|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 38/2024/HS-ST Ngày: 22/5/2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Trang;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Quang Sơn và bà Nguyễn Thị Lệ Thanh;
Thư ký phiên tòa: Bà Phan Ngọc Trà My - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân;
Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 22/2024/TLST-HS ngày 17/4/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2024/QĐXXST-HS ngày 08/5/2024, đối với bị cáo:
PHAN VĂN P, (Tên gọi khác: Không), sinh năm 1998 tại tỉnh B;
HKTT: thôn TLH, xã T, thị xã L, tỉnh B;
Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh;
Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;
Con ông: Phan Văn L và bà Đặng Thị H;
Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ hai;
Vợ, con: Chưa có;
Tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân:
- + Tại bản án số 06/2014/HSST ngày 23/01/2014 bị Toà án nhân dân thị xã La Gi xử phạt 02 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/3/2015. Đã chấp hành xong án phí. Khi phạm tội bị cáo là người dưới 16 tuổi nên được xem là không có án tích.
- + Tại bản án số 45/2016/HSST ngày 09/11/2016 bị Toà án nhân dân huyện Hàm Tân xử phạt 03 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất Ma tuý”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/12/2018. Đã thi hành xong phần án phí.
Bị cáo bị bắt ngày 07/01/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện H. Có mặt tại phiên tòa.
1
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 06/01/2024, Phan Văn P đến Tp. P1 chơi. Do bản thân nghiện ma tuý nên tối cùng ngày, bị cáo đi bộ tới khu vực gần trường D tại Tp P1. gặp một đối tượng chạy xe ôm không rõ nhân thân, lai lịch hỏi chỗ bán ma tuý để mua, thì đối tượng này gọi điện thoại liên hệ với người bán ma tuý rồi chở P đến Công viên gặp một đối tượng tên Gia H1 không rõ nhân thân, lai lịch. Tại đây P hỏi mua 500.000₫ ma tuý đá thì H1 đồng ý bán, và giao cho P một cái nỏ và một cái khẩu trang bên trong có chứa 01 gói ma tuý đá. Phụng trả cho H1 500.000đ, đồng thời trả tiền công cho đối tượng chạy xe ôm 250.000đ. Sau đó, P thuê nhà nghỉ, lấy một ít ma tuý ra sử dụng, phần còn lại P để trong gói nylon hàn kín và cất giấu trong người. Chiều ngày 07/01/2024, P cất giấu gói ma tuý trên trong túi quần rồi đón xe buýt đi về nhà. Khoảng 16h cùng ngày khi đến thị trấn T, huyện H, P xuống xe đi bộ trên đường C đến khu vực Chợ D1 để mua đồ ăn thì gặp tổ tuần tra Công an thị trấn T, thấy P có dấu hiệu khả nghi nên tổ tuần tra tiến hành kiểm tra hành chính, phát hiện trong túi quần phía sau bên trái của P có 01 gói nylon được hàn kín, kích thước (3×3×3×1,5) cm, bên trong có chứa chất dạng tinh thể màu trắng, P thừa nhận đây là ma tuý do P mua về để sử dụng, nên Công an thị trấn T đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với P, niêm phong vật chứng và chuyển cho Công an huyện H xử lý theo thẩm quyền.
Tại Kết luận giám định số 45/KL-KTHS ngày 12/01/2024 của Phòng K, Công an tỉnh B xác định:
- - 01 gói nylon được hàn kín, bên trong có chứa tinh thể màu trắng được ký hiệu là M: Có khối lượng là 0,3668gam, là Methamphetamine.
Vật chứng vụ án thu giữ gồm có: 0,3668gam Methamphetamine, hiện còn 0,3374 gam (Do lấy mẫu giám định) cùng 01 gói nylon đã cắt lấy mẫu.
Với nội dung như trên, Cáo trạng số 28/CT-VKS ngày 17/4/2024 của VKSND huyện Hàm Tân đã truy tố bị cáo Phan Văn P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng của VKSND huyện Hàm Tân đã truy tố và thống nhất với các điều khoản mà VKSND huyện Hàm Tân đã viện dẫn trong Cáo trạng.
Đại diện VKSND huyện Hàm Tân giữ quyền công tố luận tội và tranh luận đã phân tích hành vi phạm tội của bị cáo. Đề nghị HĐXX tuyên bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” như nội dung Cáo trạng, đồng thời xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ khi quyết định mức hình phạt đối với bị cáo. Đề nghị HĐXX áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phan Văn P từ 18 tháng tù đến 24 tháng tù.
Về biện pháp tư pháp: Đề nghị HĐXX tuyên tịch thu tiêu hủy 0,3374 gam Methamphetamine cùng 01 gói nylon đã cắt lấy mẫu.
2
* Ý kiến của bị cáo: Bị cáo đồng ý với nội dung, tội danh mà Cáo trạng của VKSND huyện Hàm Tân đã truy tố, thống nhất với mức hình phạt mà đại diện VKSND huyện Hàm Tân đề nghị. Tuy nhiên, trong quá trình kiểm tra hành chính đối với bị cáo, ngoài gói ma túy, Công an thị trấn T còn thu giữ của bị cáo 01 khuyên tai màu vàng, 02 nhẫn màu vàng, số tiền 4 triệu đồng, 01 điện thoại di động hiệu Vivo. Bị cáo được biết đối với 01 khuyên tai màu vàng, 02 nhẫn màu vàng, 01 điện thoại di động Cơ quan điều tra đã trả lại cho gia đình bị cáo, còn số tiền 4 triệu đồng, hiện vẫn chưa trả lại, nên đề nghị Công an thị trấn T trả lại số tiền 4 triệu đồng cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan CSĐT Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến, hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai và các tài liệu chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra vụ án, đã có đủ cơ sở xác định:
Khoảng 16 giờ ngày 07/01/2024, tại khu vực Chợ D1, đường C thuộc khu phố B, thị trấn T, huyện H, Phan Văn P đã có hành vi tàng trữ 01 gói ma túy có khối lượng 0,3668gam thì bị tổ tuần tra Công an thị trấn T phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và chuyển Công an huyện H xử lý.
Tại các biên bản ghi lời khai của bị cáo; biên bản hỏi cung; lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều thống nhất hành vi của bị cáo đúng như cáo trạng đã nêu.
Tại Kết luận giám định số 45/KL-KTHS ngày 12/01/2024 của Phòng K, Công an tỉnh B xác định: 01 gói nylon được hàn kín, bên trong có chứa tinh thể màu trắng được ký hiệu là M: Có khối lượng là 0,3668gam, là Methamphetamine
Bị cáo P tàng trữ trái phép 0,3668gam Methamphetamine để sử dụng, không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy. Hành vi của bị cáo xâm phạm khách thể được Luật Hình sự bảo vệ là chế độ quản lý của Nhà nước về chất Ma túy. Bị cáo P là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Như vậy, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất Ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
3
Do vậy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo biết rõ ma tuý là hiểm họa của con người và xã hội, tệ nạn ma túy không những xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, mà còn là nguyên nhân sản sinh ra nhiều loại tội phạm khác. Mặc dù nhận thức rõ điều này, nhưng để thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân, bị cáo P đã bất chấp hậu quả, bất chấp pháp luật, tàng trữ ma túy để sử dụng. Bản thân bị cáo đã từng hai lần bị kết án, trong đó có một lần bị xét xử về hành vi Mua bán trái phép chất ma tuý, nhưng không lấy đó làm bài học mà vẫn tiếp tục phạm tội. Vì vậy, cần phải dành cho bị cáo mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện để răn đe đối với bị cáo, cũng như thông qua đó phòng ngừa tội phạm chung, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo có thời gian cai nghiện ma túy, cũng như rèn luyện, tu dưỡng bản thân trở thành công dân có ích cho xã hội.
[4] Về tình tiết tăng nặng: Không có.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi thực hiện hành vi phạm tội cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Đối với đối tượng bán ma túy cũng như đối tượng chạy xe ôm giới thiệu và chở bị cáo đi mua ma tuý, hiện không xác định được nhân thân lai lịch, Cơ quan chức năng không có căn cứ để tiến hành điều tra làm rõ theo quy định nên không xem xét.
[7] Về vật chứng vụ án:
- - Đối với 0,3374 gam Methamphetamine còn lại sau giám định là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với 01 gói nylon đã cắt lấy mẫu, đây là vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
[8] Đối với các tài sản mà bị cáo trình bày mình bị Công an thị trấn T thu giữ, cụ thể là 01 điện thoại di động hiệu Vivo, 02 nhẫn màu vàng, 01 khuyên tai màu vàng, đây là các tài sản không liên quan đến việc phạm tội, đã được Cơ quan CSĐT Công an huyện H trả cho người nhà bị cáo, nên không xem xét. Đối với số tiền 4.000.000₫ bị cáo trình bày mình bị thu giữ nhưng hồ sơ không có tài liệu chứng cứ chứng minh nên không xem xét.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Bị cáo Phan Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
4
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Phan Văn P 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 07/01/2024.
- Xử lý vật chứng: Áp dụng: Khoản 1 Điều 46, Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tuyên tịch thu tiêu hủy: 0,3374 gam Methamphetamine cùng 01 gói nylon đã cắt lấy mẫu. Tất cả được niêm phong trong phong bì số 45 có chữ ký và ghi tên của Giám định viên Đoàn Thảo N và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B;
Vật chứng hiện đang được Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Tân quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/4/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Tân.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Phan Văn P phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Án xử công khai, báo cho bị cáo biết quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
|
Nguyễn Thị Thùy Trang |
5
|
* Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
Nguyễn Thị Thùy Trang |
6
Bản án số 38/2024/HS-ST ngày 22/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN, TỈNH BÌNH THUẬN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 38/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phan Văn P bị truy tố về tội "Tàng trữ trái phép chất Ma túy"
