Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂY SƠN

TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 38/2025/HS-ST

Ngày: 26 - 5 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY SƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Phương Thảo

Các hội thẩm nhân dân: Bà Đào Thị Thanh Phương

Bà Nguyễn Thị Tuyết Dung

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Xuân Thu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Ông Trần Bình Phương – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 30/2025/TLST-HS ngày 07 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2025/QĐXXST-HS ngày 09/5/2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn T, sinh ngày 02/5/1989 tại huyện S, tỉnh Tuyên Quang; nơi cư trú: K, thị trấn P, huyện T, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: phụ xe; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không, quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1965 và bà Chu Thị H, sinh năm 1968; vợ: Tạ Thị L, sinh năm 1989, con: có 02 người, sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: chưa. Nhân thân: Ngày 29/10/2010, bị TAND huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xử phạt 01 năm tù về tội trộm cắp tài sản, đã chấp hành xong. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

Nguyễn Tự N, sinh năm 1959 (có mặt)

Trú tại: K, thị trấn P, huyện T, tỉnh Bình Định.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Lê Thị N1, sinh năm 1959 (có đơn vắng mặt).

Trú tại: K, thị trấn P, huyện T, tỉnh Bình Định.

- Người làm chứng:

  • + Tạ Thị L, sinh năm 1989 (vắng mặt);

    Trú tại: K, thị trấn P, huyện T, tỉnh Bình Định.

  • + Nguyễn Thị C, sinh năm 1948 (vắng mặt);

    Trú tại: K, thị trấn P, huyện T, tỉnh Bình Định.

  • + Dương Thị Mỹ P1, sinh năm 1951 (có đơn vắng mặt);

    Trú tại: K, thị trấn P, huyện T, tỉnh Bình Định.

1

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Chiều ngày 28/6/2024, Nguyễn Văn T - sinh năm 1989, ở K, thị trấn P, huyện T, tỉnh Bình Định khi đang phụ xe ô tô tải đi từ Gia Lai vào thành phố Hồ Chí Minh. Khi đến địa bàn huyện T, T nảy sinh ý định đến Cơ sở sản xuất và chế biến thực phẩm của ông Nguyễn Tự N - sinh năm 1959 tại thôn P, xã T, huyện T, tỉnh Bình Định để trộm cắp tài sản. Khoảng 19 giờ 40 phút cùng ngày, khi xe tải đi đến trước Cửa hàng X thuộc thôn P, xã T thì T xuống xe đi bộ đến Cơ sở của ông N. T đeo bao tay, đeo hai khẩu trang (một cái che phần mặt, một cái che phần trán), bỏ dép ở ngoài để tránh phát ra tiếng động rồi đi bộ vào trong sân Cơ sở. Thấy cửa bên hông nhà không khóa nên T mở cửa đi vào trong nhà, lén lút lấy 01 cái mũ tai bèo màu đen và 01 cái võng dù đi ra ngoài sân rồi giấu tại chân hàng rào lưới B40 trước sân. Sau đó, T quay lại vào trong nhà, núp sau vách ngăn của phòng khách, chờ cơ hội để trộm cắp tài sản.

Khoảng hơn 23 giờ 30 phút cùng ngày, ông N đi xe mô tô đến Cơ sở, vào phòng ngủ bên cạnh phòng khách, cởi quần dài bằng vải đang mặc treo lên tường rồi lên giường nằm ngủ. T chờ đến khoảng 01 giờ 30 phút ngày hôm sau, ông N đã ngủ say nên T lén lút đi vào trong phòng ngủ, quan sát xung quanh thì thấy trên móc treo đồ gắn trên tường phòng ngủ có treo 01 quần dài bằng vải của ông N. T lục các túi quần tìm tài sản, phát hiện trong túi quần có 01 xấp tiền nên lấy cất vào túi quần trước bên phải của mình rồi đi ra phòng khách. T mở cửa trước phòng khách đi ra ngoài, đi bộ đến chân hàng rào lấy mũ, võng đã cất giấu trước đó rồi đi đến đám keo bên cạnh Cơ sở, lấy võng treo lên và nằm ngủ. Đến khoảng 06 giờ sáng cùng ngày, T thức dậy, lấy xấp tiền đã trộm của ông N ra đếm được tổng cộng khoảng 3.000.000 đồng gồm có: 04 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, 03 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng, 02 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng và có khoảng 200.000 đồng (gồm các tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng và 20.000 đồng) rồi cất lại trong túi quần đang mặc. T cầm mũ và võng đi bộ ra hướng Quốc lộ A. Khi đi ngang qua bãi rác ở khu đất trống thuộc thôn P, xã T, thấy mũ tai bèo và võng dù đã rách, không có giá trị nên vứt bỏ. Sau đó, T đi ra Quốc lộ A, đón xe khách đi về thành phố Q. Số tiền chiếm đoạt được T đã sử dụng tiêu xài cá nhân hết.

Tại Kết luận định giá tài sản ngày 25/11/2024, Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện T Kết luận tại thời điểm bị chiếm đoạt chiếc võng dù có giá trị 0 đồng.

Về vật chứng của vụ án: Ngày 07/3/2025, Cơ quan điều tra phối hợp với Công an xã T cùng Nguyễn Văn T tiến hành truy tìm vật chứng là võng dù và mũ tai bèo, kết quả không tìm thấy.

Bản cáo trạng số 33/CT-VKSTS ngày 26/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

2

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên. Người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được cải tạo tại địa phương để làm ăn nuôi con.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

  • - Về hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T mức án từ 06 đến 09 tháng cải tạo không giam giữ. Miễn khấu trừ thu nhập vì bị cáo có hoàn cảnh khó khăn.
  • - Về bồi thường thiệt hại: Bị cáo đã bồi thường, khắc phục hậu quả xong cho người bị hại 3.000.000 đồng, người bị hại không yêu cầu gì thêm nên miễn xét.

Bị cáo, người bị hại không có ý kiến tranh luận về quan điểm luận tội cũng như đề nghị giải quyết vụ án của vị đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã biết ăn năn hối hận về hành vi sai trái của mình, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. Về tội danh và Điều luật áp dụng: Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã nêu, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, thể hiện:

    Khoảng 19 giờ 40 phút ngày 28/6/2024, Nguyễn Văn T đã có hành vi lén lút đột nhập vào Cơ sở sản xuất và chế biến thực phẩm của ông Nguyễn Tự N ở tại thôn P, xã T, huyện T, tỉnh Bình Định ngồi chờ cơ hội để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Đến khoảng 01 giờ 30 phút ngày 29/6/2024, ông N đã ngủ say nên T lén lút đi vào trong phòng ngủ, quan sát xung quanh thì thấy trên móc treo đồ gắn trên tường phòng ngủ có treo 01 quần dài bằng vải của ông N nên bị cáo đã đến lục tìm và lấy 01 xấp tiền có giá trị là 3.000.000 (Ba triệu) đồng. Sau đó, bị cáo đã tiêu xài cá nhân hết số tiền này. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn truy tố là có căn cứ.

  3. Xét tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của bị cáo:

3

Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm trực tiếp đến tài sản của người khác một cách trái pháp luật mà còn gây mất trật tự trị an ở địa phương, gây hoang mang cho quần chúng nhân dân trên địa bàn. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, ý thức được việc trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng với tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra.

  1. Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
    • Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu.
    • Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.
    • Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn T có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; bị cáo đã khắc phục xong hậu quả cho người bị hại và được người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

    Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, tài sản bị chiếm đoạt có giá trị không lớn, phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, vợ bỏ đi nên hiện tại bị cáo đang nuôi hai con nhỏ đang độ tuổi ăn học (có xác nhận của chính quyền địa phương). Do đó, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng cho bị cáo hình phạt cải tạo không giam giữ để bị cáo có điều kiện làm ăn, nuôi dưỡng các con cũng đủ tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

    Bị cáo được miễn khấu trừ thu nhập vì hoàn cảnh gia đình khó khăn.

  2. Về bồi thường thiệt hại: Bị cáo đã trả lại xong cho người bị hại số tiền 3.000.000 (Ba triệu) đồng; Các bên đương sự không có yêu cầu gì thêm nên không giải quyết.
  3. Về án phí: Căn cứ theo quy định tại Điều 135, 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa, bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.
  4. Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn luận tội và đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ Điều 135; Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 09 (Chín) tháng cải tạo không giam giữ. Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an tỉnh B nhận được quyết định thi hành án.

Giao bị cáo Nguyễn Văn T cho Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện T, tỉnh Bình Định giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.

Bị cáo được miễn khấu trừ thu nhập.

3. Về bồi thường thiệt hại: Người bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì nên không xem xét.

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án theo quy định.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành aùn daân söï.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Định;
  • - VKSND tỉnh Bình Định;
  • - VKSND huyện Tây Sơn;
  • - Phòng HSNV (PV06) CA tỉnh Bình Định;
  • - Cơ quan THAHS CA tỉnh Bình Định;
  • - Chi cục THADS huyện Tây Sơn;
  • - Bị cáo; bị hại;
  • - Đương sự vụ án;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Phương Thảo

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 38/2025/HS-ST ngày 26/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY SƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 38/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY SƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NGUYỄN VĂN TUẤN - PHẠM TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger