TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG Bản án số: 38/2025/HSST Ngày 16/4/2025 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phùng Văn Nhớ
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Hữu Đức
- Ông Nguyễn Văn Trình
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Thoảng - Thư ký Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Phương Đông, ông Huỳnh Thanh H, chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 4 năm 2025, tại Hội trường UBND quận C; địa chỉ; số D Ông Í, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng; Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ đưa ra xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 22/2025/HSST ngày 13 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2025/QĐXXST ngày 13 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
TRẦN VĂN Q; (tên gọi khác: Bác H2) sinh ngày 30 tháng 8 năm 1959, tại Hà Nội; CCCD số: [...] ngày 18/12/2021 Do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về Trật tự xã hội cấp. Quê quán: thôn D, xã H, huyện H, TP Đà Nẵng. Nơi ĐKTT: Số B, ngõ A đường L, tập thể X, Tổ dân phố A, phường L, quận H, thành phố Hà Nội. Nơi cư trú: Số B, ngõ A đường L, tập thể X, Tổ dân phố A, phường L, quận H, thành phố Hà Nội. Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: Tổ viên tổ an ninh cơ sở phường L, quận H, thành phố Hà Nội; con ông : Trần Văn Đ (đã chết) và bà Đặng Thị Hồng K (đã chết). Gia đình có 04 người con, bị cáo là con đầu; vợ là Nguyễn Thị D(sinh năm: 1969). Bị cáo có hai con, con lớn sinh năm: 2007, con nhỏ sinh năm: 2017. Tiền án tiền sự: chưa.
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 18/9/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Phân Trại tạm giam khu vực I – Trại tạm giam công an thành phố Đ.(có mặt)
II. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Bà Đinh Phương T, sinh năm: 1964, trú tại: Số B, ngõ A đường L, tập thể X, Tổ dân phố A, phường L, quận H, thành phố Hà Nội.(vắng mặt)
- + Bà Phan Thị Á, sinh năm: 1991, trú tại: số E Q, phường P, quận H, TP Hà Nội.(vắng mặt)
- + Hộ Huỳnh T1, sinh năm: 1967, Trần Thị T2 (vợ) trú: Số C D, phường H, quận C, TP Đà Nẵng.(vắng mặt)
- + Hộ Cao Thị K1 - Bà Trần Thị T2 (con), trú tại: Tổ C, phường H, quận C, TP Đà Nẵng.(vắng mặt)
- + Hộ Trần Thị L (chết) - Huỳnh Thị X (con), trú tại: Số B H, phường H, quận C, TP Đà Nẵng.(vắng mặt)
- + Hộ Trần Thị L1, trú tại: Tổ H, phường H, quận C, TP Đà Nẵng. (vắng mặt)
- + Hộ Phạm Thị T3 - Phùng Mênh (chồng); trú tại: Tổ A, phường H, quận N, TP Đà Nẵng.(bà T3, ông M có mặt)
- + Hộ Trần Văn D1 (cháu) – Nguyễn Thị T4, trú tại: Tổ C cũ, T, phường H, quận C, TP Đà Nẵng (ông D1 có đơn xin xét xử vắng mặt)
- + Hộ Trần Thị T5 - L (con), trú tại: Số A V, phường H, quận C, TP Đà Nẵng.(vắng mặt)
- + Hộ Huỳnh Thị Kim Y, trú tại: Số D L, phường H, quận C, TP Đà Nẵng.(vắng mặt)
- + Hộ Tống Thị Ngọc L2, trú tại: Số B T, phường H, quận C, TP Đà Nẵng.(vắng mặt)
- + Hộ Huỳnh Thị X-T (chồng), trú tại: Số B H, phường H, quận C, TP Đà Nẵng.(vắng mặt)
- + Hộ Trần T6 - Trần Văn D1 (con), trú tại: Tổ C cũ, T, phường H, quận C,TP Đà Nẵng. (ông D1 có đơn xin xét xử vắng mặt)
- + Hộ Thái Thị T7 - Võ Thức (chồng); trú tại: C C, phường H, quận N,TP Đà Nẵng.(vắng mặt)
- + Hộ Võ Thanh T8 - Thái Thị T7 (bác); trú tại: Tổ F, phường H, quận N,TP Đà Nẵng.(vắng mặt)
- + Hộ Thái Thị H1, trú tại: Tổ A, phường H, quận N,TP Đà Nẵng. (vắng mặt)
- + Hộ Huỳnh Thị B - N (chồng), trú tại: Tổ E, phường H, quận N, TP Đà Nẵng.(vắng mặt)
- + Hộ Phạm Xuân Q1 - Trần Thị L3 (vợ), trú tại: Số E C, phường H, quận C, TP Đà Nẵng(vắng mặt)
- + Hộ Nguyễn Thị T9 - Phạm Xuân Q1 (con rể), trú tại: Số E C, phường H, quận C,TP Đà Nẵng(vắng mặt)
- + Hộ Nguyễn Thị T10, trú tại: Tổ F, phường H, quận N, TP Đà Nẵng.(vắng mặt)
- + Hộ Phạm D2 - Phạm Thị C (con); trú tại: Số G V, phường H, quận C, TP Đà Nẵng.(bà C có mặt)
- + Hộ Phạm Đ1 - Phạm Thị C (em); trú tại: Số G V, phường H, quận C, TP Đà Nẵng.(vắng mặt)
- + Hộ Cao Thị T11 C (chị)), trú tại: Tổ C, phường H, quận C, TP Đà Nẵng(vắng mặt).
- + Hộ Nguyễn Thị T12 - T (chồng), trú tại: Tổ C, phường H, quận N, TP Đà Nẵng(vắng mặt)
- + Hộ Đặng N - Đặng Đức M1 (con), trú tại: Tổ C, phường H, quận N, TP Đà Nẵng (ông M1 có mặt)
- + Hộ Mai Thị Q2 - Đặng Đức M1 (con), trú tại: Tổ C, phường H, quận N,TP Đà Nẵng (ông M1 có mặt)
- + Hộ P - Võ Thị H2(vợ), trú tại: Tổ C, Đ, phường H, quận N.TP Đà Nẵng.(vắng mặt)
- + Hộ Huỳnh Ngọc C1 - Nguyễn Thị H3 (vợ), sinh năm: 1957, trú tại: Tổ C, phường H, quận N,TP Đà Nẵng.(bà H3 có mặt)
- + Hộ Huỳnh Thị H4 - Phan Văn M2 (chồng), trú tại: Số A Đ, phường H, quận C, TP Đà Nẵng. (vắng mặt)
- + Hộ Phan Văn M2 - Phan Tấn M3 (con), trú tại: Số A Đ, phường H, quận C,TP Đà Nẵng.(vắng mặt)
- + Hộ Trần Văn B1, trú tại: Tổ C cũ, T, phường H, quận C, TP Đà Nẵng.(vắng mặt)
- + Hộ Nguyễn L4 - Huỳnh Thị M4 (vợ), trú tại: Tổ H, phường H, quận N, TP Đà Nẵng. (vắng mặt)
- + Hộ Trần Thị L1 - Huỳnh Thị M4 (em), trú tại: Tổ H, phường H, quận C,TP Đà Nẵng(vắng mặt)
- + Hộ Trần Đ2, trú tại: Số B N, phường H, quận C, TP Đà Nẵng.(vắng mặt)
- + Hộ Trần T13 - T (con), trú tại: Số F N, phường H, quận C, TP Đà Nẵng (ông T19 có đơn xin xét xử vắng mặt)
- + Hộ Huỳnh Thị N1, trú tại: tổ B H, Phường H, quận C, TP Đà Nẵng. (vắng mặt)
- + Hộ Huỳnh Thị T14 - Huỳnh Thị N1 (chị), trú tại: tổ B H, Phường H, quận C, TP Đà Nẵng. (vắng mặt)
- + Hộ Huỳnh Văn C2 - Huỳnh Thị N1 (con) trú tại: tổ B H, Phường H, quận C, TP Đà Nẵng. (vắng mặt)
- + Bà Nguyễn Thị Mộng H5, sinh năm: 1984, trú tại: số B đường H, Phường M, quận N, TP Đà Nẵng.(bà H5 có mặt)
- + Ông Lý Việt T15, sinh năm: 1958, trú tại: Số A V, xã H, huyện H.TP Đà Nẵng.(vắng mặt)
- + Ông Đặng Đức M1 - Đinh Thị T16 (vợ), trú tại: Tổ C, phường H, quận N,TP Đà Nẵng.(ông M1 có mặt)
- + Ông Trần T17, sinh năm: 1982, trú tại: Tổ A, phường H, quận N, TP Đà Nẵng.(vắng mặt)
- + Bà Đoàn Thị Thanh C3, sinh năm: 1940, trú tại: P Khu B, phường X, quận T, TP Đà Nẵng.(vắng mặt)
- + Ủy ban nhân dân thành phố Đ; địa chỉ: số B T, thành phố Đà Nẵng. Đại diên theo uỷ quyền ông Nguyễn Thanh L5; chức vụ: Phó Chánh Thanh tra thành phố Đà Nẵng; địa chỉ: số B T, thành phố Đà Nẵng. (có đơn xin xét xử vắng mặt)
- + Ủy ban nhân dân quận C; địa chỉ: số D Ông Í, quận C, thành phố Đà Nẵng. Đại diện theo uỷ quyền ông Trần Trung T18; chức vụ: Chánh thanh tra quận C; địa chỉ: số D Ông Í, quận C, thành phố Đà Nẵng. (có đơn xin xét xử vắng mặt)
- + Ủy ban nhân dân quận N. Đại diện theo uỷ quyền ông Nguyễn M5; chức vụ: Chánh thanh tra quận N; địa chỉ: số D L, quận N, thành phố Đà Nẵng. (có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong quá trình sinh sống tại thành phố Hà Nội, Trần Văn Q nhìn thấy có nhiều người dân thường xuyên tụ tập trước cổng Ban Tiếp dân Trung ương, Văn phòng C4, Văn phòng Q3 và các cơ quan Trung ương của Đảng, Nhà nước để khiếu kiện. Mặc dù không có thẩm quyền trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân, không được các hộ dân uỷ quyền trong việc khiếu nại, tố cáo nhưng Q vẫn tìm cách liên hệ, hứa hẹn giúp những người này trong việc soạn thảo đơn thư nhằm mục đích vụ lợi cá nhân.
Trong năm 2022, Q nhiều lần đến địa bàn phường H, quận C và phường H, quận N tiến hành các buổi họp dân, trực tiếp gặp gỡ đại diện 36 hộ dân thường xuyên khiếu kiện của các khu vực C - T - Đ, trong đó ngoài các hộ đã gặp ở Hà Nội còn có các hộ:Trần Văn D1, Lý Việt T15, P, Đinh Thị T16, Đặng Đức M1, Trần T17, Nguyễn Thị T10, Phạm Thị T3, Trần T19, Lê P, Tống Thị Ngọc L2; Huỳnh Thị X; Thái Thị T7, Huỳnh Thị Kim Y1, Thái Thị H1, Phạm Xuân Q1, Nguyễn Thị H3, Trần Thị L6, Phan Văn M2; Nguyễn L4, Trần Đ2, Trần Thị T2...
Mục đích gặp gỡ các hộ này là để Q trao đổi về việc khiếu kiện các quyết định thu hồi đất của chính quyền các cấp thành phố Đà Nẵng liên quan trực tiếp đến phần đất bị thu hồi của những người này. Trần Văn Q hướng dẫn cho số công dân nói trên cử ra người đại diện, tập hợp đơn thư, giấy tờ tài liệu liên quan đến thu hồi đất, giải phóng mặt bằng để gửi ra Hà Nội cho Q nghiên cứu, soạn đơn khiếu kiện. Kể từ lúc này, Q thường xuyên soạn thảo đơn thư khiếu nại, tố cáo với nhiều nội dung khác nhau trên danh nghĩa là các hộ dân đòi quyền lợi về đất đai. Do lầm tưởng rằng Q đang bảo vệ quyền lợi cho chính họ nên nhiều lần các hộ dân đã tặng quà cho Q bao gồm nhu yếu phẩm, quần áo, thức ăn, số tiền là 17.500.000 đồng, 01 điện thoại di động Oppo từ ông Trần T17.
Để tiếp tục trục lợi cho bản thân từ hoạt động khiếu kiện của 36 hộ dân này, Q khẳng định “có sai phạm trong chính sách đất đai của chính quyền 03 cấp thành phố Đà Nẵng”, tác động đến tâm lý, làm mâu thuẫn trong nhận thức của người dân về chính sách quản lý đất đai của các cơ quan hành chính tại thành phố Đà Nẵng, thông qua lời nói áp đặt, xuyên tạc như: “Người nông dân mù luật”, “chính quyền câu kết với doanh nghiệp dùng mưu hèn kế bẩn lấy đất của dân”... Quyết còn thường xuyên chia sẻ các đoạn video nói xấu Đảng, Nhà nước từ các trang mạng không rõ nguồn gốc; các đoạn video hướng dẫn cách tập trung đông người khiếu kiện để không bị bắt; hướng dẫn ghi đơn để được nhận đơn; nếu bị Công an đưa về làm việc thì hướng dẫn khai như thế nào với Cơ quan Công an; đồng thời định hướng để nhóm người khiếu kiện tin những việc này là do Q chỉ đạo thực hiện.
Các hộ dân bị kích động, hoang mang, bức xúc dẫn đến việc họ không chấp hành phương án giải toà đền bù, tạo ra tình trạng người dân tụ tập, khiếu kiện kéo dài tại các cơ quan từ Trung ương đến địa phương trong đó có UBND thành phố Đ, UBND quận C và UBND quận N làm ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự. Nghiêm trọng hơn, Q còn kêu gọi người dân khiếu nại, tố cáo không đúng quy định, gửi đơn vượt cấp đến nhiều Lãnh đạo cấp cao và Cơ quan trung ương như Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Chủ nhiệm văn phòng C4, Chủ tịch Ủy Ban M6, Cơ quan kiểm toán nhà nước, Tổng Thanh tra Chính phủ, Thường trực Ban bí thư...
Các hành vi của Trần Văn Q diễn ra kéo dài, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động bình thường của các Cơ quan Đảng, Nhà nước trên địa bàn và tại Hà Nội, gây ảnh hưởng đến uy tín, danh dự của UBND thành phố Đ, UBND quận C, UBND quận N, các cán bộ được phân công trong quá trình thực hiện công vụ.
Tiến hành khám xét nơi ở của Q Cơ quan chức năng thu giữ 7 thùng giấy bên trong có chứa nhiều tài liệu đơn thư, qua kiểm tra thu giữ 10.674 trang tài liệu liên quan đến các hành vi viết đơn thư khiếu nại, khiếu kiện, tố cáo như sau:
- Khiếu nại, tố cáo không đúng thẩm quyền:
- Nội dung đơn thư mang tính quy chụp sai phạm không có căn cứ:
- Thực hiện hành vi tố giác tội phạm sai sự thật:
- Nhiều nội dung đơn thư gây ảnh hưởng uy tín, danh dự của các cán bộ Nhà nước trong quá trình thực thi công vụ.
Hầu hết các đơn khiếu nại, tố cáo đều do Trần Văn Q soạn thảo, hướng dẫn người dân gửi đến các cá nhân, tổ chức không có thẩm quyền giải quyết liên quan đến các quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai như: Đơn tố cáo đề ngày 19/12/2022 đứng tên Trần Văn D1 gửi Bí thư thành uỷ và Ban T20. Đơn tố cáo đề ngày 30/7/2024 đường tên Nguyễn Thị Mộng H5 gửi Thủ tướng chính phủ, Thường trực Ban bí thư, Trưởng Ban nội chính trung ương, Chủ nhiệm ủy ban K2, Trưởng Ban D3, Chủ tịch M6, Chủ nhiệm Văn phòng C4, T21, Chủ tịch nước....
Các đơn khiếu nại, tố cáo mà Trần Văn Q trực tiếp soạn thảo nội dung rồi đưa các hộ dân ký vào có nhiều nội dung bịa đặt, khẳng định sai phạm của các cấp UBND thành phố Đ, UBND quận C, UBND quận N trong giải phóng mặt bằng nhưng không đưa ra được căn cứ.
Điển hình như đơn tố cáo ngày 30/7/2024 của hộ bà Nguyễn Thị Mộng H5 do Q soạn thảo đã đưa ra nội dung không đúng sự thật như: “Việc thu hồi đất và cưỡng chế thu hồi đất nhằm thực hiện dự án khu đô thị S - C đối với hộ bà H5 có nhiều sai phạm, đó là: không cung cấp hồ sơ pháp lý theo quy định của Luật Đất đai; xâm hại quyền và lợi ích hợp pháp về an sinh đất ở, đất nông nghiệp; vi phạm chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước, không công khai minh bạch hồ sơ pháp lý về thu hồi đất; vi phạm trong việc thụ lý, giải quyết đơn khiếu nại của bà H5; gia đình bà H5 không được Luật cư trú, Luật nhà ở bảo vệ; việc giao đất cho Công ty Q4 quản lý là không đúng quy định pháp luật..."
Hay như đơn kiến nghị khẩn cấp đề ngày 02/01/2023 mà Q soạn thảo cho Huỳnh T1 gửi đến Bí thư Thành ủy Đ3, nêu nhiều sai phạm của UBND thành phố Đ, UBND quận C và UBND quận N, nhưng không đưa ra căn cứ cụ thể, “...các cơ quan chức năng có thẩm quyền, trách nhiệm của thành phố Đà Nẵng vẫn không thụ lý, xử lý giải quyết triệt để: Nội dung đơn tố cáo, của đơn kiến nghị đã gửi của chúng tôi, theo quy định về chính sách pháp luật của Đảng, Nhà nước ...Các hộ dân mù luật chúng tôi, liên tục bị UBND quận N và UBND quận C đã cố tình gây ra những áp lực, áp chế, o ép, với nhiều hành vi mưu hèn, kế bẩn. Biểu hiện đi ngược lại các quy định về: Chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước...”
Trong khi đó, các nội dung khiếu nại này trước đó đã có công văn giải quyết khiếu nại có hiệu lực của Bộ T22 và khẳng định việc chính quyền các cấp thành phố Đà Nẵng triển khai dự án, thực hiện thu hồi đất, giải toả đền bù là đúng quy định.
Nội dung đơn tố cáo tiếp đề ngày 24/8/2022 mà Q soạn thảo thay cho 36 hộ dân gửi đến Giám đốc Công an thành phố Đ đã cố ý tố giác sai sự thật, tự bịa đặt về việc một số cán bộ, công nhân tập đoàn S trong quá trình thi công đã có hành vi có dấu hiệu tội “Xúc phạm Quốc kỳ” theo Điều 351 Bộ luật Hình sự. Nội dung đơn tố giác tội phạm đề ngày 26/3/2022 mà Q soạn thảo cho ông Trần T17 đã cố tình tố giác sai sự thật đối với ông Nguyễn Đức V – Phó Chủ tịch UBND quận N về hành vi huỷ hoại và cưỡng đoạt tài sản, trong quá trình ông V thi hành Quyết định cưỡng chế thu hồi đất đối với hộ ông T17.
Đơn cử: Đơn tố cáo đề ngày 24/8/2022 mà Q soạn thảo cho 36 hộ dân thể hiện nội dung mang tính xuyên tạc, vu khống ảnh hưởng uy tín, danh dự của cán bộ thực hiện công vụ, như sau: “...Từ đầu năm đến nay dưới sự chỉ đạo của ông Chủ tịch UBND quận N là Nguyễn H6 và cấp phường là ông Huỳnh Kim . Đã không theo quy định của luật tố cáo. Nhằm cố tình cưỡng chế thu hồi đất, của người dân mù luật. Nhằm che giấu hành vi vi phạm pháp luật là tại sao? Đồng thời cùng với chủ đầu tư dự án thực hiện nhiều mưu hèn, từ khi đại dịch Covid 19 bị hạn chế đến nay?....”
Tang vật tạm giữ tại nhà của Trần Văn Q:
- + 07 usb hiệu hiệu Kingston 4 GB trắng bạc; 01 USB hiệu hiệu SanDisk 16 GB màu đen; 01 thẻ nhớ SanDisk 8 GB màu đen; 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu đen; 01 điện thoại di đông hiệu OPPO A94; 01 ổ cứng OCION màu đen; 02 thùng đựng giấy tờ nháp các loại; 7 thùng giấy cất giữ nhiều tài liệu, đơn thư của Trần Văn Q đã được niệm phong.
*Về trách nhiệm dân sự: UBND thành phố Đ, UBND quận C, UBND quận N đều xác định trong quá trình Quyết kích động 36 hộ dân khiếu kiện kéo dài dẫn đến việc các hộ dân này thường tụ tập gây mất an ninh trật tự tại trụ sở các cơ quan này. Nhiều trường hợp còn đến cơ quan Trung ương tại Hà Nội tập trung đông người buộc các cơ quan này phải cử cán bộ ra Hà Nội vận động người dân về lại địa phương giải quyết theo quy định. Tuy nhiên, đại diện các cơ quan này không có yêu cầu bồi thường.
Tại Bản cáo trạng số: 30/CT-VKSCL ngày 12 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Trần Văn Q về tội “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà N2, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” theo quy định tại khoản 2 Điều 331 Bộ Luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng trong phần tranh luận vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Trần Văn Q về tội “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà N2, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 331; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn Q từ 2 năm 6 tháng đến 3 năm tù.
Bị cáo Q đồng ý với nội dung bản Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ đã truy tố đối với bị cáo và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
*Về xử lý vật chứng: Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ đề nghị:
- + Tịch thu tiêu hủy toàn bộ các tập hồ sơ có 10.647 bút lục; 02 thùng đựng giấy tờ nháp các loại; 07 thùng cacton (không có tài liệu bên trong)
- + Tịch thu tiêu huỷ 07 usb hiệu hiệu Kingston 4 GB trắng bạc; 01 USB hiệu hiệu SanDisk 16 GB màu đen; 01 thẻ nhớ SanDisk 8 GB màu đen.
- + Tịch thu 01 điện thoại di động hiệu Oppo 94 của Q để sung công quỹ nhà nước.
- + Trả lại 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu đen của Trần Văn Q và 01 ổ cứng hiệu Ocion, tuy nhiên vẫn tiếp tục quy trữ để đảm bảo thi hành án.
- + Truy thu số tiền 17.500.000 đồng Trần Văn Q đã thu lợi để sung công quỹ nhà nước.
* Về án phí: bị cáo Q phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật là 200.000 đồng
Bị cáo nói lời sau cùng: Cho bị cáo xin lỗi 36 hộ dân, hành vi của bị cáo là sai trái mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận C, TP ., Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, TP., Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- [2] Về xác định tội phạm: Tại phiên toà Trần Văn Q khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện:
- [3] Về tính chất mức độ hành vi phạm tội: Đánh giá tính chất vụ án là nghiêm trọng để tạo lòng tin đối với các hộ dân nên tự xưng bản thân là Cán bộ Phòng chống tham nhũng Trung ương, có am hiểu về pháp luật khiếu nại, tố cáo. Quyết còn tạo các hình ảnh, hoạt động thể hiện mình là một cán bộ có quyền lực, tham gia các các cuộc họp lớn với các Lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước và có khả năng chi phối cả Lãnh đạo thành uỷ Đà Nẵng. Thông qua mạng xã hội Quyết chia sẽ những thông tin không chính thống từ các trang mạng không rõ nguồn gốc đến đại diện các hộ dân để họ tin rằng Q là cán bộ Nhà nước cấp cao có thể thay mặt họ đòi quyền lợi về đất đai. Từ đó Q đề nghị giúp đỡ những hộ này soạn đơn thư khiếu nại tố cáo. Những người dân do không hiểu biết nên tin tưởng mà làm theo hướng dẫn của Q.
- [4] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Từ khi tiếp xúc với 36 hộ dân khu vực C - T - Đ thì bị cáo cử ra người đại diện, tập hợp đơn thư, giấy tờ liên quan đến thu hồi đất, thường xuyên hướng dẫn soạn thảo đơn thư khiếu nại tố cáo với nhiều nội dung khác nhau, nhiều lần cho nhiều hộ khác nhau và viết đơn trong thời gian dài do đó bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng là phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS; về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo có nhân thân tốt, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, con bị cáo còn nhỏ, vợ bị cáo không có công việc ổn định nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó sẽ được áp dụng giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.
- [5] *Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ:
- + Tịch thu tiêu huỷ 07 usb hiệu hiệu Kingston 4 GB trắng bạc; 01 USB hiệu hiệu SanDisk 16 GB màu đen; 01 thẻ nhớ SanDisk 8 GB màu đen;
- + Tịch thu tiêu hủy toàn bộ các tập hồ sơ có 10.647 bút lục; 02 thùng đựng giấy nháp các loại
- + 07 thùng giấy Cacton (không chứa tài liệu) có đặc điểm như sau:
- + Thùng 1 có đề mã vận đơn CN 553308653VN do ông Trần Văn Q gửi từ thành phố Đà Nẵng ra cho Đinh Phương T tại địa chỉ: số B ngõ A đường L, phường L, quận H, TP Hà Nội vào ngày 05/9/2022 qua Bưu điện T23
- + Thùng 2 có đề mã vận đơn CN 553308619 VN do ông Trần Văn Q gửi từ thành phố Đà Nẵng ra cho Đinh Phương T tại địa chỉ: số B ngõ A đường L, phường L, quận H, TP Hà Nội vào ngày 05/9/2022 qua Bưu điện T23
- + Thùng 3 có số BILL VPVTP.023853, hiệu CHINSU Cá cơm biển đông
- + Thùng 4 có hiệu ORION Cốm Sen
- + Thùng 5 có số BILL VPVTP.023853, hiệu CHINSU Hạt Nêm
- + Thùng 6 có đề mã vận đơn CN 551182195 VN do ông Trần Văn Q gửi từ thành phố Đà Nẵng ra cho Đinh Phương T tại địa chỉ: số B ngõ A đường L, phường L, quận H, TP Hà Nội vào ngày 15/9/2022 qua Bưu điện T23
- + Thùng 7 có hiệu KINH DO - Bánh mì tươi.
- + Tịch thu 01 điện thoại di động hiệu OPPO A94 của Trần Văn Q để sung công quỹ nhà nước.
- + Trả lại cho Trần Văn Q 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu đen và 01 ổ cứng hiệu OCION màu đen, tuy nhiên vẫn tiếp tục quy trữ để đảm bảo thi hành án.
- [6] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình tiếp xúc và viết đơn cho 36 hộ dân Trần Văn Q đã nhận tổng cộng số tiền 17.500.000 đồng. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà các hộ dân không yêu cầu Q trả lại số tiền 17.500.000 đồng. Nhưng Hội đồng xét xử, xét thấy đây là số tiền Q có được do thu lợi bất chính từ việc phạm tội mà có. Do đó cần phải truy thu số tiền 17.500.000 đồng từ Quyết để sung công quỹ nhà nước.
- [7] Về các vấn đề khác của vụ án:
- [8] Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Nghị quyết 326/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Trần Văn Q phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng).
Trong khoảng thời gian từ năm 2021 đến năm 2024 Trần Văn Q có hành vi lợi dụng sự thiếu hiểu biết pháp luật về khiếu nại, tố cáo của 36 hộ dân thuộc đối tượng bị cưỡng chế thu hồi đất tại khu vực C, T thuộc phường H, quận C, TP Đà Nẵng. Khu vực Đ thuộc phường H, quận N, thành phố Đà Nẵng nên đã xúi giục, kích động các hộ dân này khiếu nại, tố cáo không đúng sự thật, gửi đơn thư nhiều nơi, không đúng thẩm quyền tố cáo của công dân, gây ảnh hưởng đến uy tín danh dự của Ủy ban nhân dân thành phố Đ, Ủy ban nhân dân quận C, Ủy ban nhân dân quận N trong hoạt động quản lý về đất đai. Hành vi của bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội. Do đó, có đủ cơ sở kết luận hành vi của Trần Văn Q phạm tội “Lợi dụng quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” theo khoản 2 Điều 331 Bộ luật hình sự như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi lợi dụng quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân mà bị cáo Q đã thông qua những lời lẻ trong đơn thư mang tính chất quy chụp, vu khống không có căn cứ đối với các quyết định hành vi hành chính của UBND thành phố Đ, UBND quận C, UBND quận N, cá nhân các cán bộ được phân công thực hiện công vụ liên quan đến việc cưỡng chế thu hồi đất, giải phóng mặt bằng, đã trực tiếp ảnh hưởng đến uy tín, danh dự của tổ chức, cá nhân này.
Nguy hiểm hơn, bị cáo còn lợi dụng sự thiếu hiểu biết của 36 hộ dân bị thu hồi đất chưa biết cách sử dụng quyền khiếu nại, tố cáo của công dân đúng pháp luật nên đã xúi giục, kích động, sử dụng quyền tự do dân chủ của những người này một cách trái pháp luật để trục lợi. Hành vi đó đã làm cho các hộ dân này lầm tin bị cáo cho rằng: có sai phạm trong việc thu hồi đất tại các dự án liên quan nên đã tụ tập gây mất an ninh trật tự tại trụ sở UBND quận N, UBND quân C và các cơ quan liên quan. Chính vì những lẽ trên, bị cáo phải chịu trách nhiệm về hậu quả mà VKSND quận Cẩm Lệ đã truy tố bị cáo theo khoản 2 Điều 331 BLHS gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội với khung hình phạt từ 2-7 năm tù là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Tại phiên toà người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Mộng H5 nhận thấy hành vi của mình là sai trái với pháp luật và mong HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Q. Bà Phạm Thị C, ông Đặng Đức M1, bà Nguyễn Thị H3, cũng đề nghị Hội đồng xét xử giảm cho bị cáo một phần hình phạt.
Từ những phân tích nêu trên xét mức hình phạt mà VKS đề nghị xử phạt bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
UBND thành phố Đ, UBND quận C, UBND quận N đều xác định trong quá trình Quyết kích động 36 hộ dân khiếu kiện kéo dài dẫn đến việc các hộ dân này thường tụ tập gây mất an ninh trật tự tại trụ sở các cơ quan này. Nhiều trường hợp còn đến cơ quan Trung ương tại Hà Nội tập trung đông người buộc các cơ quan này phải cử cán bộ ra Hà Nội vận động người dân về lại địa phương giải quyết theo quy định. Tuy nhiên, đại diện các cơ quan này không có yêu cầu bồi thường.
Đối với các cá nhân Huỳnh T1, Đinh Thị T16 và Phạm Thị C có hành vi thu thập tài liệu, đơn thư của bản thân và các hộ còn lại giao cho Q để Q hướng dẫn soạn thảo đơn khiếu kiện. Tuy nhiên những người này không có động cơ vụ lợi hay cố ý giúp sức cho Q trong quá trình phạm tội nên Cơ quan điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự là phù hợp.
Đối với Phan Thị Á là chủ tiệm I. Trong quá trình nhận in ấn các tài liệu, đơn thư cho Q, Á không biết Q dùng tài liệu này vào việc phạm tội nên không có cơ sở truy cứu trách nhiệm hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn Q phạm tội “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà N2, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”
- Căn cứ: khoản 2 Điều 331; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt: Bị cáo Trần Văn Q 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt 18/9/2024.
- Về xử lý vật chứng:
- + Tịch thu tiêu huỷ 07 usb hiệu hiệu Kingston 4 GB trắng bạc; 01 USB hiệu hiệu SanDisk 16 GB màu đen; 01 thẻ nhớ SanDisk 8 GB màu đen;
- + 02 thùng đựng giấy nháp các loại.
- + 07 thùng giấy Cacton (không chứa tài liệu) có đặc điểm như sau:
- + Thùng 1 có đề mã vận đơn CN 553308653VN do ông Trần Văn Q gửi từ thành phố Đà Nẵng ra cho Đinh Phương T tại địa chỉ: số B ngõ A đường L, phường L, quận H, TP Hà Nội vào ngày 05/9/2022 qua Bưu điện T23
- + Thùng 2 có đề mã vận đơn CN 553308619 VN do ông Trần Văn Q gửi từ thành phố Đà Nẵng ra cho Đinh Phương T tại địa chỉ: số B ngõ A đường L, phường L, quận H, TP Hà Nội vào ngày 05/9/2022 qua Bưu điện T23
- + Thùng 3 có số BILL VPVTP.023853, hiệu CHINSU Cá cơm biển đông
- + Thùng 4 có hiệu ORION Cốm Sen
- + Thùng 5 có số BILL VPVTP.023853, hiệu CHINSU Hạt Nêm
- + Thùng 6 có đề mã vận đơn CN 551182195 VN do ông Trần Văn Q gửi từ thành phố Đà Nẵng ra cho Đinh Phương T tại địa chỉ: số B ngõ A đường L, phường L, quận H, TP Hà Nội vào ngày 15/9/2022 qua Bưu điện T23
- + Thùng 7 có hiệu KINH DO - Bánh mì tươi.
- + Trả lại cho Trần Văn Q 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu đen và 01 ổ cứng hiệu OCION màu đen tuy nhiên vẫn tiếp tục quy trữ để đảm bảo thi hành án.
- + Tịch thu 01 điện thoại di đông hiệu OPPO A94 của Trần Văn Q để sung công quỹ nhà nước.
- Về trách nhiệm dân sự:
- + Tiếp tục truy thu Trần Văn Q số tiền 17.500.000 đồng để sung công quỹ nhà nước
- Về án phí hình sự sơ thẩm:
- Về quyền kháng cáo:
Căn cứ: Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự.
Tịch thu tiêu huỷ:
(Toàn bộ số tang vật trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/02/2025)
+ Tịch thu tiêu hủy toàn bộ các tập hồ sơ có 10.647 bút lục
Áp dụng Nghị quyết 326/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Trần Văn Q phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng).
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng người có nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản sao bản án.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Bản án số 38/2025/HSST ngày 16/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân
- Số bản án: 38/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà Nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân
