Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUỲNH PHỤ

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2025/HS-ST

Ngày 02-4-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Đức.
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Thế Cần; Bà Phạm Thị Loan.
  • - Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Minh Thành - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Vũ Công Huân - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 09/2025/TLST-HS ngày 22 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2025/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2025 và Thông báo thay đổi thời gian mở lại phiên tòa số 06/TB-TA ngày 10/3/2025 và 06A ngày 21/3/2025 đối với:

Bị cáo: Nguyễn Công M. Giới tính: Nam; Tên gọi khác: không có tên gọi khác; Sinh ngày 10/01/1991. Nơi cư trú: thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: Lớp 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ và tên cha: Nguyễn Công T (Đã chết). Ông được tặng Kỷ niệm chương thanh niên xung phong và tặng Bằng khen “đã có thành tích tham gia trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước”. Họ và tên mẹ: Vũ Thị T1 (Đã chết); Tiền án, tiền sự: không; Bị can bị bắt tạm giam từ ngày 02/7/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T.

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Lê Chí D - Trợ giúp viên pháp lý thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh T.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  • + Anh Nguyễn Viết K, sinh năm 1989;
  • + Anh Nguyễn Viết C, sinh năm 1984;
  • Đều có nơi cư trú: Thôn M, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình.
  • + Anh Đỗ Văn T2, sinh năm 1991; Nơi cư trú: Thôn A, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình;

- Người chứng kiến:

Ông Nguyễn Duy C1, sinh năm 1958;

Nơi cư trú: Thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình

(Tại phiên tòa có mặt bị cáo. Vắng mặt Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 21/06/2024, Nguyễn Viết K; Nguyễn Viết C và Đỗ Văn T2 đến nhà Nguyễn Công M ở thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình chơi và tổ chức ăn uống. Sau khi ăn uống xong, K, C, T2, M cùng ngồi tại phòng ngủ của M chơi nói chuyện. Đến khoảng 20 giờ 30 cùng ngày M mượn xe mô tô, nhãn hiệu Honda, sơn màu đen, biển số 17B5 - 627.09 của T2 và rủ T2 ra ngoài hóng gió. M điều khiển xe chở T2 đến gần khu vực ngã tư thuộc thôn L, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình, M dừng xe cho T2 đi vệ sinh. Trong lúc T2 đi vệ sinh, M điều khiển xe đi cách đó khoảng 20 mét, M gặp và mua 01 túi ma túy, loại Methamphetamine của một người nam thanh niên (không biết họ, tên, tuổi, địa chỉ) với giá 300.000 đồng. M bỏ gói ma túy vừa mua được vào túi quần bên trái phía trước đang mặc, điều khiển xe quay lại đón và chở T2 về nhà M, T2 vào phòng ngủ của M ngồi chơi cùng C và K. M đi ra góc vườn cầm 01 chai nhựa có 02 lỗ, 01 lỗ được cắm vào 01 ống hút, 01 lỗ cắm vào 01 đoạn ống thủy tinh trong suốt hình trụ có một đầu gấp khúc được gắn một khối thủy tinh trong suốt hình cầu rỗng (cóng thủy tinh), là dụng cụ để sử dụng ma túy đá đem vào phòng ngủ chỗ C, K, T2 đang ngồi. M để dụng cụ sử dụng ma túy đá xuống nền phòng, lấy túi ma túy đá vừa mua được đổ toàn bộ vào cóng thủy tinh, dùng bật lửa gas màu đỏ có sẵn trong phòng đốt lửa hơ dưới đáy cóng và hút ma túy vào cơ thể. Sau đó M cầm bật lửa ga, bật lửa lần lượt hơ dưới đáy cóng thủy tinh cho C, T2 và K hút ma túy vào cơ thể. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, khi M, C, T2 và K đang sử dụng ma túy tại gian phòng ngủ của M thì bị tổ công tác Công an huyện Q tiến hành kiểm tra, phát hiện và thu giữ tại nền phòng ngủ của Minh bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 chai nhựa có 02 lỗ, 01 lỗ được cắm vào 01 ống hút nhựa màu vàng xanh, 01 lỗ cắm vào 01 đoạn ống thủy tinh trong suốt hình trụ một đầu gấp khúc được gắn một khối thủy tinh trong suốt hình cầu rỗng; bên trong khối hình cầu rỗng có bám dính chất tinh thể màu trắng đục, qua giám định là ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng 0,1340 gam; 01 bật lửa gas màu đỏ đã qua sử dụng. M, C, T2 và K đều khai nhận đó là ma túy và dụng cụ để sử dụng ma túy do M chuẩn bị. Trước sự chứng kiến của đại diện chính quyền địa phương và ông Nguyễn Duy C1. Khám xét chỗ ở của M, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q không thu giữ đồ vật, tài sản gì.

Bản kết luận giám định số 963/KL-KTHS ngày 26/6/2024 của Phòng K1, Công an tỉnh T, kết luận: Trong mẫu nước tiểu ký hiệu M1, M2, M3, M4 thu của K, T2, M, C gửi giám định đều tìm thấy ma túy, loại Methamphetamine.

Bản kết luận giám định số 962/KL-KTHS ngày 26/6/2024 của Phòng K1, Công an tỉnh T, kết luận: Chất dạng tỉnh thể màu trắng đục bám dính trong khối thủy tinh trong suốt hình cầu rỗng trong phong bì ký hiệu M5 là ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng 0,1340 gam;

Các phiếu xét nghiệm test nhanh chất gây nghiện MET (Đá), THC (C), MDMA (Thuốc lắc), Morphin/Heroin ngày 22/6/2024 của Trung tâm y tế huyện Q đối với Nguyễn Viết K, Đỗ Văn T2, Nguyễn Công M, Nguyễn Viết C. Kết quả: K, T2, M, C đều dương tính với MET(Đá);

Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy đối với Nguyễn Viết C, Đỗ Văn T2, Nguyễn Công M và Nguyễn Viết K của Bệnh viện T4 - Sở Y, kết quả: Nguyễn Viết C, Đỗ Văn T2 và Nguyễn Viết K nghiện chất ma túy (H, Methamphetamine). Nguyễn Công M không nghiện chất ma túy;

Tại bản Cáo trạng số 17/CT-VKSQP ngày 20/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình đã truy tố bị cáo Nguyễn Công M về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

- Tại phiên tòa: Bị cáo M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 21/06/2024 như bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo trực tiếp mua 01 túi ma túy, loại Methamphetamine đem về nơi ở của mình cùng K, C, T2 sử dụng. Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ rõ thái độ ăn năn, hối cải.

- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Giữ nguyên Cáo trạng truy tố đối với bị cáo M, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Đề nghị áp dụng điểm điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo M từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù, thời hạn tù được tính từ ngày 02/7/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Ngoài ra còn đề nghị xử lý vật chứng và án phí.

- Người bào chữa cho bị cáo ý kiến: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh của bị cáo do bố mẹ đã mất không có người quản lý, bị cáo ít hiểu biết nên đã dẫn đến việc phạm tội, do đó cần xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để bị cáo có điều kiện cải tạo sớm trở về hòa nhập xã hội. Bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

- Trong phần tranh luận bị cáo, người bào chữa cho bị cáo không có ý kiến tranh luận với Kiểm sát viên. Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để bị cáo yên tâm cải tạo, sớm được trở về với gia đình, hòa nhập cộng đồng, trở thành công dân có ích cho gia đình, xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Q, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, Điều tra viên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Q, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến, phù hợp với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ và còn được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ như: Biên bản vụ việc, các biên bản quản lý đồ vật, tài liệu; các biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu do cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q lập ngày 21/6/2024 tại nhà của Nguyễn Công M; Kết luận giám định số 963/KL-KTHS ngày 26/6/2024; Kết luận giám định số 962/KL-KTHS ngày 26/6/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T; Các phiếu xét nghiệm test nhanh chất gây nghiện ngày 22/6/2024 của Trung tâm y tế huyện Q. Cùng toàn bộ tài liệu, chứng cứ khác do Cơ quan Cảnh sát điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án. Do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hồi 22 giờ 00 phút, ngày 21/6/2024, tại nhà của bị cáo Nguyễn Công M ở thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình; bị cáo Nguyễn Công M có hành vi mua ma túy, loại Methamphetamine, chuẩn bị dụng cụ sử dụng ma túy và dùng bật lửa gas, bật lửa, lần lượt hơ dưới đáy cóng thủy tinh cho Nguyễn Viết K, Nguyễn Viết C và Đỗ Văn T2 hút ma túy vào cơ thể. Ngoài ra, Công an huyện Q 0,1340 gam ma túy, loại Methamphetamin trong khối hình cầu rỗng là dụng cụ M, C, K, T2 đang sử dụng ma túy. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố là có căn cứ.

Điều 255. Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

“1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

  • Phạm tội 02 lần trở lên;
  • Đối với 02 người trở lên;

...

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.

[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội thấy: Bị cáo đã trực tiếp mua 01 túi ma túy, loại Methamphetamine, đem về nơi ở của bị cáo, chuẩn bị công cụ cùng C, T2 và K sử dụng trái phép mục đích để thỏa mãn cơn nghiện. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp sự độc quyền quản lý của Nhà nước về chất gây nghiện, xâm phạm trật tự trị an xã hội, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo coi thường pháp luật, thực hiện tội phạm với lỗi cố ý. Vì vậy Hội đồng xét xử cần phải lên một mức án phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thì mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội cũng như việc đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Xét tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo thấy rằng: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, có bố đẻ được tặng Kỷ niệm chương thanh niên xung phong và tặng Bằng khen “đã có thành tích tham gia trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước”, vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Về quyết định hình phạt: Từ những phân tích nêu trên, đối chiếu với các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian như mức án đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và bảo đảm mục đích hình phạt nói chung.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, hiện thuộc hộ cận nghèo vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Đối với Nguyễn Viết K: Quá trình điều tra bị cáo M khai số tiền mua ma túy (200.000 đồng) là của K đưa và bảo M đi mua về để cùng sử dụng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q đã tiến hành điều tra, xác minh, kết quả điều tra xác định: C và T2 không nghe thấy, không nhìn thấy K đưa tiền và bảo M đi mua ma túy; tại biên bản đối chất giữa M và K, cả M và K đều có ý kiến “K không đưa tiền và không bảo M đi mua ma túy”; tại phiên tòa M một lần nữa khẳng định là K không đưa tiền, không bảo M đi mua ma túy như M đã khai trước đó, vì vậy Nguyễn Viết K không đồng phạm với M về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trong vụ án này.

Đối với Nguyễn Viết K, Nguyễn Viết C, Đỗ Văn T2: Ngày 21/6/2024, tại nhà của bị cáo M có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q đã thu mẫu nước tiểu gửi giám định, kết quả: Trong mẫu nước tiểu ký hiệu M1, M2, M3, M4 của K, T2, M, C gửi giám định đều tìm thấy ma túy, loại Methamphetamine. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với K, C, T2, hình thức phạt tiền, mức phạt 1.500.000 đồng là phù hợp.

[7] Về nguồn gốc số ma túy: Nguyễn Công M khai mua của một người nam thanh niên khoảng 25 tuổi (không biết họ, tên, địa chỉ) tại khu vực thôn L, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q đã tiến hành điều tra, xác minh, ngoài lời khai của M không còn tài liệu, chứng cứ nào khác, không xác định được con người cụ thể đã bán ma túy cho M nên không có căn xử lý trong vụ án này.

[8] Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã thu giữ lượng ma túy đá trong cóng thủy tinh hiện đựng trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 962/KL-KTHS ngày 26/6/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh T; 01 bật lửa ga màu đỏ đã qua sử dụng; 01 chai nhựa trong suốt, nắp màu đen, trên nắp có cắm ống hút nhựa mà vàng - xanh, xét thấy đây là vật chứng vụ án, dụng cụ sử dụng ma túy và vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, vì vậy cần tịch thu để tiêu hủy là phù hợp với Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại wave alpha, màu đen bạc, mang biển kiểm soát 17B5 - 627.09 là tài sản hợp pháp của Đỗ Văn T2. Anh T2 không liên quan đến việc phạm tội, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q đã trả lại cho anh T2 là đúng quy định của pháp luật.

[9] Về án phí: Xét thấy bị cáo thuộc hộ cần nghèo nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Công M phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” .

  • - Áp dụng điểm điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Công M 07 (bẩy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 02/7/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 túi ma túy, 01 cóng thủy tinh được niêm phong trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 962/KL-KTHS ngày 26/6/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh T; 01 bật lửa ga màu đỏ đã qua sử dụng; 01 chai nhựa trong suốt, nắp màu đen, trên nắp có cắm ống hút nhựa mà vàng - xanh.

“Vật chứng có đặc điểm như biên bản bàn giao vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ và hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình quản lý”.

3. Về án phí: Áp dụng Áp dụng Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tròn, kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ bản án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - TAND tỉnh Thái Bình;
  • - Phòng HSNV Công an tỉnh Thái Bình.;
  • - VKSND huyện Quỳnh Phụ.
  • -Trại giam Công an tỉnh Thái Bình.
  • - Chi cục THADS huyện Quỳnh Phụ;
  • - Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Minh Đức

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 38/2025/HS-ST ngày 02/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH về hình sự (tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 38/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Công M phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” .
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger