Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ DĨ AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 38/2025/DS-ST

Ngày 27-3-2025

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thương.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Phạm Tú Nhi;
  2. Ông Phan Văn Cường.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hương Giang, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Xuân Tình - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 3 năm 2025, tại Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 884/2024/TLST-DS ngày 20/12/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2025/QĐXXST-DS ngày 24/02/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 43/2025 ngày 12/3/2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP P; địa chỉ: Tòa nhà T số A T, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh;

Người đại diện hợp pháp: Bà Nguyễn Hoàng Hương G; địa chỉ: Tầng B, số A T, phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 20/3/2025). (Có mặt).

- Bị đơn: Ông Đoàn Quang T, sinh năm 1984 và bà Vũ Thị D, sinh năm 1989; địa chỉ: Số G khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. (Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 27/11/2024, lời khai trong quá trình tố tụng, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:

Ông Đoàn Quang T và bà Vũ Thị D đã ký kết với Ngân hàng TMCP P (sau đây gọi tắt là Ngân hàng O) các hợp đồng tín dụng sau:

  • Hợp đồng tín dụng số ST23024632.01/2023/NTB/HĐTD ngày 30/8/2023 và Khế ước nhận nợ số ST23024632.01/2023/NTB/KUNN ngày 30/8/2023 chi tiết như sau: Số tiền vay. 4.000.000.000 đồng; Mục đích vay: Vay mua bất động sản; Thời hạn vay: 300 tháng; Lãi suất vay: 10%/năm, lãi suất có điều chỉnh; Lãi suất quá hạn: Bằng 150% lãi suất vay trong hạn.
  • Hợp đồng tín dụng số ST23024632.02/2023/NTB/HĐTD ngày 30/8/2023 và các Khế ước nhận nợ số ST23024632.06/2023/NTB/KUNN ngày 21/08/2024; ST23024632.07/2023/NTB/KUNN ngày 22/08/2024; ST23024632.08/2023/NTB/KUNN ngày 22/08/2024 chi tiết như sau: Số tiền vay: 3.450.000.000 đồng; Mục đích vay: Bổ sung vốn lưu động kinh doanh thực phẩm đông lạnh; Thời hạn vay: 06 tháng; Lãi suất vay: 6,5%/năm, lãi suất có điều chỉnh; Lãi suất quá hạn: Bằng 150% lãi suất vay trong hạn.
  • Giấy đề nghị kiêm hợp đồng mở, sử dụng thẻ tín dụng, tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và đăng ký dịch vụ dành cho khách hàng cá nhân ngày 05/09/2023 với hạn mức thẻ tín dụng: 200.000.000 đồng.

Thực hiện theo Hợp đồng tín dụng đã ký, Ngân hàng TMCP P đã giải ngân cho ông T và bà D đầy đủ số tiền vay. Khoản vay có tài sản bảo đảm là: Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 3092, tờ bản đồ số 27, tọa lạc khu D, phường T, thị xã B, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CY 271371, số vào sổ cấp GCN: CS 59643 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 02/02/2021, cập nhật biến động lần cuối ngày 02/11/2021 theo Hợp đồng thế chấp số ST23024632.01/2023/NTB/HĐTC ngày 30/8/2023, số công chứng 010792 tại Văn phòng C, tỉnh Bình Dương và Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 1636, tờ bản đồ số 21 tọa lạc khu D, phường C, thị xã B, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DG 964250, số vào sổ cấp GCN: CS 20667 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 25/08/2022 theo Hợp đồng thế chấp số ST23024632.02/2023/NTB/HĐTC ngày 30/8/2023 giữa Ngân hàng O với ông Đoàn Quang T và bà Vũ Thị D, số công chứng 010793 tại Văn phòng C, tỉnh Bình Dương, các tài sản bảo đảm đã được đăng ký thế chấp theo quy định pháp luật.

Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, ông Đoàn Quang T và bà Vũ Thị D đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ được quy định trong các Hợp đồng tín dụng; Giấy đề nghị kiêm hợp đồng mở, sử dụng thẻ tín dụng, tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và đăng ký dịch vụ dành cho khách hàng cá nhân và các Khế ước nhận nợ đã ký kết. Tạm tính đến ngày 26/3/2025 ông T và bà D còn nợ Ngân hàng O tổng số tiền 7.953.656.154 đồng, trong đó: Nợ gốc: 7.276.658.000 đồng, nợ lãi: 440.748.505 đồng, nợ thẻ: 236.249.649 đồng.

Do ông Đoàn Quang T và bà Vũ Thị D đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng TMCP P khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết:

  1. Buộc ông Đoàn Quang T và bà Vũ Thị D thanh toán cho Ngân hàng TMCP P tổng số nợ của các Hợp đồng tín dụng số ST23024632.01/2023/NTB/HĐTD ngày 30/8/2023; số ST23024632.02/2023/NTB/HĐTD ngày 30/8/2023; Giấy đề nghị kiêm hợp đồng mở, sử dụng thẻ tín dụng, tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và đăng ký dịch vụ dành cho khách hàng cá nhân ngày 05/09/2023 tạm tính đến ngày 26/3/2025 là 7.953.656.154 đồng, trong đó: Nợ gốc: 7.276.658.000 đồng, nợ lãi: 440.748.505 đồng, nợ thẻ: 236.249.649 đồng và tiền lãi, phí phát sinh theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng; Giấy đề nghị kiêm hợp đồng mở, sử dụng thẻ tín dụng, tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và đăng ký dịch vụ dành cho khách hàng cá nhân đã ký kết từ ngày 27/3/2025 cho đến khi ông Đoàn Quang T, bà Vũ Thị D hoàn thành nghĩa vụ trả nợ vay cho Ngân hàng TMCP P.
  2. Trường hợp ông Đoàn Quang T và bà Vũ Thị D không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ nêu trên thì Ngân hàng TMCP P được quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mại các tài sản thế chấp để thu hồi khoản nợ cho Ngân hàng TMCP P.

- Tại bản tự khai ngày 10/01/2025, bị đơn ông Đoàn Quang T và bà Vũ Thị D trình bày:

Vợ chồng ông Đoàn Quang T và bà Vũ Thị D thống nhất với Ngân hàng TMCP P về việc ký kết các Hợp đồng tín dụng số ST23024632.01/2023/NTB/HĐTD ngày 30/8/2023, khế ước nhận nợ số ST23024632.01/2023/NTB/KUNN ngày 30/8/2023; Hợp đồng tín dụng số ST23024632.02/2023/NTB/HĐTD ngày 30/8/2023 và các khế ước nhận nợ số ST23024632.06/2023/NTB/KUNN ngày 21/8/2024, khế ước nhận nợ ST23024632.07/2023/NTB/KUNN ngày 22/8/2024, khế ước nhận nợ ST23024632.08/2023/NTB/KUNN ngày 22/8/2024; Giấy đề nghị kiêm Hợp đồng mở, sử dụng thẻ tín dụng, tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và đăng ký dịch vụ dành cho khách hàng cá nhân ngày 05/9/2023. Thực hiện theo hợp đồng Ngân hàng O đã giải ngân cho ông T và bà D đầy đủ số tiền vay. Để đảm bảo cho khoản vay tại Ngân hàng O, ông T và bà D đã thế chấp cho Ngân hàng OCB các tài sản sau: Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 3092; tờ bản đồ số 27; tọa lạc khu DC ấp C, phường T, thị xã B, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CY 271371, số vào sổ cấp GCN: CS 59643 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 02/02/2021, cập nhật biến động lần cuối ngày 02/11/2021 và Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 1636, tờ bản đồ số 21, tọa lạc khu D, phường C, thị xã B, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DG 964250, số vào sổ cấp GCN: CS 20667 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 25/8/2022.

Do tình hình kinh tế khó khăn nên ông T và bà D không thể thanh toán khoản nợ đúng hạn cho Ngân hàng O. Nay đối với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng OCB thì ông T và bà D đồng ý. Tuy nhiên, đề nghị cho thời hạn để tất toán khoản vay và giải chấp tài sản. Hiện tài sản thế chấp cho Ngân hàng trên đất hiện tại có các căn phòng trọ và kiot như biên bản xem xét thẩm định tại chỗ của Tòa án thể hiện. Các tài sản trên quyền sử dụng đất thế chấp là của vợ chồng ông T và bà D, không liên quan đến người thứ ba. Do đó, ông T và bà D không đề nghị Tòa án đưa thêm người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vào tham gia tố tụng trong vụ án.

Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ:

  • Quyền sử dụng đất diện tích 300m² thuộc thửa đất số 3092, tờ bản đồ số 27, tọa lạc khu D, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CY 271371, số vào sổ cấp GCN: CS 59643 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 02/02/2021, cập nhật biến động lần cuối ngày 02/11/2021. Tài sản trên đất gồm có: 12 phòng trọ loại 01 tầng có kết cấu nền gạch men, tường gạch xây tô sơn nước có ốp gạch men lững, mái tôn, trần ốp la phông, bên trong có gác lững bằng bê tông, lan can sắt, có nhà vệ sinh từng phòng, cửa sắt; 02 kiot loại 01 tầng có kết cấu nền gạch men, tường gạch xây tô sơn nước có ốp gạch men lững, mái tôn, trần ốp la phông, bên trong có gác lững bằng bê tông + lan can sắt, có nhà vệ sinh từng phòng, cửa sắt, cửa sắt kéo; 01 hành lang nền gạch men, mái tôn + khung cột sắt, cửa sắt; đồng hồ điện, đồng hồ nước.
  • Quyền sử dụng đất diện tích 300 m² thuộc thửa đất số 1636, tờ bản đồ số 21 tọa lạc khu D, phường C, thành phố B, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DG 964250, số vào sổ cấp GCN: CS 20667 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 25/08/2022. Tài sản trên đất gồm: 16 phòng trọ loại 01 tầng có kết cấu nền gạch men, tường gạch xây tô sơn nước có ốp gạch men lững, bên trong có gác lững, nhà vệ sinh từng phòng, cửa nhôm; 02 kiot mặt tiền loại 01 tầng có kết cấu nền gạch men, tường gạch xây tô sơn nước có ốp gạch men lững, mái tôn, nhà vệ sinh từng phòng, cửa sắt kéo; 01 hành lang nền gạch men, mái tôn + khung cột sắt, cửa sắt; đồng hồ điện, đồng hồ nước.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa:

Quá trình tố tụng, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, các đương sự đã chấp hành và tuân theo pháp luật đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định của pháp luật.

Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được Hội đồng xét xử làm rõ tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Bị đơn ông Đoàn Quang T và bà Vũ Thị D có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Nội dung vụ án:

[2.1] Ngân hàng TMCP P cấp tín dụng cho ông Đoàn Quang T và bà Vũ Thị D theo Hợp đồng tín dụng số ST23024632.01/2023/NTB/HĐTD ngày 30/8/2023, khế ước nhận nợ số ST23024632.01/2023/NTB/KUNN ngày 30/8/2023 với số tiền vay: 4.000.000.000 đồng, mục đích vay: Mua bất động sản, thời hạn vay: 300 tháng, lãi suất vay: 10%/năm và có điều chỉnh, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn; Hợp đồng tín dụng số ST23024632.02/2023/NTB/HĐTD ngày 30/8/2023 và các khế ước nhận nợ số ST23024632.06/2023/NTB/KUNN ngày 21/8/2024, khế ước nhận nợ ST23024632.07/2023/NTB/KUNN ngày 22/8/2024, khế ước nhận nợ ST23024632.08/2023/NTB/KUNN ngày 22/8/2024 với số tiền vay 3.450.000.000 đồng, mục đích vay: Bổ sung vốn lưu động kinh doanh thực phẩm đông lạnh, thời hạn vay: 06 tháng, lãi suất vay: 6.5%/năm và có điều chỉnh, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất vay trong hạn; Giấy đề nghị kiêm Hợp đồng mở, sử dụng thẻ tín dụng, tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và đăng ký dịch vụ dành cho khách hàng cá nhân ngày 05/9/2023 với hạn mức thẻ là 200.000.000 đồng. Thực hiện theo hợp đồng Ngân hàng TMCP P đã giải ngân cho vợ chồng ông Đoàn Quang T và bà Vũ Thị D toàn bộ số tiền vay theo các Hợp đồng tín dụng, các khế ước nhận nợ và Giấy đề nghị kiêm Hợp đồng mở, sử dụng thẻ tín dụng, tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và đăng ký dịch vụ dành cho khách hàng cá nhân.

[2.2] Kể từ thời điểm giải ngân cho đến nay bị đơn chỉ mới thanh toán cho nguyên đơn tổng số tiền 602.661.035 đồng, trong đó: nợ gốc 173.342.000 đồng, nợ lãi 429.319.035 đồng. Dư nợ đến thời điểm hiện tại 7.953.656.154 đồng. Do bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng TMCP P khởi kiện yêu cầu ông T và bà D phải thanh toán nợ vay. Bị đơn ông T và bà D thống nhất với nguyên đơn về việc ký kết các Hợp đồng tín dụng số ST23024632.01/2023/NTB/HĐTD ngày 30/8/2023, khế ước nhận nợ số ST23024632.01/2023/NTB/KUNN ngày 30/8/2023; Hợp đồng tín dụng số ST23024632.02/2023/NTB/HĐTD ngày 30/8/2023 và các khế ước nhận nợ số ST23024632.06/2023/NTB/KUNN ngày 21/8/2024, khế ước nhận nợ ST23024632.07/2023/NTB/KUNN ngày 22/8/2024, khế ước nhận nợ ST23024632.08/2023/NTB/KUNN ngày 22/8/2024; Giấy đề nghị kiêm Hợp đồng mở, sử dụng thẻ tín dụng, tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và đăng ký dịch vụ dành cho khách hàng cá nhân ngày 05/9/2023. Tuy nhiên, do tình hình kinh tế khó khăn nên bị đơn không thể thanh toán nợ đúng hạn cho Ngân hàng. Nay đối với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP P thì ông T và bà D đồng ý. Tuy nhiên, ông T và bà D đề nghị Ngân hàng TMCP P cho ông T và bà D thời hạn để tất toán khoản vay và giải chấp tài sản.

[2.3] Xét, các Hợp đồng tín dụng số ST23024632.01/2023/NTB/HĐTD ngày 30/8/2023, khế ước nhận nợ số ST23024632.01/2023/NTB/KUNN ngày 30/8/2023; Hợp đồng tín dụng số ST23024632.02/2023/NTB/HĐTD ngày 30/8/2023 và các khế ước nhận nợ số ST23024632.06/2023/NTB/KUNN ngày 21/8/2024, khế ước nhận nợ ST23024632.07/2023/NTB/KUNN ngày 22/8/2024, khế ước nhận nợ ST23024632.08/2023/NTB/KUNN ngày 22/8/2024; Giấy đề nghị kiêm Hợp đồng mở, sử dụng thẻ tín dụng, tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và đăng ký dịch vụ dành cho khách hàng cá nhân ngày 05/9/2023 được ký kết giữa nguyên đơn và bị đơn thể hiện ý chí tự nguyện thỏa thuận của các bên, không trái pháp luật, không vi phạm đạo đức xã hội nên có hiệu lực bắt buộc các bên phải thực hiện. Thực hiện hợp đồng Ngân hàng TMCP P giải ngân cho ông T và bà D đầy đủ số tiền vay. Quá trình thực hiện hợp đồng, ông T và bà D đã vi phạm nghĩa vụ, không thanh toán nợ đầy đủ, đúng hạn, do đó khoản vay đã chuyển thành khoản nợ quá hạn. Tại bản tự khai và đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị đơn thống nhất số tiền còn nợ của nguyên đơn, do tình hình kinh tế khó khăn nên đề nghị Ngân hàng cho bị đơn thời hạn để tất toán khoản vay và giải chấp tài sản tuy nhiên tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn không đồng ý. Do bị đơn không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ theo đúng với thỏa thuận đã ký kết với Ngân hàng P. Vì vậy, Ngân hàng P yêu cầu ông T và bà D phải thanh toán nợ phát sinh theo Hợp đồng tín dụng số ST23024632.01/2023/NTB/HĐTD ngày 30/8/2023, khế ước nhận nợ số ST23024632.01/2023/NTB/KUNN ngày 30/8/2023; Hợp đồng tín dụng số ST23024632.02/2023/NTB/HĐTD ngày 30/8/2023 và các khế ước nhận nợ số ST23024632.06/2023/NTB/KUNN ngày 21/8/2024, khế ước nhận nợ ST23024632.07/2023/NTB/KUNN ngày 22/8/2024, khế ước nhận nợ ST23024632.08/2023/NTB/KUNN ngày 22/8/2024; Giấy đề nghị kiêm Hợp đồng mở, sử dụng thẻ tín dụng, tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và đăng ký dịch vụ dành cho khách hàng cá nhân ngày 05/9/2023 tính đến ngày 26/3/2025 là 7.953.656.154 đồng, trong đó: Nợ gốc: 7.276.658.000 đồng, nợ lãi: 440.748.505 đồng, nợ thẻ: 236.249.649 đồng. Ngoài ra, bị đơn còn phải tiếp tục thanh toán cho nguyên đơn tiền lãi phát sinh cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

[2.4] Đối với xử lý tài sản thế chấp: Để đảm bảo cho khoản vay, ông T và bà D đã thế chấp các tài sản sau:

Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 3092, tờ bản đồ số 27, tọa lạc khu D, phường T, thị xã B, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CY 271371, số vào sổ cấp GCN: CS 59643 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 02/02/2021, cập nhật biến động lần cuối ngày 02/11/2021 theo Hợp đồng thế chấp tài sản số: ST23024632.01/2023/NTB/HĐTC ngày 30/8/2023, số công chứng 010792 tại Văn phòng C, tỉnh Bình Dương. Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ tài sản trên đất gồm có 12 phòng trọ loại 01 tầng có kết cấu nền gạch men, tường gạch xây tô sơn nước có ốp gạch men lững, mái tôn, trần ốp la phông, bên trong có gác lững bằng bê tông, lan can sắt, có nhà vệ sinh từng phòng, cửa sắt; 02 kiot loại 01 tầng có kết cấu nền gạch men, tường gạch xây tô sơn nước có ốp gạch men lững, mái tôn, trần ốp la phông, bên trong có gác lững bằng bê tông + lan can sắt, có nhà vệ sinh từng phòng, cửa sắt, cửa sắt kéo; 01 hành lang nền gạch men, mái tôn + khung cột sắt, cửa sắt; 01 đồng hồ điện, 01 đồng hồ nước.

+ Quyền sử dụng đất diện tích thuộc thửa đất số 1636, tờ bản đồ số 21, tọa lạc khu DC Ấ, phường C, thị xã B, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DG 964250, số vào sổ cấp GCN: CS 20667 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 25/08/2022 theo Hợp đồng thế chấp số ST23024632.02/2023/NTB/HĐTC ngày 30/8/2023 giữa Ngân hàng O với ông Đoàn Quang T và bà Vũ Thị D, số công chứng 010793 tại Văn phòng C, tỉnh Bình Dương. Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ tài sản trên đất gồm có 16 phòng trọ loại 01 tầng có kết cấu nền gạch men, tường gạch xây tô sơn nước có ốp gạch men lững, bên trong có gác lững, nhà vệ sinh từng phòng, cửa nhôm; 02 kiot mặt tiền loại 01 tầng có kết cấu: nền gạch men, tường gạch xây tô sơn nước có ốp gạch men lững, mái tôn, nhà vệ sinh từng phòng, cửa sắt kéo; 01 hành lang nền gạch men, mái tôn + khung cột sắt, cửa sắt; đồng hồ điện, đồng hồ nước.

Quyền sử dụng đất và các tài sản gắn liền trên đất nêu trên là tài sản của ông T và bà D. Theo đó, ông T và bà D đã sử dụng tài sản trên của mình để đảm bảo khoản vay tại Ngân hàng O. Xét, Hợp đồng thế chấp tài sản nêu trên thể hiện sự tự nguyện của các bên, không trái đạo đức, không trái pháp luật, tuân thủ quy định về hình thức và được đăng ký giao dịch đảm bảo đúng quy định của pháp luật nên có hiệu lực bắt buộc các bên phải thực hiện. Do đó, trường hợp ông T và bà D không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng O được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án phát mại tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất nêu trên để thu hồi nợ là phù hợp.

[3] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.

[4] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Nguyên đơn đã đóng tạm ứng toàn bộ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ với số tiền 10.000.000đ (mười triệu đồng). Do đó, ông T và bà D phải có trách nhiệm trả lại cho nguyên đơn số tiền nguyên đơn đã tạm ứng.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải chịu án phí có giá ngạch trên tổng số tiền phải trả cho nguyên đơn theo quy định của Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi, bổ sung năm 2017; các Điều 299 và 323 Bộ luật Dân sự năm 2015; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 144, 147, 157, 158, 227, 228, 266, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự, tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng P đối với ông Đoàn Quang T và bà Vũ Thị D về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng.
    1. Buộc ông Đoàn Quang T và bà Vũ Thị D thanh toán cho Ngân hàng P số tiền còn nợ phát sinh từ Hợp đồng tín dụng số ST23024632.01/2023/NTB/HĐTD ngày 30/8/2023, khế ước nhận nợ số ST23024632.01/2023/NTB/KUNN ngày 30/8/2023; Hợp đồng tín dụng số ST23024632.02/2023/NTB/HĐTD ngày 30/8/2023 và các khế ước nhận nợ số ST23024632.06/2023/NTB/KUNN ngày 21/8/2024, khế ước nhận nợ ST23024632.07/2023/NTB/KUNN ngày 22/8/2024, khế ước nhận nợ ST23024632.08/2023/NTB/KUNN ngày 22/8/2024; Giấy đề nghị kiêm Hợp đồng mở, sử dụng thẻ tín dụng, tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và đăng ký dịch vụ dành cho khách hàng cá nhân ngày 05/9/2023, tính đến ngày 26/3/2025 là 7.953.656.154đ (bảy tỷ chín trăm năm mươi ba triệu sáu trăm năm mươi sáu nghìn một trăm năm mươi tư đồng), trong đó:
      • Nợ gốc: 7.276.658.000đ (bảy tỷ hai trăm bảy mươi sáu triệu sáu triệu sáu trăm năm mươi tám nghìn đồng);
      • Nợ lãi: 440.748.505đ (bốn trăm bốn mươi bốn triệu bảy trăm bốn mươi tám nghìn năm trăm lẻ năm đồng);
      • Nợ thẻ: 236.249.649đ (hai trăm ba mươi sáu triệu hai trăm bốn mươi chín nghìn sáu trăm bốn mươi chín đồng).

      Tiền lãi được tiếp tục tính từ ngày 27/3/2025 cho đến khi ông Đoàn Quang T và bà Vũ Thị D trả xong khoản nợ theo mức lãi suất thoả thuận trong Hợp đồng tín dụng số ST23024632.01/2023/NTB/HĐTD ngày 30/8/2023, khế ước nhận nợ số ST23024632.01/2023/NTB/KUNN ngày 30/8/2023; Hợp đồng tín dụng số ST23024632.02/2023/NTB/HĐTD ngày 30/8/2023 và các khế ước nhận nợ số ST23024632.06/2023/NTB/KUNN ngày 21/8/2024, khế ước nhận nợ ST23024632.07/2023/NTB/KUNN ngày 22/8/2024, khế ước nhận nợ ST23024632.08/2023/NTB/KUNN ngày 22/8/2024; Giấy đề nghị kiêm Hợp đồng mở, sử dụng thẻ tín dụng, tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và đăng ký dịch vụ dành cho khách hàng cá nhân ngày 05/9/2023.

    2. Trường hợp ông Đoàn Quang T và bà Vũ Thị D không thanh toán số tiền trên thì Ngân hàng P được quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ bao gồm:
      • Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 3092, tờ bản đồ số 27, tọa lạc khu D, phường T, thị xã B, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CY 271371, số vào sổ cấp GCN: CS 59643 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 02/02/2021, cập nhật lần cuối ngày 02/11/2021 theo Hợp đồng thế chấp tài sản số: ST23024632.01/2023/NTB/HĐTC ngày 30/8/2023, số công chứng 010792 tại Văn phòng C, tỉnh Bình Dương. Tài sản gắn liền trên đất: 12 phòng trọ loại 01 tầng có kết cấu nền gạch men, tường gạch xây tô sơn nước có ốp gạch men lững, mái tôn, trần ốp la phông, bên trong có gác lững bằng bê tông, lan can sắt, có nhà vệ sinh từng phòng, cửa sắt; 02 kiot loại 01 tầng có kết cấu nền gạch men, tường gạch xây tô sơn nước có ốp gạch men lững, mái tôn, trần ốp la phông, bên trong có gác lững bằng bê tông + lan can sắt, có nhà vệ sinh từng phòng, cửa sắt, cửa sắt kéo; 01 hành lang nền gạch men, mái tôn + khung cột sắt, cửa sắt; 01 đồng hồ điện, 01 đồng hồ nước.
      • Quyền sử dụng đất diện tích thuộc thửa đất số 1636, tờ bản đồ số 21; tọa lạc khu DC Ấ, phường C, thị xã B, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DG 964250, số vào sổ cấp GCN: CS 20667 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 25/08/2022 theo Hợp đồng thế chấp số ST23024632.02/2023/NTB/HĐTC ngày 30/8/2023 giữa Ngân hàng P với ông Đoàn Quang T và bà Vũ Thị D, số công chứng 010793 tại Văn phòng C, tỉnh Bình Dương. Tài sản gắn liền trên đất: 16 phòng trọ loại 01 tầng có kết cấu nền gạch men, tường gạch xây tô sơn nước có ốp gạch men lững, bên trong có gác lững, nhà vệ sinh từng phòng, cửa nhôm; 02 kiot mặt tiền loại 01 tầng có kết cấu nền gạch men, tường gạch xây tô sơn nước có ốp gạch men lững, mái tôn, nhà vệ sinh từng phòng, cửa sắt kéo; 01 hành lang nền gạch men, mái tôn + khung cột sắt, cửa sắt; 01 đồng hồ điện, 01 đồng hồ nước.
  2. Chi phí tố tụng khác: Ông Đoàn Quang T và bà Vũ Thị D phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP P chi phí xem xét thẩm định tại chỗ với số tiền 10.000.000đ (mười triệu đồng).
  3. Án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn ông Đoàn Quang T và bà Vũ Thị D phải chịu 115.953.656đ (một trăm mười lăm triệu chín trăm năm mươi ba nghìn sáu trăm năm mươi sáu đồng). Trả lại cho Ngân hàng TMCP P số tiền 57.825.373đ (năm mươi bảy triệu tám trăm hai mươi lăm nghìn ba trăm bảy mươi ba đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0007563 ngày 17/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
  4. Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương (01);
  • - VKSND thành phố Dĩ An (01);
  • - Chi cục THADS thành phố Dĩ An (01);
  • - Các đương sự (03);
  • - Lưu: Văn phòng, hồ sơ vụ án (02).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 38/2025/DS-ST ngày 27/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 38/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP P
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger