TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 38/2024/HS-ST Ngày: 21-8-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Hồng Thảo.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Dương Ngô Phiên.
- Ông Thân Văn Bình.
Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Mai - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Mậu Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 21-8-2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 31/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2024/QĐXXST-HS ngày 09/8/2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Vũ Văn C; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam. Sinh năm:1984; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: thôn B, xã H, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Chức vụ: Không có; trình độ học vấn: 12/12; Họ và tên bố: Vũ Văn D (đã chết); Họ và tên mẹ:Dương Thị H, sinh năm 1962; Vợ: Lê Thị Thanh T, sinh năm 1986; Con: Bị cáo có 01 con sinh năm 2008. Anh chị em ruột: Gia đình có 3 anh em, bị cáo là con thứ nhất.
Tiền án: Không.
Tiền sự: Ngày 15/10/2023 bị Công an huyện Y, tỉnh Bắc Giang xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi "Sử dụng trái phép chất ma túy".
Nhân thân:
- Ngày 23/8/2012 bị Công an huyện Y, tỉnh Bắc Giang xử phạt hành chính 1.500.000 đồng về hành vi "Trộm cắp tài sản";
- Bản án số 64/2012/HSST ngày 28/9/2012 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang xử phạt 08 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản" nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 tháng 22 ngày (chấp hành xong án phí ngày 20/3/2017, bồi thường thiệt hại ngày 20/01/2013).
Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/4/2024 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Y.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 15 giờ 00 phút ngày 11 tháng 4 năm 2024, tại nhà ở của Vũ Văn C, sinh năm 1984 ở thôn B, xã H, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Công an xã H phối hợp với Công an huyện Y, Bắc Giang bắt quả C có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, quá trình kiểm tra bắt quả tang thì C đang ngồi trên ghế trong nhà và phía trước mặt trên bàn chỗ C ngồi có 01 hộp nhựa màu xanh bên trong có 02 đoạn ống nhựa gồm một đoạn ống nhựa màu đỏ và một đoạn ống nhựa màu cam, bên trong hai đoạn ống nhựa đều có một viên nén màu hồng đỏ (nghi là chất ma túy). Vũ Văn C khai 02 đoạn ống nhựa trên đều chứa ma túy ngựa. Tổ công tác tiến hành niêm phong 02 đoạn ống nhựa bên trong có 02 viên nén màu hồng đỏ trong phong bì ký hiệu "QT" đưa C về Công an xã H lập biên bản phạm tội quả tang. Ngoài ra, thu giữ 01 hộp nhựa màu xanh trên nắp hộp có chữ “ĐÈN PIN G8-A4” đã qua sử dụng bên trong hộp có 01 đoạn ống nhựa màu đỏ đã qua sử dụng; 01 điện thoại kiểu dáng iphone có vỏ màu trắng có số Imei: 013420002597412, điện thoại đã qua sử dụng; 01 điện thoại Nokia màu xanh có số Imei: 353101113398753, điện thoại đã qua sử dụng (được niêm phong trong thùng bìa cattong).
Cùng ngày, Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của C. Kết quả không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Ngày 11/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã phối hợp với Trạm y tế xã Hương Vĩ tiến hành lấy mẫu nước tiểu để xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể đối với Vũ Văn C. Kết quả Cường dương tính với ma túy.
Ngày 11/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã Quyết định trưng cầu giám định chất ma túy. Ngày 15/4/2024, Phòng K Công an tỉnh B có kết luận: "Trong 01 phong bì ký hiệu "QT" đã được niêm phong gửi giám định: 02 viên nén màu hồng đỏ đựng trong 02 đoạn ống nhựa hàn kín hai đầu (trong đó 01 đoạn màu đỏ, 01 đoạn màu cam) là ma túy, có tổng khối lượng 0,181 gam, loại Methamphetamine.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã kiểm tra 02 chiếc điện thoại thu giữ của C. Kết quả cả 02 chiếc điện thoại đều bị hỏng và không kiểm tra được nội dung bên trong.
Ngày 04/6/2024, Cơ quan điều tra đã cho C thực nghiệm lại hành vi mua ma túy và cất giấu ma túy. Kết quả, C thực hiện thuần thục các động tác mua ma túy, cất giấu ma túy.
Quá trình điều tra xác định hành vi phạm tội của bị cáo và nguồn gốc số ma túy như sau:
Vũ Văn C ở thôn B, xã H, huyện Y, tỉnh Bắc Giang là người nghiện ma túy. Buổi chiều ngày 09/4/2024, C đi từ nhà đến tổ dân phố D, thị trấn B, huyện Y mua của 01 người đàn ông không quen biết 100.000 đồng ma túy H1 sau đó về nhà C đã sử dụng hết, đến khoảng 17 giờ 00 phút ngày 10/4/2024 C tiếp tục đi xe ôm (của một người không quen biết) đến đoạn đường bê tông thuộc tổ dân phố D, thị trấn B, huyện Y mua của một người đàn ông không quen biết 140.000 đồng được 02 viên ma túy "ngựa" đựng trong 02 đoạn ống nhựa mục đích về nhà để sử dụng. Đến khoảng 15 giờ ngày 11/4/2024 C bỏ ma túy ra để sử dụng thì bị Công an bắt quả tang.
Quá trình điều tra xác định năm 2012, Vũ Văn C bị Tòa án nhân dân huyện Yên Thế xét xử về tội "Trộm cắp tài sản". Tuy nhiên, lý lịch thể hiện họ và tên là Nguyễn Văn C1. Ngày 13/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã trưng cầu Phòng K Công an tỉnh B giám định đường vân D1 bản, Chỉ bản đã lập với Vũ Văn C và D1 bản, Chỉ bản đã lập với Nguyễn Văn C1 ngày 09/7/2012. Ngày 19/6/2024, Phòng K - Công an tỉnh B có Kết luận số 1331/KL-KTHS kết luận: "Dấu vân 10 đầu ngón tay in trên Danh bản, Chỉ bản ghi tên Vũ Văn C, sinh năm 1984, nơi cư trú: Thôn B, xã H, huyện Y, tỉnh Bắc Giang so với dấu vân 10 đầu ngón tay in trên Danh bản, Chỉ bản số 181, do Công an huyện Y lập ngày 09/7/2012 ghi tên Nguyễn Văn C1, sinh năm 1984, nơi ĐKNKTT: Thôn B, xã H, huyện Y, tỉnh Bắc Giang là của cùng một người".
Đối với người đàn ông bán ma túy cho C1 tại khu vực tổ dân phố D, thị trấn B, huyện Y, do C1 không biết tên tuổi, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để tổ chức điều tra, xác minh để xử lý.
Đối với hành vi "Sử dụng trái phép chất ma túy" ngày 09/4/2024 của Vũ Văn C. Ngày 28/6/2024, Trưởng Công an huyện Y đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng.
Về vật chứng của vụ án: 01 (một) phong bì niêm phong có ký hiệu "QT" là ma túy; 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Iphone, vỏ màu trắng có số Imei: 013420002597412, 01 điện thoại di động Nokia màu xanh có số Imei: 353101113398753, 01 hộp nhựa màu xanh trên nắp hộp có chữ "ĐÈN PIN G8-A4" bên trong có 01 đoạn ống nhựa màu đỏ được niêm phong trong một hộp bìa cát tông là của C. Hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đang tạm giữ.
Cáo trạng số 35/CT-VKS-YT ngày 18/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế truy tố bị cáo Vũ Văn C về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung bản Cáo trạng đã truy tố.
Tại phiên tòa hôm nay, sau phần xét hỏi tại phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế thực hành quyền công tố đã luận tội đối với bị cáo, phân tích, đánh giá tính chất nguy hiểm của vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử:
Bị cáo Vũ Văn C phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS: Xử phạt bị cáo Vũ Văn C từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù về tội " Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam ngày 11/4/2024, tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
- Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS:
- -Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong chất ma túy có ký hiệu "QT" bên trong đựng 02 viên nén màu hồng đỏ đựng trong 02 đoạn ống nhựa được hàn kín 02 đầu, có tổng khối lượng 0,181 gam loại Methamphetamine; 01 hộp nhựa màu xanh, trên nắp hộp có chữ "ĐÈN PIN G8-A4" đã qua sử dụng bên trong hộp có 01 đoạn ống nhựa màu đỏ.
- -Trả lại bị cáo: 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone, vỏ màu trắng, có số Imei: 013420002597412; 01 điện thoại di động Nokia màu xanh có số Imei: 353101113398753 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án;
- Về án phí: Áp dụng Khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị có mong Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Y, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về tội danh:
Lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa đều thừa nhận: Hồi 15 giờ 00 phút ngày 11/4/2024, tại nhà ở của Vũ Văn C, sinh năm 1984 ở thôn B, xã H, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Tổ công tác của Công an huyện Y phối hợp với Công an xã Hương Vĩ bắt quả tang C đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,181 gam ma túy Methamphetamine. C khai tàng trữ nhằm mục đích để sử dụng cho bản thân.
Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, phù hợp về thời gian, không gian, địa điểm. Bị cáo tàng trữ trái phép 0,181 gam ma túy Methamphetamine, do đó cần buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Như vậy, Cáo trạng số 35/CT-VKS-YT, ngày 18/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3]. Về tính chất, mức độ của hành vi:
Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo nhận thức rõ việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, xâm phạm sự độc quyền về quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, xâm hại đến trật tự công cộng nhưng vì nhu cầu của bản thân bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có nhân thân xấu đã bị xét xử về tội trộm cắp tài sản, bị cáo không lấy đó làm bài học mà tiếp tục phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo còn vi phạm Luật phòng chống ma túy, trực tiếp làm gia tăng tệ nạn ma túy tại địa phương. Nghiện ma túy còn là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập không ổn định, không có tài sản có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[4]. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[5]. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6]. Từ các tình tiết trên, Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo C là người có Tiền sự: Ngày 15/10/2023 bị Công an huyện Y, tỉnh Bắc Giang xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi "Sử dụng trái phép chất ma túy" và có nhân thân xấu: Ngày 23/8/2012 bị Công an huyện Y, tỉnh Bắc Giang xử phạt hành chính 1.500.000 đồng về hành vi "Trộm cắp tài sản"; Bản án số 64/2012/HSST ngày 28/9/2012 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang xử phạt 08 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản" nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 tháng 22 ngày (chấp hành xong án phí ngày 20/3/2017, bồi thường thiệt hại ngày 20/01/2013) nhưng không lấy đó làm bài học, chứng tỏ bị cáo là người khó cải tạo, coi thường pháp luật. Vì vậy, cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian cần thiết mới đủ điều kiện để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân biết tuân thủ pháp luật, có ích cho gia đình và xã hội.
[7]. Đối với người đàn ông C khai đã bán ma túy cho C tại khu vực tổ dân phố D, thị trấn B, huyện Y, do C không biết tên tuổi, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để tổ chức điều tra, xác minh để xử lý là đúng quy định pháp luật.
Đối với hành vi "Sử dụng trái phép chất ma túy" ngày 09/4/2024 của Vũ Văn C. Ngày 28/6/2024, Trưởng Công an huyện Y đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng là đúng quy định pháp luật.
[8]. Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 (một) phong bì niêm phong chất ma túy có ký hiệu "QT" có dấu niêm phong của Phòng K Công an tỉnh B và chữ ký của Giám định viên, và đại diện Cơ quan trưng cầu giám định bên trong đựng 02 viên nén màu hồng đỏ được đựng trong 02 đoạn ống nhựa được hàn kín hai đầu (trong đó có 01 đoạn màu đỏ, 01 đoạn màu cam) là ma túy, tổng khối lượng 0,181 gam, loại Methamphetamine là vật chứng cấm lưu hành, áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01(một) điện thoại di động kiểu dáng Iphone có vỏ màu trắng có số IMEI: 013420002597412, điện thoại đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động Nokia màu xanh có số IMEI: 353101113398753, điện thoại đã qua sử dụng là của Vũ Văn C không sử udngj vào việc tang trữ trái phép chất mà túy nên cần trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành án.
- Đối với 01(một) hộp nhựa màu xanh trên nắp hộp có chữ "ĐÈN PIN G8-A4" đã qua sử dụng bên trong hộp có 01 đoạn ống nhựa màu đỏ không còn giá trị, bị cáo không xin lại nên cần tịch thu tiêu hủy.
[9]. Về án phí: Bị cáo Vũ Văn C phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
[10]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự; Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
1. Về hình phạt và tội danh:
Xử phạt bị cáo Vũ Văn C 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/4/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Vũ Văn C.
2. Về xử lý vật chứng:
Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS; Các điểm a, b khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong chất ma túy có ký hiệu "QT" có dấu niêm phong của Phòng K Công an tỉnh B và chữ ký của Giám định viên, và đại diện Cơ quan trưng cầu giám định bên trong đựng 02 viên nén màu hồng đỏ được đựng trong 02 đoạn ống nhựa được hàn kín hai đầu (trong đó có 01 đoạn màu đỏ, 01 đoạn màu cam) là ma túy, tổng khối lượng 0,181 gam, loại Methamphetamine; 01(một) hộp nhựa màu xanh trên nắp hộp có chữ "ĐÈN PIN G8-A4" đã qua sử dụng bên trong hộp có 01 đoạn ống nhựa màu đỏ.
- Trả lại Vũ Văn C 01(một) điện thoại di động kiểu dáng Iphone có vỏ màu trắng có số IMEI: 013420002597412, điện thoại đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động Nokia màu xanh có số IMEI: 353101113398753 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
3. Về án phí:
Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án: bị cáo Vũ Văn C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp quyết định thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo đúng quy định tại Điều 6,7, 7a, 7b và 9 của Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
4. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
Lê Hồng Thảo |
Bản án số 38/2024/HS-ST ngày 21/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 38/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hồi 15 giờ 00 phút ngày 11/4/2024, tại nhà ở của Vũ Văn C, sinh năm 1984 ở thôn B, xã H, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Tổ công tác của Công an huyện Y phối hợp với Công an xã Hương Vĩ bắt quả tang C đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,181 gam ma túy Methamphetamine. C khai tàng trữ nhằm mục đích để sử dụng cho bản thân
