Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 38/2025/DS-ST

Ngày: 03/4/2025.

V/v tranh chấp: “Hợp đồng tín dụng”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Thái Dương.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Tường Bích;

Ông Võ Văn Hoàng.

- Thư ký phiên Tòa: Ông Trần Minh Quyền – Là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

Ngày 03 tháng 4 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 568/2020/TLST – DS ngày 20 tháng 12 năm 2025 về tranh chấp “Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2025/QĐXXST-DS ngày 28 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 46/2025/QĐST-DS ngày 17 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại S (Ngân hàng).

Địa chỉ: đường N, phường V, quận C, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D – Chức vụ:

Tổng giám đốc.

Đại diện theo ủy quyền: Nguyễn Bảo Q, sinh năm: 1991 (Vắng mặt)

Địa chỉ: 159C Khu phố A, thị trấn Đ, huyện B, tỉnh Bến Tre

- Bị đơn: Nguyễn Văn L, sinh năm 1962 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Khu phố C, thị trấn Đ, huyện B, tỉnh Bến Tre.

Anh Nguyễn Bảo Q có đơn xin xét xử vắng mặt đề ngày 03/4/2025.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1

* Tại đơn khởi kiện đề ngày 23/8/2024, bản tự khai ngày 03/4/2025 của Ngân hàng và quá trình giải quyết vụ án, anh Nguyễn Bảo Q là người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng trình bày:

Ngày 19/6/2017 ông Nguyễn Văn L có đề nghị Ngân hàng thương mại S – Chi nhánh Bến Tre - Phòng giao dịch Đ cấp thẻ tín dụng. Theo đề nghị, Ngân hàng đã cấp thẻ tín dụng cho ông Nguyễn Văn L theo giấy đề nghị mở thẻ kiêm hợp đồng với hạn mức 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng), loại thể Family, mục đích vay tiêu dùng, lãi suất 2.92%/tháng, thời hạn sử dụng thẻ là 03 năm, thẻ tự động gia hạn thời gian sử dụng thẻ.

Hàng tháng khách hàng phải thanh toán 5% dư nợ đầu kỳ. Ngân hàng sẽ cho khách hàng thời gian 25 ngày để thanh toán nợ. Nếu khách hàng thanh toán trễ hạn sẽ bị phạt bằng 6% số tiền thanh toán tối thiểu của kỳ đó. Nếu khách hàng không thanh toán hoặc không thanh toán đầy đủ số tiền thanh toán tối thiểu sau 02 kỳ chốt thông báo giao dịch 10 ngày, thẻ sẽ chuyển sang nợ nhóm 2. Từ thời điểm chuyển nợ nhóm 2, Nếu khách hàng không thanh toán hoặc không thanh toán đầy đủ số tiền thanh toán tối thiểu sau 02 kỳ chốt thông báo giao dịch 90 ngày, thẻ sẽ chuyển sang nợ nhóm 3 và chốt toàn bộ dư nợ thành vốn gốc, lãi phát sinh sau chuyển nhóm 3 sẽ bằng 150% lãi trong hạn.

Sau khi cấp thẻ ông Nguyễn Văn L đã thực hiện các giao dịch với số tiền 45.194.385 đồng. Từ ngày 31/5/2024 ông Nguyễn Văn L đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Hiện nay thẻ tín dụng đã quá hạn chuyển nhóm 5.

Nay ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Văn L phải trả cho ngân hàng số tiền còn nợ là 53.090.193 đồng tính đến ngày 03/4/2025. Trong đó vốn 45.194.385 đồng, Lãi quá hạn 7.895.808 đồng. yêu cầu tiếp tục tính lãi phát sinh sau ngày 03/4/2025 theo mức lãi suất của hợp đồng kiêm giấy đề nghị mở thẻ ngày 19/6/2017 mà hai bên đã ký kết.

* Quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Nguyễn Văn L vắng mặt không có lý do. Mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia tố tụng nên không có lời khai.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Nguyễn Văn L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để xét xử, nhưng vẫn vắng mặt, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định.

[2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Ngân hàng thương mại S khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông Nguyễn Văn L trả nợ gốc, lãi theo giấy đề nghị mở thẻ kiêm hợp đồng. Do đó, quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” được quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Ông Nguyễn Văn L có đăng ký thường trú tại Khu phố 3, thị trấn Bình Đại, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết theo trình tự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Bình Đại.

[4] Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, yêu cầu Tòa án buộc ông Nguyễn Văn L trả cho ngân hàng số tiền nợ tính đến ngày 03/4/2025 là 53.090.193 đồng. Yêu cầu tiếp tục tính lãi phát sinh sau ngày 03/4/2025 cho đến khi trả nợ xong theo mực lãi suất của giấy đề nghị mở thẻ kiêm hợp đồng. Hội đồng xét xử xét thấy:

[4.1] Căn cứ vào giấy đề nghị, kiêm hợp đồng mở thẻ ngày 19/6/2017, giữa Ngân hàng thương mại S và ông Nguyễn Văn L đã ký kết thì giữa ông Nguyễn Văn L và Ngân hàng có quan hệ cấp tín dụng. Theo đó ông Nguyễn Văn L được ngân hàng cấp cho ông Nguyễn Văn L thẻ tín dụng với hạn mức 50.000.000 đồng. Trong quá trình thực hiện hợp đồng ông Nguyễn Văn L đã sử dụng thanh toán số tiền 45.191.385 đồng. Thanh toán cho ngân hàng trễ hạn làm phát sinh nợ quá hạn. Xét thấy, hợp đồng cấp thẻ được hai bên thiết lập trên tinh thần tự nguyện, ông Nguyễn Văn L đã sử dụng hết quyền nhận tài sản, nhưng không thanh toán đầy đủ tiền nợ vốn và lãi cho ngân hàng theo thỏa thuận là đã vi phạm hợp đồng mà hai bên đã ký kết. Do đó, Ngân hàng thương mại S khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Văn L trả nợ gốc và lãi theo giấy đề nghị, kiêm hợp đồng mở thẻ ngày 19/6/2017 là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4.2] Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại S đối với ông Nguyễn Văn L. Buộc ông Nguyễn Văn L có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng thương mại S số tiền 53.090.193 đồng (Năm mươi ba triệu không trăm chín mươi ngàn một trăm chín mươi ba đồng) tính đến ngày 03/4/2025. Trong đó bao gồm: Nợ gốc 45.194.385 đồng, Lãi 7.985.808 đồng.

[4.3] Ông Nguyễn Văn L còn phải tiếp tục trả cho ngân hàng thường mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín số tiền lãi phát sinh sau ngày 03/4/2025 theo mức lãi suất của giấy đề nghị, kiêm hợp đồng mở thẻ ngày 19/6/2017 mà hai bên đã ký kết.

[5] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại S được chấp nhận nên ông Nguyễn Văn L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là: 53.090.193 đồng * 5% = 2.654.509 đồng (Hai triệu sáu trăm năm mươi bốn ngàn năm trăm lẻ chín đồng).

Vì các lẽ trên,

3

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 227, 228, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự,
  • - Các Điều 357, 463, 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
  • - Các Điều 99 và 100 của Luật các tổ chức tín dụng.
  • - Khoản b khoản 2 Điều 8, 13 Nghị quyết số 01/2019/NĐ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.
  • - Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

[1]. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại S đối với ông Nguyễn Văn L.

Buộc ông Nguyễn Văn L phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng thương mại S số tiền còn nợ tính đến ngày 03/4/2025 là 53.090.193 đồng (Năm mươi ba triệu không trăm chín mươi ngàn một trăm chín mươi ba đồng). Trong đó bao gồm: Nợ gốc 45.194.385 đồng, Lãi 7.985.808 đồng.

[2] Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, ngày 03/4/2025 cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất theo giấy đề nghị kiêm hợp đồng mở thẻ ngày 19/6/2017 nhưng phải phù hợp với quy định pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

[3]. Về án phí:

Buộc ông Nguyễn Văn L phải chịu: 2.654.509 đồng (Hai triệu sáu trăm năm mươi bốn ngàn năm trăm lẻ chín đồng) án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.

Hoàn trả cho Ngân hàng thương mại S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là: 1.105.668 đồng ( Một triệu một trăm lẻ năm ngàn sáu trăm sáu mươi tám đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số: 0008084 ngày 20/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Đại.

Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

[4] Về quyền kháng cáo:

Nguyên đơn, Bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm.

4

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bến Tre (phòng KTNV và THA);
  • - VKSND huyện Bình Đại;
  • - Chi cục THADS huyện Bình Đại;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(ĐÃ KÝ)

Bùi Thái Dương

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 38/2025/DS-ST ngày 03/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 38/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/04/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng A - Nguyen Van L
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger