|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 38/2025/HNGĐ-ST
Ngày 30 - 6 - 2025
V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Giang.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Hữu Phúc;
- Ông Võ Hùng Em.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đặng Hồng Thiên, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Tuyết Phương – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 13 tháng 6 và 30 tháng 6 năm 2025; Tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 113/2025/TLST-HNGĐ ngày 18/4/2025, về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 28/5/2025 ; Quyết định hoãn phiên tòa số: 21/2025/QĐST-HNGĐ ngày 13/6/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Hồng T, sinh năm 1983.
Địa chỉ: Ấp A, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
- Bị đơn: Anh Đặng Thanh B, sinh năm 1980.
Địa chỉ: Ấp K, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
(Chị T có mặt, anh B vắng mặt không lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Hồng T trình bày:
Chị T và anh Đặng Thanh B, thông qua mai mối rồi tự tìm hiểu nhau, được sự cho phép của cha, mẹ hai bên tổ chức đám cưới về sống chung vào năm 1999, có đăng ký kết tại UBND xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp vào ngày 03/10/2002, Trong thời gian đầu sống chung hạnh phúc, sau đó đến tháng 12/2022 thì phát sinh mâu thuẩn, do bất đồng quan điểm sống, anh B nhiều lần nói với chị là không còn tình cảm với chị sống với chị vì con, mỗi lần cự cải nhau thì anh B lại dùng lời lẽ thô tục chửi bới chị và đuổi chị ra khỏi nhà nên đến đầu tháng 01/2023 chị T đã bỏ về nhà cha mẹ ruột sống và ly thân với anh B từ đó cho đến nay, trong thời gian ly thân không hàn gắn lại tình cảm. Nay nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, hôn nhân không thể tiếp tục kéo dài.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Hồng T yêu cầu được ly hôn với anh Đặng Thanh B.
Về con chung và nghĩa vụ cấp dưỡng: Trong thời gian chung sống, chị T và anh B có 03 người con chung cháu Đặng Nguyễn Hải Y, sinh năm 2000, cháu Đặng Khôi N, sinh ngày 03/5/2009, cháu Đặng Thanh T1, sinh ngày 19/01/2021. Hiện nay Đặng Nguyễn Hải Y đã trưởng thành không yêu cầu Tòa án giải quyết. Khi ly hôn chị T yêu cầu được nuôi cháu Đặng Thanh T1, không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con và chị T đồng ý để anh B tiếp tục nuôi cháu Đặng Khôi N, chị T không cấp dưỡng nuôi con.
Tại phiên tòa, chị T thay đổi yêu cầu đối với Đặng Khôi N, Đặng Thanh T1 (hiện nay đang sống chung với anh B), chị T đồng ý để anh B tiếp tục nuôi cháu Đặng Khôi N và Đặng Thanh T1 chị T không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Đặng Thanh B Trình bày ý kiến: Không có.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông phát biểu:
Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định, đối với bị đơn chưa thực hiện đúng theo khoản 2 Điều 24, Điều 70, Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về ý kiến giải quyết vụ án áp dụng Điều 9, 56, 81, 82 83 đề nghị Hội đồng xét xử:
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Hồng T đối với anh Đặng Thanh B.
Về con chung và nghĩa vụ cấp dưỡng: Giao cháu Đặng Khôi N, Đặng Thanh T1 cho anh Đặng Thanh B tiếp tục nuôi dưỡng, chị Nguyễn Hồng T không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt tất cả văn bản tố tụng hợp lệ cho anh Đặng Thanh B nhưng vẫn cố tình vắng mặt phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh B là phù hợp theo quy định tại các Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn chị Nguyễn Hồng T khởi kiện yêu cầu ly hôn, yêu cầu được nuôi con chung với anh Đặng Thanh B nên xác định quan hệ tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” được quy định tại Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Bị đơn anh Đặng Thanh B có địa chỉ thường trú tại: Ấp K, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp nên Tòa án nhân dân huyện Tam Nông thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền giải quyết được quy định tại các Điều 35, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị T và anh B được xây dựng trên cơ sở tự nguyện, không bị cưỡng ép hoặc lừa dối; anh chị có đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Tại phiên tòa hôm nay chị T cương quyết yêu cầu ly hôn với anh B, nhưng anh B không có văn bản trình bày ý kiến gửi cho Tòa án xem xét.
Xét thấy việc chị T và anh B ly thân từ tháng 1/2023 đến nay mà không có hàn gắn tình cảm lại được; nguyên nhân do anh B nhiều lần nói với chị là không còn tình cảm với chị sống với chị vì con, mỗi lần cự cải nhau thì anh B lại dùng lời lẽ thô tục chửi bới chị và đuổi chị ra khỏi nhà, dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng phát sinh gay gắt, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Tại phiên tòa hôm nay, chị T xác định không còn tình cảm gì với anh B, nên yêu cầu ly hôn của chị T đối với anh B là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Vì vậy căn cứ vào nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Hồng T đối với anh Đặng Thanh B.
[4] Về nuôi con chung và nghĩa vụ cấp dưỡng: Trong quá trình sống chung chị T và anh B có 03 người con chung tên Đặng Nguyễn Hải Y, sinh năm 2000, Đặng Khôi N, sinh ngày 03/5/2009, Đặng Thanh T1, sinh ngày 19/01/2021. Hiện nay Đặng Nguyễn Hải Y đã trưởng thành không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với Đặng Khôi N, Đặng Thanh T1 (hiện nay đang sống chung với anh B), khi ly hôn chị T đồng ý để anh B tiếp tục nuôi cháu Đặng Khôi N, Đặng Thanh T1, chị T không cấp dưỡng nuôi con. Đối với anh B, trong quá trình giải quyết không có ý kiến nên không xem xét. Xét đây là sự tự nguyện của chị T và nguyện vọng của cháu Đặng Thanh T1 phù hợp tại Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về nợ chung: Không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[8] Đối với bị đơn anh Đặng Thanh B Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ cho anh B các thủ tục về tố tụng như: Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo mở phiên họp và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa; tuy nhiên, anh B vẫn cố tình không đến tham gia tố tụng và không trình bày ý kiến gửi cho Tòa án nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[9] Về án phí dân sự sơ thẩm: Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Nguyễn Hồng T là nguyên đơn khởi kiện thì phải chịu án phí về hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Bị đơn anh Đặng Thanh B không phải chịu án phí sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 147, Điều 271, Điều 272, Điều 273 và Điều 483 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 9, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Hồng T đối với anh Đặng Thanh B.
- Về nuôi con chung và nghĩa vụ cấp dưỡng: Giao cháu Đặng Khôi N, Đặng Thanh T1 cho anh Đặng Thanh B tiếp tục nuôi dưỡng, chị Nguyễn Hồng T không cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Chị Nguyễn Hồng T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào số tiền nộp tạm ứng án phí 300.000₫ theo biên lai thu số 0007199, ký hiệu BLTU/2024 ngày 18 tháng 4 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp.
- Anh Đặng Thanh B không phải chịu tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hoàng Giang |
Bản án số 38/2025/HNGĐ-ST ngày 30/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH ĐỒNG THÁP về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 38/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hồng Thủy kiện Đặng Thanh Bình
