|
TOÀ ÁN ND Q.SƠN TRÀ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG Bản án số: 38/2025/DSST-ST Ngày 16.6.2025 V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ, TP ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thanh Thủy.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Đời và ông Nguyễn Kim Thành
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Thanh Hà - Thư ký Toà án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, TP Đà Nẵng tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Thùy Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Sơn Trà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 71/2025/TLST-DS ngày 27 tháng 3 năm 2025, về việc: “Kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2025/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 5 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 72/2025/QÐST-DS ngày 29 tháng 5 năm 2025 giữa:
*Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP V (V1); Địa chỉ trụ sở: số H L, phường L, quận Đ, Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D: Chủ tịch Hội đồng quản trị V2;
Người được uỷ quyền của ông Ngô Chí D là ông Phạm Tuấn A, Phó giám đốc Trung tâm thu hồi nợ (theo Văn bản ủy quyền số 38a/2024/UQN-CTQT ngày 01.6.2024)
Ông Phạm Tuấn A ủy quyền cho ông Phạm P; ông Nguyễn Mạnh S; ông Lê Đăng H; ông Nguyễn Bá T; ông Trần Minh T1; bà Đặng Thị Thu L (theo Văn bản ủy quyền số 203/2025/UQN-CTQT ngày 01.3.2025), bà L có mặt
Người kế thừa một phần quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn: Công ty Cổ phần M1. Địa chỉ trụ sở chính: Tầng A Tòa nhà C, B phố T, phường Y, quận C, Thành phố Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: ông Hoàng Anh T2, chức vụ: Tổng giám đốc. Ông Hoàng Anh T2 ủy quyền cho ông Phan Huy M, chức vụ: Giám đốc Trung tâm xử lý nợ (Theo Văn bản ủy quyền số 10/2024/UQ-TGĐ ngày 05/12/2024). Ông Phan Huy M ủy quyền lại cho ông Nguyễn Mạnh C (Theo Văn bản ủy quyền số 125905/2025/UQ-XLN-Jupiter ngày 12/5/2025). Địa chỉ liên hệ: Tầng E, A P, quận H, thành phố Đà Nẵng. Ông C có mặt.
* Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Mỹ P1; sinh năm 1987. Nơi cư trú: tổ H, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng.Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền cảu nguyên đơn ông Lương Văn C1 trình bày:
Bà Nguyễn Thị Mỹ P1 ký hợp đồng tín dụng với Ngân hàng TMCP V (V2). theo hợp đồng tín dụng số LN2202215234204 ngày 03/03/2022 cụ thể như sau: Số tiền vay: 365.000.000 đồng;Thời hạn vay: 96 tháng;Mục đích vay: Mua xe. Tài sản bảo đảm cho khoản vay nêu trên là: Chiếc xe ô tô con 5 chỗ ngồi, nhãn hiệu: MITSUBISHI, số loại: ATTRAGE GLS, số máy: 3A92UKM7149, số khung: MMBSTA13ANH007835, màu đỏ, biển số đăng ký 43A- 661.02; theo bản chính “Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 43016487, do Phòng C2 - Công an Thành phố Đ cấp ngày 25/02/2022"; tên chủ xe là bà Nguyễn Thị Mỹ P1.
Quá trình thực hiện, bà Nguyễn Thị Mỹ P1 đã thanh toán cho V2 số tiền nợ gốc là 38.004.922 đồng; Nợ lãi: 27.460.410 đồng,Tổng cộng: 65.465.332 đồng (Sáu mươi lăm triệu, bốn trăm sáu mươi lăm ngàn ba trăm ba mươi hai đồng).
Ngày 28/03/2025, Công ty Cổ Phần M1 đã mua lại 95% khoản nợ của bà Nguyễn Thị Mỹ P1 tại Ngân hàng TMCP V (V2) và kế thừa một phần quyền, nghĩa vụ của Ngân hàng TMCP V (V2) theo Hợp đồng tín dụng. Hợp đồng thế chấp và các chứng từ khác ký giữa V2 với bà Nguyễn Thị Mỹ P1. Trong đó, có quyền thực hiện khởi kiện khách hàng vay, bên có nghĩa vụ trả nợ, bên bảo đảm tại Tòa án theo quy định pháp luật. Giá trị của (các) khoản nợ được mua bán bao gồm toàn bộ nợ gốc, nợ lãi, lãi phạt và các nghĩa vụ tài chính khác (nếu có) phát sinh theo Hợp đồng tín dụng nêu trên và các văn kiện tín dụng liên quan giữa bà Nguyễn Thị Mỹ P1 với V2.
Công ty cổ phần M1 và Ngân hàng TMCP V (V2) yêu cầu:
- Buộc bà Nguyễn Thị Mỹ P1 phải thanh toán cho Công ty cổ phần M1 và Ngân hàng TMCP V (V2) số tiền tính đến ngày 12/5/2025 là 475.891.569 đồng (Bốn trăm bảy mươi lăm triệu, tám trăm chín mươi mốt ngàn, năm trăm sáu mươi chín đồng).Trong đó, nợ gốc: 326.995.078 đồng; nợ lãi 148.896.491 đồng và tiếp tục thanh toán tiền lãi phát sinh trên số nợ gốc kế từ ngày 13/5/2025 theo Hợp đồng tín dụng đã ký cho đến khi bà P1 thanh toán hết các khoản nợ. Cụ thể:
- +Thanh toán cho Ngân hàng TMCP V (V2) số tiền 23.794.578 đồng, trong đó: nợ gốc là 16.349.754 đồng và lãi 7.444.825 đồng.
- +Thanh toán cho Công ty cổ phần M1 số tiền 452.096.991 đồng, trong đó: nợ gốc là 310.645.324 đồng và lãi 141.451.666 đồng.
- Trường hợp bà P1 không thực hiện nghĩa vụ thanh toán thì Công ty cổ phần M1 và V2 được quyền yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm là: ô tô con 5 chỗ ngồi, nhãn hiệu: MITSUBISHI, số loại: ATTRAGE GLS, số máy: 3A92UKM7149, số khung:
MMBSTA13ANH007835, màu đỏ, biển số đăng ký 43A-661.02; theo bản chính “Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 43016487, do Phòng C2 – Công an Thành phố Đ cấp ngày 25/02/2022"; tên chủ xe là bà Nguyễn Thị Mỹ P1. Nếu số tiền thu được từ bán xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì bà P1 có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho Công ty cổ phần M1 và V1.
* Bị đơn bà Nguyễn Thị Mỹ P1 đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng không đến nên không có lời khai của bà Nguyễn Thị Mỹ P1 trong hồ sơ vụ án và không có ý kiến phản hồi gì liên quan đến chứng cứ do nguyên đơn cung cấp cũng như ý kiến về việc có hay không yêu cầu phản tố.
* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà:
- - Về thủ tục tố tụng: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Theo đó, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử tuân thủ đúng pháp luật từ thụ lý cho đến phiên toà xét xử. Nguyên đơn chấp hành nghiêm pháp luật tố tụng. Riêng bị đơn không thực hiện các quyền và nghĩa vụ về tố tụng của mình nên phải chịu hậu quả pháp lý về việc không tuân thủ quy định pháp luật tố tụng dân sự.
- -Về nội dung vụ án: căn cứ Khoản 2 Điều 91 Luật Tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 7, Điều 8, Điều 12 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm và án lệ số 08/2016/AL ngày 17/10/2016;
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc: "Tranh chấp hợp đồng tín dụng” của Công ty cổ phần M1 và V1 đối với bà Nguyễn Thị Mỹ P1.
- Đề nghị: Buộc bà Nguyễn Thị Mỹ P1 phải trả cho Công ty cổ phần M1 (95%)và V1 (5%) số tiền tính đến ngày 12.5.2025 là 475.891.569 đồng. Trong đó nợ gốc là: 326.995.078 đồng và nợ lãi là: 148.896.491 đồng và tiếp tục trả lãi phát sinh kể từ ngày 13.5.2025 cho đến khi trả hết nợ theo mức lãi suất (trong hạn, quá hạn) do các bên đã thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng số LN2202215234204 ngày 03/3/2022 trên số nợ gốc cho đến khi trả hết khoản nợ.
- - Xử lý tài sản thế chấp: Trường hợp bà Nguyễn Thị Mỹ P1 không trả được nợ thì tài sản thế chấp là chiếc xe ô tô mang nhãn hiệu KIA, biển kiểm soát: 43A -661.02, có giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 43016487 do phòng C2 công an T cấp ngày 25/02/2022 đứng tên bà Nguyễn Thị Mỹ P1 được xử lý theo Điều 299 và 303 Bộ luật dân sự để thu hồi nợ.
- - Trường hợp bà Nguyễn Thị Mỹ P1 hoàn tất xong khoản nợ thì phía nguyên đơn phải hoàn trả lại cho bà P1 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 43016487 do phòng C2 công an T cấp ngày 25/02/2022 tại Công an thành phố Đ đứng tên bà Nguyễn Thị Mỹ P1 theo quy định tại Điều 322 Bộ luật dân sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, sau khi đại diện VKS phát biểu quan điểm, Hội đồng xét xử nhận định:
- [1].Về thủ tục tố tụng: Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng TMCP V với bà Nguyễn Thị Mỹ P1 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- [2]. Về nội dung vụ án: Bà Nguyễn Thị Mỹ P1 có vay vốn tại Ngân hàng TMCP V theo hợp đồng cho vay và hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN2202215234204 ngày 03/3/2022 với số tiền 365.000.000 đồng (Ba trăm sáu mươi lăm triệu đồng). Thời hạn vay: 96 tháng. Lãi suất: 9%/năm, lãi suất quá hạn là 150%. Lãi suất thay đổi định kỳ 01 tháng/lần theo quy định của Ngân hàng; Mục đích vay: Thanh toán tiền mua ô tô.
Ngân hàng đã giải ngân toàn bộ số tiền trên cho bà P1 theo Giấy đề nghị giải ngân ngày 03/3/2022 theo đúng theo thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay đã ký kết.
Tài sản đảm bảo cho khoản nợ vay trên là xe ô tô mang nhãn hiệu Mitsubishi, biển kiểm soát: 43A-661.02, có giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 43016487 do phòng C2 công an T cấp ngày 25/02/2022 đứng tên bà Nguyễn Thị Mỹ P1. Tài sản đã được thế chấp theo hợp đồng cho vay kiếm hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN2202215234204 ngày 03/3/2022 đã được đăng ký giao dịch bảo đảm vào ngày 03/3/2022.
Trong quá trình trả nợ vay, bà P1 đã thanh toán số tiền là 65.465.332 đồng. Tính đến ngày 24/4/2025 bà P1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ không thanh toán nợ cho Ngân hàng. Ngân hàng đã nhiều lần làm việc, gửi thông báo về việc thu hồi nợ nhưng bà P1 không thanh toán nợ như đã cam kết làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của Ngân hàng.
Ngày 28/3/2025 khoản vay của bà Nguyễn Thị Mỹ P1 đã được Ngân hàng chuyển một phần nợ là 95% cho Công ty Cổ Phần M1.
- [3]. Hội đồng xét xử xét thấy: Hợp đồng tín dụng số LN2202215234204 ngày 03/3/2022 được ký kết giữa Ngân hàng TMCP V3 với bà Nguyễn Thị Mỹ P1 trên cơ sở tự nguyện, không trái pháp luật, đạo đức xã hội, tuân thủ các quy định của pháp luật về nội dung và hình thức nên được thừa nhận và bảo vệ. Các bên tham gia trong giao dịch này có mọi quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng đã ký kết nói trên.
- [4]. Quá trình thực hiện hợp đồng, bà Nguyễn Thị Mỹ P1 đã không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả lãi và gốc, vi phạm định kỳ trả nợ. Ngân hàng đã nhiều lần làm việc để yêu cầu bà P1 thanh toán nợ nhưng đến nay bà P1 vẫn chưa thanh toán được nợ cho Ngân hàng. HĐXX xét thấy bà P1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, là bên có lỗi trong việc thực hiện các thỏa thuận đã ký kết trong Hợp đồng tín dụng. Việc khởi kiện của Ngân hàng yêu cầu Tòa án buộc bà P1 phải thanh toán số tiền còn nợ tính đến ngày 12/5/2025 là 475.891.569 đồng (Bốn trăm bảy mươi lăm triệu, tám trăm chín mươi mốt ngàn, năm trăm sáu mươi chín đồng) và tiếp tục phải trả lãi phát sinh theo Hợp đồng cho vay đã ký kết trên số tiền nợ gốc còn lại kể từ ngày 13.5.2025 cho đến khi tất toán khoản vay là phù hợp.
- [5] Xét thấy về chủ thể ký kết hợp đồng: Ngày 28/3/2025, Công ty Cổ Phần M1 và Ngân hàng TMCP V (V1) ký kết Hợp đồng mua bán nợ số: 09/2025/VPB-JUPITER, Phụ
lục số 01 Hợp đồng mua bán nợ số: 09/2025/VPB-JUPITER và Biên bản xác nhận khoản nợ đã được mua bán, có nội dung: Xác nhận khoản nợ đã được mua bán của khách hàng Nguyễn Thị Mỹ P1 đối với Ngân hàng TMCP V phát sinh từ Hợp đồng tín dụng số: LN2202215234204 ngày 03/3/2022 đã được chuyển giao cho Công ty Cổ Phần M1 theo Hợp đồng mua bán nợ số: 09/2025/VPB-JUPITER và phụ lục số 01.
Việc mua bán nợ được thực hiện theo quy định của pháp luật hiện hành mà cụ thể là Thông tư số: 09/2015/TT-NHNN17/7/2015 của Thống đốc Ngân hàng N quy định về hoạt động mua, bán nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài và Thông tư số: 18/2022/TT-NHNN26/12/2022 của Thống đốc Ngân hàng N sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số: 09/2015/TT-NHNN ngày 17/7/2015 của Thống đốc Ngân hàng N quy định về hoạt động mua, bán nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài.
Tại khoản 3 Điều 3 Thông tư số: 09/2015/TT-NHNN ngày 17/7/2015 quy định: “Bên bán nợ là tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài có khoản nợ được bán theo quy định tại khoản 2 Điều này”.
Tại khoản 2 Điều 1 Thông tư số: 18/2022/TT-NHNN ngày 26/12/2022 quy định: “4. Bên mua nợ là tổ chức, cá nhân, bao gồm: a) Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng N1 được Ngân hàng N (sau đây là Ngân hàng N) chấp thuận hoạt động mua nợ; b) Tổ chức khác, cá nhân (bao gồm cả tổ chức, cá nhân là người cư trú và người không cư trú)".
Tại khoản 9 Điều 1 Thông tư số: 18/2022/TT-NHNN ngày 26/12/2022 quy định: “1. Bên mua nợ trở thành người thế quyền, nghĩa vụ liên quan đến khoản nợ được mua, bán của bên bán nợ kể từ thời điểm bên mua nợ nhận chuyển giao quyền sở hữu khoản nợ từ bên bán nợ theo thỏa thuận tại hợp đồng mua, bán nợ”.
Xét thấy về chủ thể mua bán nợ theo Hợp đồng mua bán nợ số: 09/2025/VPB-JUPITER và phụ lục số 01 giữa Công ty Cổ Phần M1 và Ngân hàng TMCP V (V1) là hợp pháp đúng quy định tại Điều 13 Thông tư số: 09/2015/TT-NHNN ngày 17/7/2015 quy định về Hợp đồng mua, bán nợ. Do đó, Công ty Cổ Phần M1 và V2 có quyền khởi kiện yêu cầu bị đơn bà Nguyễn Thị Mỹ P1 thực hiện nghĩa vụ trả nợ số tiền vốn vay và lãi còn nợ đến ngày 12/5/2025 là 475.891.569 đồng (Bốn trăm bảy mươi lăm triệu, tám trăm chín mươi mốt ngàn, năm trăm sáu mươi chín đồng). Trong đó, nợ gốc: 326.995.078 đồng; nợ lãi 148.896.491 đồng và tiếp tục thanh toán tiền lãi phát sinh trên số nợ gốc kể từ ngày 13/5/2025 theo Hợp đồng tín dụng đã ký cho đến khi bà P1 thanh toán hết các khoản nợ cho Công ty cổ phần M1 và V1 cho đến khi tất toán khoản vay là phù hợp với Điều 463 và 466 của BLDS; khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 7, Điều 8, Điều 12 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm và án lệ số 08/2016/AL ngày 17/10/2016 nên được chấp nhận.
[6] Đối với xử lý tài sản thế chấp để đảm bảo khoản vay là chiếc xe ô tô nhãn hiệu MITSUBISHI, số loại: ATTRAGE GLS, số máy: 3A92UKM7149, số khung: MMBSTA13ANH007835, màu đỏ, biển số đăng ký 43A-661.02; được cấp Giấy chứng
nhận đăng ký xe ô tô số 43016487, do Phòng C2 - Công an Thành phố Đ cấp ngày 25/02/2022 tên chủ xe là bà Nguyễn Thị Mỹ P1
Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy việc thế chấp tài sản đã được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật về nội dung và hình thức, có tiến hành đăng ký giao dịch bảo đảm tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại thành phố Đà Nẵng nên trong trường hợp bà Nguyễn Thị Mỹ P1 không thanh toán nợ thì cần phải xử lý tài sản thế chấp nêu trên để thu hồi nợ cho Công ty Cổ Phần M1 và V1 là phù hợp với Điều 299 và 303 Bộ luật dân sự.
Trường hợp bà Nguyễn Thị Mỹ P1 hoàn tất xong khoản nợ thì phía Công ty Cổ Phần M1 và V1 phải hoàn trả lại cho bà Nguyễn Thị Mỹ P1: 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 43016487, do Phòng C2, Công an Thành phố Đ cấp ngày 25/02/2022 đứng tên bà Nguyễn Thị Mỹ P1 theo quy định tại Điều 322 Bộ luật dân sự.
[7] Các đề nghị của đại diện viện kiểm sát về nội dung vụ án tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với nhận định của HĐXX nên chấp nhận.
[8] Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: bà P1 phải hoàn lại số tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ 2.000.000 đồng cho Công ty Cổ Phần M1 và V2 là đúng với quy định tại Điều 157 và Điều 158 Bộ luật tố tụng dân sự.
[9] Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Án phí DSST: Bà Nguyễn Thị Mỹ P1 phải chịu là: 23.035.663 đồng (hai mươi ba triệu, không trăm ba mươi lăm ngàn, sáu trăm sáu mươi ba đồng).
Hoàn trả cho Công ty Cổ Phần M1 và V2 số tiền đã nộp tạm ứng án phí.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản; Điều 157, Điều 158 của Bộ luật tố tụng dân sự; Án lệ số 08/2016/AL ngày 17/10/2016; Điều 463; Điều 466 và Điều 299 của Bộ luật dân sự; khoản 2 Điều 91 Luật Tổ chức tín dụng năm 2010; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc: "Kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng” của Công ty Cổ Phần M1 và Ngân hàng TMCP V (V1) đối với bà Nguyễn Thị Mỹ P1.
Tuyên xử:
- Buộc bà Nguyễn Thị Mỹ P1 phải trả cho Công ty Cổ Phần M1 và Ngân hàng TMCP V (V1); số tiền tính đến ngày 12/5/2025 là 475.891.569 đồng (Bốn trăm bảy mươi lăm triệu, tám trăm chín mươi mốt ngàn, năm trăm sáu mươi chín đồng). Trong đó, nợ gốc: 326.995.078 đồng; nợ lãi 148.896.491 đồng và tiếp tục trả lãi phát sinh kể từ ngày 13/5/2025 cho đến khi trả hết nợ theo mức lãi suất do các bên đã thỏa thuận tạiHợp
đồng tín dụng số LN2202215234204 đã ký ngày 03/03/2022 trên số nợ gốc cho đến khi trả hết khoản nợ. Cụ thể:
- +Thanh toán cho Ngân hàng TMCP V số tiền nợ của (5%) là 23.794.578 đồng, trong đó: nợ gốc là 16.349.754 đồng và lãi là 7.444.825 đồng.
- +Thanh toán cho Công ty cổ phần M1 số tiền nợ của (95%)là 452.096.991 đồng, trong đó: nợ gốc là 310.645.324 đồng và lãi là 141.451.666 đồng.
- Xử lý tài sản thế chấp: Trường hợp bà Nguyễn Thị Mỹ P1 không trả được nợ thì tài sản thế chấp là chiếc xe ô tô 05 chỗ mang nhãn hiệu MITSUBISHI màu đỏ, số loại: ATTRAGE GLS, số máy: 3A92UKM7149, số khung: MMBSTA13ANH007835, biển số đăng ký 43A- 661.02 biển kiểm soát: 43A 520.93, có giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 43016487 do phòng C2 Công an T cấp ngày 25/02/2022 đứng tên bà Nguyễn Thị Mỹ P1 được xử lý theo Điều 299 và 303 Bộ luật dân sự để thu hồi nợ.
Trường hợp bà Nguyễn Thị Mỹ P1 hoàn tất xong khoản nợ thì phía Công ty Cổ Phần M1 và Ngân hàng TMCP V (V1) phải hoàn trả lại cho bà P1 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 43016487 cấp ngày 25/02/2022 tại Công an thành phố Đ đứng tên bà Nguyễn Thị Mỹ P1 theo quy định tại Điều 322 Bộ luật dân sự.
- Án phí DS- ST: 23.035.663 đồng (hai mươi ba triệu, không trăm ba mươi lăm ngàn, sáu trăm sáu mươi ba đồng) bà Nguyễn Thị Mỹ P1 phải chịu.
Hoàn trả cho Công ty Cổ Phần M1 và Ngân hàng TMCP V số tiền 11.081.147 đồng (Mười một triệu, không trăm tám mươi mốt ngàn, một trăm bốn mươi bảy lăm đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0007868 ngày 26/3/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.
- Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: bà P1 phải hoàn lại số tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ 2.000.000 đồng cho Công ty Cổ Phần M1 và Ngân hàng TMCP V (V1).
- Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Riêng những người vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Phạm Thanh Thủy |
Bản án số 38/2025/DSST-ST ngày 16/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 38/2025/DSST-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng kiện tranh chấp Hợp đồng tín dụng với bà Nguyễn Thị My P
