
- 01 (một) xe môtô nhãn hiệu ESPERO, biển kiểm soát 82AA-103.61 (xe không có biển số) là tài sản của chị Hà Thị M đứng tên chủ sở hữu.
- 01 (một) yếm xe môtô bên phải, màu Đỏ Đen; 01 (một) yếm xe môtô bên trái, màu Đỏ Đen; 01 (một) ốp sườn xe môtô bên phải, màu Đỏ Đen; 01 (một) ốp sườn xe môtô bên trái, màu Đỏ Đen; 01 (một) mặt nạ trước xe môtô, màu đen bị bị cáo A T1 tháo rời từ chiếc xe môtô nhãn hiệu ESPERO, biển kiểm soát 82AA-103.61 cũa bà Hà Thị M.
- 01 (một) xe môtô biển kiểm soát 82K3-4484, nhãn hiệu HuaNghe, màu đen, số khung: 01088227, số máy: 01088227 có giấy đăng ký môtô, xe máy mang tên A K. Năm 2020, ông A K bán chiếc xe môtô này cho ông A A (sinh năm 1966; trú tại thôn E, xã Đ, thành phố K, tỉnh Kon Tum; Là bố của bị cáo A T). Ngày 30/3/2024, bị cáo A T tự ý lấy xe môtô làm phương tiện chở bị cáo A T1 đi trộm cắp tài sản thì ông A A không biết.
Quá trình điều tra, nhận thấy việc trả lại tài sản không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án; Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ ra quyết định xử lý vật chứng, xử lý đồ vật, tài liệu tạm giữ Bằng hình thức trả lại cho chủ sở hữu tiếp tục quản lý, sử dụng nên HĐXX không xem xét là phù hợp.
[8] Về án phí: Các bị cáo A T, A T1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo A T1 phải chịu 300.000 đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố:
Các bị cáo A T, A T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng:
Khoản 1 Điều 173; Điều 17; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt:
Bị cáo A T1 15 (Mười lăm) tháng tù, được trừ đi thời gian bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 31/3/2024 đến ngày 08/4/2024 là 09 ngày bị cáo còn phải chấp hành thời hạn 14 (mười bốn) tháng 21 (hai mươi mốt) ngày tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
Áp dụng:
Khoản 1 Điều 173; Điều 17; Điều 36; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt:
Bị cáo A T 18 (Mười tám) tháng cải tạo không giam giữ. Nhưng được trừ đi thời gian bị cáo bị tạm giữ trước đó từ ngày 31/3/2024 đến ngày 08/4/2024 là 09 ngày x 3 = 27 ngày. Bị cáo còn phải chấp hành 17 (mười bảy) tháng 03 (ba) ngày cải tạo không giam giữ. Thời điểm chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an thành phố K, tỉnh Kon Tum nhận được quyết định thi hành án.
Giao bị cáo A T cho Ủy ban nhân dân xã Đ, thành phố K, tỉnh Kon Tum giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành hình phạt. Giao gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự:
Căn cứ vào các Điều 584; 585; 586; 589 Bộ luật dân sự năm 2015. Ghi nhận sự tự nguyện thoả thuận của chị Hà Thị M và bị cáo A T1. Bị cáo A T1 phải bồi thường cho chị Hà Thị M số tiền 350.000đ (Ba trăm năm mươi ngàn đồng).
Áp dụng Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án chậm thi hành khoản tiền trên thì hàng tháng phải chịu lãi suất đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán. Lãi suất phát sinh do chậm trả được xác định theo thoả thuận của các bên nhưng không vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự . Nếu không có thoả thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 1 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Các bị cáo A T, A T1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ
thẩm. Bị cáo A T1 phải chịu 300.000 đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo:
Căn cứ vào các Điều 331; 332; 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Trong thời hạn 15(mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án (22/7/2024) các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh KonTum để yêu cầu giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Nga |
Bản án số 38/2024/HS-ST ngày 22/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂK HÀ, TỈNH KON TUM về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự)
- Số bản án: 38/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂK HÀ, TỈNH KON TUM
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: A Tuấn và A Toan phạm tội trộm cắp tài sản
