TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LỘC TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc - |
Bản án số: 38/2025/HS-ST Ngày 09-4-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LỘC, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Văn Bẩy.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Triệu Thu Lương.
Ông Hoàng Mạnh Sằn.
Thư ký phiên toà: Bà Mạc Thị Sầm - Thư ký Toà án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Ông Đào Ngọc Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 23/2025/TLST-HS ngày 06 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2025/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
Hà Văn H, sinh ngày 06/6/1984 tại huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Nơi cư trú và chỗ ở: Thôn N, xã T, huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 1/12; Dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Văn S (Đã chết) và bà Hà Thị S1, sinh năm 1960; có vợ là Vi Thị S2, sinh năm 1978 và 02 con, con lớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2006; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: chưa bị xử lý hình sự, chưa bị xử lý vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật. Bị cáo bị tạm giữ ngày 22/12/2024, chuyển tạm giam ngày 28/12/2024. Hiện đang tạm giam tại Phân trại tạm giam Khu vực huyện C, PC11 Công an tỉnh L, có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Anh Lý Viết H1, sinh năm 1989; vắng mặt.
Anh Hà Văn Đ, sinh năm 1992; vắng mặt.
Đều có địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện C, tỉnh Lạng Sơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 13 giờ 45 phút ngày 22/12/2024, tổ công tác Công an huyện C đang làm nhiệm vụ tại thôn N, xã T, huyện C, tỉnh Lạng Sơn thì phát hiện Hà Văn H có dấu hiệu về hành vi mua bán trái phép chất ma túy, kiểm tra phát hiện trong ví để ở túi áo trong bên trái đang mặc của H có 02 (hai) gói giấy nhỏ màu trắng, bên trong mỗi gói giấy đều chứa chất bột màu trắng. Hà Văn H khai nhận chất bột màu trắng đựng trong các gói giấy là chất ma túy Heroine. Tổ công tác đã tiến hành đưa đối tượng cùng vật chứng về trụ sở công an xã T để lập biên bản và điều tra làm rõ và thu giữ 02 (hai) gói giấy nhỏ màu trắng, bên trong mỗi gói giấy đều chứa chất bột màu trắng (ma túy Heroine); số tiền 2.970.000đ tiền Việt Nam; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A18 màu xanh, cũ đã qua sử dụng; 01 căn cước công dân mang tên Hà Văn H; 01 ví giả da màu nâu, cũ đã qua sử dụng; tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Hà Văn H phát hiện thu giữ 01 lọ nhựa màu trắng có nắp hình trụ, bên trong đựng 09 gói giấy màu trắng, bên trong các gói giấy đều là chất bột màu trắng thu giữ dưới nền nhà, sau cánh cửa trong phòng ngủ của Hà Văn H.
Hà Văn H khai nhận, bản thân là người nghiện ma túy từ năm 2016. Để thoả mãn nhu cầu sử dụng ma tuý cho bản thân, bị cáo nảy sinh ý định mua ma tuý về vừa dùng, vừa bán lại cho những người nghiện khác. Hà Văn H đã 02 lần mua ma túy của người đàn ông không quen biết tại khu vực thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn, cả hai lần đều mua với giá 1.000.000đ, cụ thể:
Lần thứ nhất vào ngày 17/12/2024 (H không nhớ cụ thể giờ), bị cáo đã bán cho Lý Viết H1 một lần 01 gói ma túy với giá 200.000đ. Bán cho Hà Văn Đ nhiều lần nhưng lần gần nhất bán vào ngày 20/12/2024, 01 (một) gói ma túy với giá 200.000đ; số còn lại H dùng cho bản thân.
Lần thứ hai vào khoảng 09 giờ ngày 22/12/2024. Sau khi mua được ma túy từ người đàn ông, H đem về nhà chia thành 13 gói giấy nhỏ đựng trong lọ nhựa được H cất giấu trong buồng ngủ, H đã sử dụng 02 gói ma túy. Khoảng 13 giờ cùng ngày, H mang theo 02 gói ma túy mục đích để bán cho người nghiện khác có nhu cầu, khi H đi đến khu vực thôn N, xã T, huyện C, tỉnh Lạng Sơn thì bị lực lượng công an kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang.
Tại bản Kết luận giám định số 37/KL-KTHS ngày 26/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: Chất bột màu trắng có trong 02 (hai) gói giấy màu trắng gửi giám định đều là chất ma túy Heroine, có tổng khối lượng 0,128 gam (đã trừ bì); chất bột màu trắng có 09 (chín) gói giấy màu trắng gửi giám định đều là chất ma túy Heroine, 0,613 gam (đã trừ bì) và bản Kết luận giám định số 69/KL-KTHS ngày 30/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: Toàn bộ số tiền 2.970.000 đồng là tiền thật.
Tại Cáo trạng số 33/CT-VKS-CL, ngày 06/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như Cáo trạng đã truy tố. Công bố lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đều thừa nhận được mua ma tuý với bị cáo như Cáo trạng nêu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn sau phần luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Hà Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo từ 07 đến 08 năm tù; áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo 5.000.000 đồng; áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên tịch thu tiêu huỷ số ma tuý thu giữ sau giám định và vật chứng không có giá trị sử dụng; tịch thu số tiền 400.000 đồng thu lợi bất chính mà có của bị cáo (nằm trong số tiền bị thu giữ 2.970.000 đồng); trả lại cho bị cáo 2.570.000 đồng và điện thoại di động nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành án; trả cho bị cáo một căn cước công dân và một ví giả da đã qua sử dụng; về án phí, cần buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận, nhất trí với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã nhận thấy lỗi lầm của bản thân, bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt để có cơ hội trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai báo phù hợp với các chứng cứ khác và không có khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên là hợp pháp.
[2] Về thủ tục tố tụng: Xét thấy việc vắng mặt của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không ảnh hưởng đến việc làm rõ nội dung vụ án, nên Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử theo quy định tại khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[3] Xét lời khai nhận thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo và quá trình tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng: lời khai nhận tội của bị cáo được bán ma tuý cho hai người tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, có đủ căn cứ xác định bị cáo đã mua ma tuý về vừa để dùng cho bản thân và vừa bán lại cho người nghiện khác, cụ thể đã hai
lần bán cho hai người nghiện là anh Lý Viết H1 và anh Hà Văn Đ. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
[4] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, ý kiến của bị cáo và để có mức án phù hợp, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo có đầy đủ năng lực hành vi, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, có đủ khả năng để nhận thức việc mua bán trái phép chất ma túy là trái với quy định của pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý mà còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Hành vi của bị cáo cần xử phạt như đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
[5] Để có căn cứ quyết định hình phạt đối với bị cáo, ngoài việc đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, cần xem xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, qua đó ấn định mức hình phạt phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo, thấy rằng: về nhân thân, bị cáo là người nghiện ma tuý, chưa từng bị xử lý hình sự, chưa bị xử lý hành chính; về tình tiết tăng nặng, ngoài tình tiết tăng nặng định khung, bị cáo không có tình tiết tăng nặng nào khác; về tình tiết giảm nhẹ, tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[6] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại cơ sở giam giữ mới đảm bảo tính nghiêm minh, răn đe đối với bị cáo cũng như phòng ngừa chung cho xã hội. Ngoài hình phạt chính, cần áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo để tăng tính răn đe, giáo dục riêng đối với bị cáo.
[8] Về xử lý vật chứng: Cần tịch thu tiêu huỷ số ma tuý thu giữ sau giám định và vật chứng không còn giá trị sử dụng; tịch thu số tiền bị cáo có được do mua bán ma tuý mà có; trả cho bị cáo số tiền và chiếc điện thoại không liên quan đến việc phạm tội nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành án; trả cho bị cáo giấy tờ tuỳ thân và ví giả da đã qua sử dụng.
[9] Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo, xét thấy do bị cáo không biết rõ tên, tuổi, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh, làm rõ. Do vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
[10] Về án phí: Bị cáo bị kết án, nên bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[11] Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 332, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[12] Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, hình phạt phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; áp dụng thêm điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, khoản 1 Điều 292 và các Điều 331; Điều 332; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
- Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Hà Văn H 07 (bẩy) năm tù giam, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/12/2024.
- Về hình phạt bổ sung: Phạt bổ sung bị cáo Hà Văn H 5.000.000 (năm triệu) đồng.
- Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) phong bì có chữ ký và dấu theo quy định, bên trong có 01 gói giấy đựng 0,115 gam Heroine (phần hao hụt do dùng làm mẫu giám định hết) và các vỏ bao gói (cũ); 01 (một) phong bì có chữ ký và dấu theo quy định, bên trong có 01 gói giấy đựng 0,567 gam Heroine (phần hao hụt do dùng làm mẫu giám định hết) và các vỏ bao gói (cũ).
- Trả cho bị cáo 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A18 màu xanh, số IMEI 1: 865073060094878; số IMEI 2: 865073060094860, cũ đã qua sử dụng, trả cho bị cáo số tiền 2.570.000 đồng (nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành án); 01 (một) căn cước công dân mang tên Hà Văn H số [...] cấp ngày 23/8/2022; 01 (một) ví giả da màu nâu, cũ đã qua sử dụng.
- Áp dụng biện pháp tư pháp: Tịch thu số tiền 400.000 đồng thu lợi bất chính mà có.
(Số tiền tịch thu của bị cáo 400.000 đồng và số tiền trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành án 2.570.000 đồng nằm trong số tiền bị thu giữ 2.970.000 đồng theo Uỷ nhiệm chi lập ngày 26/02/2025 giữa đơn vị trả tiền Công an huyện C và đơn vị nhận tiền Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lộc);
(Các vật chứng trên đang được lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn và được ghi chi tiết tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/02/2025).
- Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách nhà nước.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Bẩy |
Bản án số 38/2025/HS-ST ngày 09/04/2025 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 38/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: LINH VĂN H - TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY
