Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2025/HS-PT

Ngày: 25/3/2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Ngọc Lâm

Các Thẩm phán: Ông Đào Anh Đức

Bà Lê Thị Hiệu

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Thắng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa:

Ông Trần Huy D - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 52/2025/TLPT-HS ngày 21 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo Trần Thị Q, Đỗ Thị Hải Y do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 01/2025/HS-ST08 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hoá. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2025/QĐXXPT-HS ngày 04/3/2025.

Bị cáo có kháng cáo:

1. Trần Thị Q; Giới tính: Nữ; sinh ngày: 04/01/1978, tại huyện X, tỉnh Nam Định; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: Xóm A, xã T (trước là xã X), huyện X, tỉnh Nam Định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Kinh doanh; Trình độ học vấn: 07/12; con ông: Trần Đức T và bà: Trần Thị L, C chồng là Phạm Hữu T1 và 04 con”: Lớn nhất sinh năm 1998, nhỏ nhất sinh năm 2009; Tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chăn lệnh Cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Đỗ Thị Hải Y; Giới tính: Nữ; sinh ngày: 31/12/1976, tại H, Thanh Hóa; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: số nhà A, đường B, khu phố F, phường B, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Kinh doanh; Trình độ học vấn: 09/12; Con ông: Đỗ Kim T2, con bà: Ngô Thị L1 (đã chết); bị cáo có chồng là Lê Thanh H và 02 con, lớn sinh năm 1995, nhỏ sinh năm 2000; Tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chăn lệnh Cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chi cục Thuế khu vực thị xã B - H Địa chỉ: Số D T, phường B, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa

Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Thanh L2 - Chức vụ: Chi cục trưởng

Người đại diện theo uỷ quyền: ông Đoàn Văn H1, chức vụ: Đội trưởng đội nghiệp vụ quản lý thuế (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong khoảng thời gian từ năm 2019 đến năm 2022 các bị can Trần Thị Q, Vũ Thị T3, Vũ Mạnh H2, An Thị Thùy L3, Nguyễn Thị X, Nguyễn Văn D1, Nguyễn Thị M, Trịnh Xuân L4, Phạm Văn P, Đỗ Thị Hải Y đã thực hiện hành vi mua bán trái phép hoá đơn. Ngoài ra, Đỗ Thị Hải Y còn thực hiện hành vi trốn thuế, cụ thể như sau:

I.Về hành vi mua, bán trái phép hoá đơn

1. Hành vi của Trần Thị Q và Vũ Thị T3

Công ty TNHH T12 (sau đây gọi tắt là Công ty T12) có địa chỉ tại: Xóm E H, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định, người đại diện theo pháp luật là Trần Thị Q, kế toán trưởng là Vũ Thị T3. Ngành nghề hoạt động kinh doanh theo đăng ký: sản xuất đồ gỗ xây dựng, vận tải hàng hóa bằng đường bộ, buôn bán vật liệu xây dựng. Hoạt động kinh doanh chính là sản xuất gỗ.

Công ty TNHH T13 (sau đây gọi tắt là Công ty T13) có địa chỉ tại: đường A, thôn T, xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình, người đại diện theo pháp luật là Phạm Hữu T1 (chồng của Trần Thị Q). Kế toán là Vũ Thị T3. Ngành nghề kinh doanh: Buôn bán kim loại, quặng kim loại; Buôn bán vật liệu, thiết bị lắp đặt trong xây dựng.

Đối với cả 02 công ty, thời gian đầu khi mới thành lập đều có hoạt động kinh doanh thực tế phù hợp với giấy phép kinh doanh. Mọi hoạt động kinh doanh của 02 công ty đều do Trần Thị Q quản lý, chỉ đạo, điều hành. Tuy nhiên, sau thời gian làm ăn thua lỗ, khoảng đầu năm 2019, Q đã ngừng các hoạt động kinh doanh thực tế của cả hai công ty. Lúc này, Q nhận thấy nhu cầu mua hoá đơn giá trị gia tăng (viết tắt: GTGT) của các công ty khác trên thị trường kinh doanh ngày càng tăng, lợi nhuận nhiều nên nảy sinh ý định mua bán trái phép hoá đơn giá trị gia tăng nhằm mục đích kiếm lời.

*Hành vi bán trái phép hoá đơn

Trần Thị Q và Vũ Thị T3 đã bán trái phép 191 hóa đơn GTGT không có hàng hóa, dịch vụ kèm theo (gồm 21 hóa đơn GTGT của Công ty T12 và 170 hóa đơn GTGT của Công ty T13) cho các cá nhân liên quan đến 16 doanh nghiệp, cụ thể:

(1). Bán trái phép 34 hoá đơn GTGT cho Công ty Cổ phần P2, mã số thuế: 2802333303, địa chỉ: đường N, khu phố D, phường B, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa, trong đó: có 21 hoá đơn là Công ty T12 xuất (từ 01/2019 đến 6/2020) với tổng giá trị tiền hàng chưa có thuế là: 12.833.027.680 đồng và 13 hoá đơn GTGT là Công ty T13 xuất (từ tháng 7/2020 đến tháng 6/2021) với tổng giá trị tiền hàng chưa có thuế: 17.160.615.160 đồng. Giá bán hoá đơn là 8,5% giá trị hàng hóa ghi trên hóa đơn trước thuế, trong đó, Q phải chi 8% để mua hoá đơn đầu vào. Số tiền Q được hưởng chênh lệch là 149.968.214 đồng.

(2). Bán trái phép 47 (bốn mươi bảy) hóa đơn GTGT của Công ty T13 cho Công ty Cổ phần L13, địa chỉ: số A P, phường P, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa (từ 6/2019 đến 5/2022) với tổng giá trị tiền hàng chưa có thuế: 34.704.133.000 đồng. Giá bán hoá đơn là 7% giá trị hàng hóa ghi trên hóa đơn chưa có thuế, trong đó, Q phải chi 6,7% % để mua hoá đơn đầu vào. Số tiền Q được hưởng chênh lệch là 104.112.399 đồng.

(3-4). Bán trái phép 38 (ba mươi tám) hoá đơn GTGT của Công ty T13 cho 02 công ty, gồm: 31 (ba mươi mốt) hóa đơn GTGT (từ 12/2020 đến 6/2022) cho Công ty TNHH B, địa chỉ: Tiểu khu P, đường B, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa với tổng giá trị tiền hàng chưa có thuế: 19.126.560.986 đồng, tiền thuế GTGT: 1.863.103.279 đồng và 07 (bảy) hóa đơn GTGT cho Công ty TNHH B, địa chỉ: Tiểu khu P, thị trấn H, tỉnh Thanh Hóa với tổng giá trị tiền hàng chưa có thuế: 4.510.392.000 đồng, tiền thuế GTGT: 451.039.200 đồng. Giá bán hoá đơn là 7% giá trị hàng hóa ghi trên hóa đơn chưa có thuế, trong đó, Q phải chi 6,5% để mua hoá đơn đầu vào. Số tiền Q được hưởng chênh lệch là 118.184.765 đồng.

(5). Bán trái phép 13 (mười ba) hóa đơn GTGT của Công ty T13 (từ 9/2020 đến 7/2022) cho Công ty TNHH X1, địa chỉ: B đường B, phường B, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa với tổng giá trị tiền hàng chưa có thuế: 6.442.020.905 đồng, tiền thuế GTGT: 594.669.396 đồng. Giá bán hoá đơn là 7% giá trị hàng hóa ghi trên hóa đơn chưa có thuế, trong đó, Q phải chi 6,7% % để mua hoá đơn đầu vào. Số tiền Q được hưởng chênh lệch là 19.326.063 đồng.

(6). Bán trái phép 27 (hai mươi bảy) hóa đơn GTGT của Công ty T13 (từ 1/2021 đến 12/2021) cho Công ty TNHH X2, địa chỉ: số A T, khu phố E, phường B, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa với tổng tiền hàng chưa có thuế: 12.288.936.800 đồng, tiền thuế GTGT: 1.228.893.680 đồng. Giá bán hoá đơn là 7% giá trị hàng hóa, dịch vụ ghi trên hóa đơn trước thuế, trong đó, Q phải chi 6,7% % để mua hoá đơn đầu vào. Số tiền Q được hưởng chênh lệch là 36.866.810 đồng.

(7-8). Bán trái phép tổng số 16 (mười sáu) hoá đơn GTGT của Công ty T13 (từ 4/2022 đến 7/2022) cho 02 công ty, gồm: 03 (ba) số hóa đơn GTGT cho Công ty TNHH T14, địa chỉ: Đ, xã M, huyện Y, tỉnh Ninh Bình với tổng giá trị tiền hàng chưa có thuế: 823.743.800 đồng; 13 (mười ba) hóa đơn GTGT cho Công ty TNHH V3, địa chỉ: Xóm C, xã M, huyện Y, tỉnh Ninh Bình với giá trị tiền hàng chưa có thuế: 4.726.970.890 đồng. Giá bán hoá đơn là 7% giá trị hàng hóa, dịch vụ ghi trên hóa đơn trước thuế, trong đó, Q phải chi 6,7% % để mua hoá đơn đầu vào. Số tiền Q được hưởng chênh lệch là 16.652.144 đồng.

(9). Bán trái phép 03 (ba) hóa đơn GTGT (số 04 ngày 02/5/2022, số 6 ngày 4/5/2022 và số 9 ngày 10/5/2022) của Công ty T13 cho Công ty Cổ phần M1, địa chỉ: thôn N, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa với tổng giá trị tiền hàng chưa có thuế: 42.510.000đồng. Giá bán hoá đơn 7% giá trị hàng hóa ghi trên hóa đơn chưa có thuế, trong đó, Q phải chi 6,7% % để mua hoá đơn đầu vào. Số tiền Q được hưởng chênh lệch là 127.530 đồng.

(10). Bán trái phép 01 (một) hóa đơn GTGT (số 05 ngày 04/5/2022) của Công ty T13 cho Công ty cổ phần T15, địa chỉ: thôn N, xã M, thị xã K, tỉnh Hải Dương với tổng giá trị tiền hàng ghi trên hóa đơn chưa có thuế: 362.250.000 đồng. Giá bán hoá đơn là 7% giá trị hàng hóa ghi trên hóa đơn chưa có thuế, trong đó, Q phải chi 6,7% % để mua hoá đơn đầu vào. Số tiền Q được hưởng chênh lệch là 1.086.750đồng.

(11). Bán trái phép 02 (hai) hóa đơn GTGT (số 15, 16 ngày 19/5/2022) của Công ty T13 cho Công ty TNHH Đ5, địa chỉ: thôn C, xã L, huyện H, tỉnh Thanh Hóa với tổng giá trị tiền hàng chưa có thuế: 220.260.000đồng. Giá bán hoá đơn là 7% giá trị hàng hóa ghi trên hóa đơn chưa có thuế, trong đó, Q phải chi 6,7% % để mua hoá đơn đầu vào. Số tiền Q được hưởng chênh lệch là 660.780 đồng.

(12). Bán trái phép 03 (ba) hóa đơn GTGT (số 28,29 ngày 06/6/2022 và số 34 ngày 14/6/2022) của Công ty T13 cho Công ty TNHH X3, địa chỉ: thôn V, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa với tổng giá trị tiền hàng chưa có thuế: 2.000.000.000 đồng. giá bán hoá đơn là 7% giá trị hàng hóa ghi trên hóa đơn chưa có thuế, trong đó, Q phải chỉ 6,7% % để mua hoá đơn đầu vào. Số tiền Q được hưởng chênh lệch là 6.000.000 đồng.

(13). Bán trái phép 02 (hai) hóa đơn GTGT (số 35, 36 ngày 26/6/2022) của Công ty T13 cho Công ty TNHH X4, địa chỉ: số nhà B Tiểu khu C, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa với tổng giá trị tiền hàng chưa có thuế: 182.879.000 đồng. Giá bán hoá đơn là 7% giá trị hàng hóa ghi trên hóa đơn chưa có thuế, trong đó, Q phải chỉ 6,7% % để mua hoá đơn đầu vào. Số tiền Q được hưởng chênh lệch là 548.637 đồng.

(14). Bán trái phép 03 (ba) hóa đơn GTGT (số 42 ngày 25/7/2022 và số 45, 46 ngày 29/7/2022) của Công ty T13 cho Công ty TNHH T16, địa chỉ: số nhà A Tổ B, phường B, thành phố T, tỉnh Ninh Bình với tổng giá trị tiền hàng chưa có thuế: 856.000.000 đồng. Giá bán hoá đơn là 7% giá trị hàng hóa ghi trên hóa đơn chưa có thuế, trong đó, Q phải chi 6,7% % để mua hoá đơn đầu vào. Số tiền Q được hưởng chênh lệch là 2.568.000 đồng.

(15). Bán trái phép 01 (một) hóa đơn GTGT số 43 ngày 25/7/2022 của Công ty T13 cho Công ty TNHH S1 địa chỉ: thôn B, xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình với tổng giá trị tiền hàng chưa có thuế: 56.000.000 đồng. Giá bán hoá đơn là 7% giá trị hàng hóa ghi trên hóa đơn chưa có thuế, trong đó, Q phải chi 6,7% % để mua hoá đơn đầu vào. Số tiền Q được hưởng chênh lệch là 168.000 đồng.

(16). Bán trái phép 01 (một) hóa đơn GTGT (số của Công ty T13, giá trị tiền hàng chưa có thuế: 56.000.000 đồng, cho Công ty TNHH P3, địa chỉ: Thôn A, xã Đ, thành phố T, tỉnh Ninh Bình với giá 7% giá trị hàng hóa ghi trên hóa đơn chưa có thuế, trong đó, Q phải chi 6,7% % để mua hoá đơn đầu vào. Số tiền Q được hưởng chênh lệch là 168.000đồng.

*Hành vi mua trái phép hoá đơn GTGT

Để hợp thức hóa cho 191 hoá đơn đầu vào Q và T3 đã bán trái phép như đã nêu trên, sau khi T3 trao đổi với Q về việc phải có hoá đơn đầu vào tương ứng với lượng hoá đơn đã bán ra thì Q chỉ đạo T3 cân đối, tính toán số lượng, giá trị hàng hóa ghi trong hoá đơn bán khống đầu ra của Công ty T12, Công ty T13. Trên cơ sở đó, Q liên hệ, trao đổi với một người phụ nữ tên là T4 ở khu vực cầu Q thuộc thành phố Hải Phòng nhưng không rõ họ tên, lai lịch, địa chỉ cụ thể để mua khống hóa đơn đầu vào với giá từ 6,5% đến 8,0% tổng giá trị tiền hàng hóa, dịch vụ chưa thuế ghi trên hóa đơn GTGT nhằm hợp thức hoá cho số hoá đơn mà Q đã bán trái phép cho khách hàng. Q cung cấp thông tin cho T4 để soạn thảo hợp đồng, biên bản giao nhận hàng hóa và xuất hóa đơn khống cho Q. Về hình thức thanh toán, Q ký và đóng dấu vào các Ủy nhiệm chi và gửi theo địa chỉ về cầu Q cho T4 để bên Công ty bán hóa đơn tự nộp tiền và rút tiền nhằm hợp thức hành vi mua bán trái phép hóa đơn (vì thế không có dữ liệu thể hiện trong tra cứu lịch sử chuyển tiền của Công ty T13, Yến Huyền L5 cũng như của cá nhân T3 và Q). Bản thân Q không xác định được đã mua bao nhiêu hóa đơn khống đầu vào, cụ thể của những Công ty nào, mã số thuế, địa chỉ ở đâu. Do là hoá đơn giấy, Cơ quan điều tra cũng không thu giữ được hóa đơn GTGT đầu vào, Hợp đồng, biên bản giao nhận hàng hóa, bảng kê hóa đơn dịch vụ mua vào của Công ty T12, Công ty T13, do đó, không có căn cứ để xác định được hết số lượng hóa đơn hàng hóa, dịch vụ mua vào của Công ty T12 và Công ty T13.

Quá trình điều tra chỉ xác định được: Q và T3 đã mua khống 06 hoá đơn GTGT (hoá đơn điện tử) của 02 doanh nghiệp gồm: 04 (bốn) hóa đơn GTGT của Công ty TNHH MTV T17, địa chỉ: thôn V, xã V, huyện V, tỉnh Bắc Giang (số 148 ngày 20/7/2024, số 191, 192 và 193) ngày 25/7/2024 với tổng giá trị tiền hàng chưa có thuế là 2.349.3000.000đồng) và 02 (hai) hóa đơn GTGT của Công ty TNHH T18, địa chỉ: thôn N, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang (số 86 ngày 07/7/2022 và số 120 ngày 11/7/2022 với tổng giá trị tiền hàng chưa có thuế là 783.464.535 đồng) cho Công ty TNHH T13. Giá mua hoá đơn là 6,7%/ tổng giá trị hàng hoá, dịch vụ chưa thuế.

*Số tiền thu lợi từ việc mua, bán trái phép hoá đơn

Tổng số tiền chệnh lệch từ việc mua và bán hoá đơn trái phép (số tiền phí bán hoá đơn cho khách - số tiền Q đã bỏ ra để mua hoá đơn đầu vào) Q nhận được là 456.438.292đồng. Sau khi trừ các khoản chi phí tiền lương cho kế toán; tiền thuê trụ sở làm việc của hai công ty; chi phí văn phòng phẩm, phôi hoá đơn, thiết bị token phục vụ cho việc xuất hoá đơn; chi phí điện thoại, đi lại, chi phí gửi chứng từ qua bưu điện, xe khách hết tổng số tiền 265.000.000 đồng.

Như vậy tổng số tiền Q được hưởng lợi từ việc mua, bán hoá đơn là 191.438.292 đồng (một trăm chín mươi mốt triệu bốn trăm ba mươi tám nghìn hai trăm chín mươi hai đồng).

Đối với Vũ Thị T3: quá trình điều tra xác định ngoài số tiền lương cố định hàng tháng là 3.000.000đ thì T3 không được hưởng thêm bất kỳ khoản tiền hay lợi ích vật chất nào khác từ hành vi mua bán trái phép hoá đơn như đã nêu trên.

Biết hành vi của mình đã bị phát hiện và không thể trốn tránh được nên ngày 01/04/2024 Vũ Thị T3 và ngày 08/04/2024 Trần Thị Q đến Cơ quan CSĐT Công an thị xã B đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Đối với hệ thống máy tính, thiết bị điện tử và hồ sơ, hoá đơn, chứng từ cũng như các tài liệu liên quan: sau khi 02 Công ty dừng hoạt động, do máy móc đã hỏng nên Q đã thanh lý bán đồng nát, không nhớ là đã bán cho ai. Đối với hồ sơ, giấy tờ do ẩm thấp, mối mọt tài liệu đã bị hư hỏng hết nên đã dọn dẹp và bỏ đi hết. Vì vậy, quá trình khám xét nơi ở của Trần Thị Q và nơi ở của Vũ Thị Thanh Cơ Q1 điều tra không thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài sản, tài liệu gì có liên quan đến vụ án.

2. Hành vi mua trái phép hoá đơn của Vũ Mạnh H2 và An Thị Thùy L3

Công ty Cổ phần P2 (sau đây viết tắt là Công ty P2), có địa chỉ tại đường N, khu phố D, phường B, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa. Vũ Mạnh H2 là giám đốc, An Thị Thùy L3 là kế toán nội bộ, thực hiện việc chuyển tiền, rút tiền và hoàn thiện các hồ sơ, chứng từ mua bán hàng hóa cho Công ty theo sự chỉ đạo của H2. Công ty P2 hoạt động kinh doanh chủ yếu là khai thác khoáng sản, kinh doanh vận tải và thương mại. Ngoài ra, công ty P2 còn 04 cổ đông khác gồm là Đỗ Văn T5, Bùi Thanh Q2, Lường Văn Đ, Bùi Huy T6 và 01 kế toán thuế là anh Trương Thế T7 có nhiệm vụ kê khai, báo cáo thuế cho Công ty.

Trong thời gian từ năm 2019 đến năm 2021, Vũ Mạnh H2 đã mua trái phép 34 (ba mươi tư) hóa đơn GTGT của Trần Thị Q, gồm: 21 (hai mươi mốt) hóa đơn GTGT của Công ty T12 (mười ba) hóa đơn GTGT của Công ty T13. Toàn bộ số hóa đơn này đều không có hàng hóa, dịch vụ kèm theo hóa đơn. Trong số 34 hoá đơn nêu trên, có 13 số hoá đơn của Công ty T13 xuất cho Công ty P2 có sự tham gia của An Thị Thùy L3, cụ thể: khi H2 giao cho L3 nhiệm vụ liên hệ với Q và T3 để cung cấp khối lượng hàng hoá cần ghi trong hoá đơn và cung cấp số tài khoản cá nhân của L3 để nhận tiền trả về cho H2, L3 đã nhận thức được việc mua bán

hoá đơn là không có hàng hoá dịch vụ kèm theo nhưng L3 vẫn thực hiện theo sự chỉ đạo của H2 như thực hiện việc chuyển tiền, rút tiền và hoàn thiện các hồ sơ chứng từ liên quan đến việc mua bán trái phép hoá đơn. Sau đó, theo sự chỉ đạo của H2, L3 đã trực tiếp liên hệ với Q, T3 để cung cấp thông tin về số lượng hàng hoá cần ghi trong hoá đơn, cung cấp số tài khoản cá nhân của mình để nhận và rút tiền về cho H2. Tổng cộng, L3 đã giúp cho Vũ Mạnh H2 trong việc mua trái phép 13 số hoá đơn của Công ty T13 xuất cho Công ty P2. Đối với 21 số hóa đơn Công ty T12 đã xuất cho Công ty P2, thời điểm này Vũ Mạnh H2 thuê kế toán thời vụ, đã thay đổi nhiều lần, bản thân H2 không biết là có giao cho ai không. Cơ quan CSĐT không thu giữ được các tài liệu liên quan khác nên không có căn cứ để điều tra, xác định ngoài H2 còn có ai khác tham gia cùng. Như vậy, H2 phải chịu trách nhiệm về hành vi mua bán trái phép đối với 34 số hoá đơn.

Ngày 31/03/2024, biết hành vi của mình đã bị phát hiện và biết không thể trốn tránh được nên Vũ Mạnh H2 và An Thị Thùy L3 đã tự nguyện đến Cơ quan CSĐT Công an thị xã B để đầu thú về hành vi “Mua bán trái phép hóa đơn thu nộp Ngân sách Nhà nước”

*Vật chứng thu giữ:

Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, danh sách cổ đông của Công ty P2 và toàn bộ 21 số hoá đơn GTGT (hoá đơn giấy, liên 2 bản gốc), các hợp đồng, biên bản xác nhận khối lượng và chứng từ kèm theo (bản gốc) của Công ty T12 xuất cho công ty P2; 13 số hoá đơn GTGT (hoá đơn giấy, liên 2 bản gốc), biên bản xác nhận khối lượng, vật tư hàng hoá, 03 bản hợp đồng kinh tế giữa công ty T13 và Công ty P2 được chuyển theo hồ sơ vụ án.

3. Hành vi mua trái phép hóa đơn GTGT của Nguyễn Văn D1 và Nguyễn Thị X

Công ty TNHH B (sau đây viết tắt là Công ty B), có địa chỉ tại Tiểu khu P, đường B, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Người đại diện theo pháp luật là Nguyễn Văn D1, kế toán của công ty là Nguyễn Thị X. Lĩnh vực hoạt động là chế biến lâm sản, vận tải hàng hóa, khai thác khoáng sản, buôn bán vật liệu xây dựng, chuẩn bị mặt bằng, xây dựng.

Công ty TNHH B (sau đây viết tắt là Công ty B), có địa chỉ tại Tiểu khu P, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Người đại diện theo pháp luật của công ty là bà Đỗ Phương T8, sinh ngày 01/12/1984 (là vợ của Nguyễn Văn D1, được D1 nhờ đứng tên trên giấy tờ). Lĩnh vực hoạt động là: sản xuất sản phẩm từ gỗ, khai thác khoáng sản, vận tải. Công ty không có kế toán cố định mà chỉ thuê kê toán thời vụ theo các kỳ kê khai, báo báo thuế và đã nhiều lần thay đổi kế toán.

Đối với cả hai công ty, từ khi thành lập đến nay, D1 là người trực tiếp chỉ đạo, điều hành, quản lý toàn bộ hoạt động kinh doanh của Công ty.

Trong khoảng thời gian từ tháng 12/2020 đến tháng 06/2022 Nguyễn Thị X đã giúp cho Nguyễn Văn D1 thực hiện hành vi mua bán trái phép 31 hoá đơn

GTGT của Công ty T13 cho Công ty B. Xuyến chỉ trao đổi và nhận sự chỉ đạo của mình D1, ngoài ra không có ai khác biết hay tham gia. Ngoài số tiền lương hàng tháng Xuyến không được hưởng thêm bất kỳ khoản tiền hay lợi ích vật chất nào từ hành vi mua bán phép hoá đơn.

Đối với Công ty B: Nguyễn Văn D1 đã trực tiếp liên hệ với Q để mua trái phép 07 hoá đơn của Công ty T13 cho Công ty B. Do là công ty nhỏ nên D1 chỉ thuê kế toán thời vụ làm kê khai, báo cáo thuế lại liên tục thay đổi kế toán nên việc tập hợp các số liệu, đầu vào, đầu ra là do Dự trực tiếp làm.

Như vậy, D1 phải chịu trách nhiệm về hành vi mua trái phép 38 số hoá đơn GTGT của Công ty T13 xuất cho công ty B và Công ty B, trong đó Nguyễn Thị X đồng phạm với D1 trong việc mua trái phép 31 số hoá đơn GTGT của Công ty B.

Biết không thể trốn tránh được nên ngày 10/04/2024 Nguyễn Văn D1 và ngày 12/04/2024 Nguyễn Thị X đã tự nguyện đến Cơ quan CSĐT Công an thị xã B để đầu thú về hành vi “Mua bán trái phép hóa đơn, thu nộp Ngân sách Nhà nước” và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

*Vật chứng thu giữ:

Đối với các tài liệu là 23 (hai mươi ba) hóa đơn GTGT (loại hóa đơn giấy, liên 2, bản gốc); 08 (tám) hóa đơn GTGT (loại hóa đơn điện tử) của Công ty TNHH T13 xuất cho Công ty TNHH B cùng các hợp đồng kinh tế, hợp đồng nguyên tắc, biên bản giao nhận hàng hóa, chứng từ liên quan và 07 (bảy) hóa đơn GTGT (loại hóa đơn giấy, liên 2, bản gốc) của Công ty TNHH T13 xuất cho Công ty B kèm theo hợp đồng kinh tế, hợp đồng mua bán, bảng tổng hợp giao nhận khối lượng hàng hoá đây là các tài liệu liên quan đến vụ án, Cơ quan điều tra chuyển theo hồ sơ vụ án.

4. Hành vi mua trái phép hoá đơn GTGT của Trịnh Xuân L4 và Nguyễn Thị M

Công ty Cổ phần L13 (sau đây viết tắt là Công ty L13), có địa chỉ tại số A đường P, phường P, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa. Trịnh Xuân L4 là Chủ tịch Hội đồng quản trị, người đại diện theo pháp luật đồng thời là người quản lý, chỉ đạo, điều hành, quyết định các công việc kinh doanh của Công ty L13 trong thời gian từ năm 2009 đến nay. Kế toán của Công ty là Nguyễn Thị M. Lĩnh vực hoạt động của Công ty là kinh doanh nhà hàng, khách sạn; dịch vụ vận tải hàng hoá, thi công công trình xây dựng dân dụng, giao thông, thuỷ lợi, đường sắt, nhà ở, san lấp mặt bằng...

Trong thời gian từ năm 2019 đến năm 2022, Nguyễn Thị M đã tích cực giúp cho Trịnh Xuân L4 mua trái phép 47 (bốn mươi bảy) hóa đơn GTGT của Công ty T13 cho Công ty L13. Toàn bộ 47 hóa đơn này đều không có hàng hóa, dịch vụ kèm theo. Về phương thức thanh toán: Nguyễn Thị M thực hiện việc chuyển tiền từ tài khoản của công ty L13 đến tài khoản của Công ty T13, khi nhận được tiền Q rút toàn bộ, giữ lại 7% phí mua bán hóa đơn chuyển trả lại tiền cho

Công ty L13 qua tài khoản cá nhân của Nguyễn Thị M, số A – tại Ngân hàng V4 – Chi nhánh B1. Sau đó, M rút toàn bộ số tiền này về đưa cho L4.

Biết không thể trốn tránh nên ngày 12/04/2024, Nguyễn Thị M và ngày 08/05/2024, Trịnh Xuân L4 đến Cơ quan CSĐT Công an thị xã B đầu thú về hành vi “Mua bán trái phép hóa đơn” và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

*Vật chứng thu giữ:

Sau khi tiến hành kiểm tra, có những đồ vật, tài liệu có liên quan đến vụ án: 47 (bốn mươi bảy) số hóa đơn GTGT của Công ty TNHH T13 đã xuất cho Công ty cổ phần L13; Hợp đồng kinh tế, Biên bản giao nhận hàng hóa, phiếu xuất kho, phiếu nhập kho, chứng từ ghi sổ liên quan đến hóa đơn của Công ty T13; sao kê tài khoản Ngân hàng và một số chứng từ, tài liệu có liên quan khác. Cơ quan điều tra chuyển theo hồ sơ vụ án.

5. Hành vi mua trái phép hoá đơn của Phạm Văn P

Công ty TNHH X1 (sau đây viết tắt là Công ty X1), có địa chỉ tại: số B đường B, phường B, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa. Phạm Văn P là người đại diện theo pháp luật của Công ty Đó là người trực tiếp chỉ đạo, điều hành, quản lý toàn bộ hoạt động của Công ty X1. Kế toán của Công ty cũng là Nguyễn Thị M (kế toán Công ty L13). Lĩnh vực hoạt động của công ty là khai thác, kinh doanh khoáng sản, chuẩn bị mặt bằng, vận tải hàng hóa, xây dựng.

Trong thời gian từ năm 2020 đến 2022, Phạm Văn P đã mua trái phép 13 (mười ba) hóa đơn GTGT của Trần Thị Q (hoá đơn do Công ty T13 xuất cho công ty X1). Toàn bộ 13 hóa đơn này đều không có hàng hóa, dịch vụ kèm theo.

Ngày 13/05/2024, do biết hành vi của mình đã bị phát hiện nên Phạm Văn P đã tự nguyện đến Cơ quan CSĐT Công an thị xã B để đầu thú về hành vi “Mua bán trái phép hóa đơn thu nộp Ngân sách Nhà nước”, khai nhận hành vi phạm tội.

* Vật chứng thu giữ:

Tiến hành kiểm tra, thu giữ và chuyển theo hồ sơ vụ án các đồ vật, tài liệu gồm:

  • + Tập Hợp đồng nguyên tắc, phiếu nhập kho, Biên bản nghiệm thu khối lượng hoàn thành giữa Công ty TNHH X1 và Công ty TNHH T13 (gồm 30 tờ được đánh số từ 01 đến 30).
  • + Sao kê tài khoản Ngân hàng: 50510000238466 – Công ty TNHH X1 trong - thời gian từ 01/01/2022 đến 31/12/2022 (bản gốc).
  • + 13 (mười ba) hóa đơn GTGT của Công ty TNHH T13 (gồm 02 hóa đơn điện tử, và 11hóa đơn giấy liên 2,bản gốc).
  • + 01 Quyển hóa đơn GTGT của Công ty TNHH X1 (bản gốc từ số 0017751 đến số 0017800) được chuyển theo hồ sơ vụ án.

6. Hành vi mua trái phép hoá đơn của Đỗ Thị Hải Y

Công ty TNHH X2 (sau đây viết tắt là Công ty X2), có địa chỉ tại số nhà A T, khu phố E, phường B, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa. Đỗ Thị Hải Y là Giám đốc, người

đại diện theo pháp luật của Công ty X2 từ ngày 09/11/2012 đến ngày 09/08/2023. Kế toán của Công ty là Nguyễn Thị V, sinh năm 1995, HKTT: khu phố D, phường B, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa, có nhiệm vụ kê khai, báo cáo thuế cho Công ty. Lĩnh vực hoạt động kinh doanh chủ yếu là chuẩn bị mặt bằng, xây dựng. Ngày 09/08/2023, công ty Đ7 thay đổi lần thứ sáu, người đại diện theo pháp luật hiện nay: Mai Thị Thùy L6, sinh ngày 27/08/1995, HKTT: khu phố A, phường B, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa.

Tuy nhiên, từ khi thành lập Công ty cho đến nay Đỗ Thị Hải Y là người chỉ đạo, điều hành, quản lý và quyết định toàn bộ hoạt động của Công ty X2. Đến tháng 08/2023, do bị bệnh và phải thường xuyên đi bệnh viện nên Đỗ Thị Hải Y nhờ người quen là Mai Thị Thùy L6 đứng tên là Giám đốc Công ty, nhưng thực tế người chỉ đạo, quản lý, điều hành và quyết định hoạt động của Công ty vẫn là Đỗ Thị Hải Y.

Quá trình điều tra xác định: năm 2021, Đỗ Thị Hải Y đã mua trái phép của Q là 27 (hai mươi bảy) số hoá đơn do Công ty T13 xuất. Toàn bộ 27 hóa đơn này đều không có hàng hóa, dịch vụ kèm theo. Về phương thức thanh toán: Đỗ Thị Hải Y chuyển tiền theo hóa đơn đến tài khoản của Công ty T13, khi nhận được tiền Q rút tiền, giữ lại phí mua bán hóa đơn là 7% rồi chuyển trả lại cho Đỗ Thị Hải Y qua tài khoản cá nhân của Đỗ Thị Hải Y.

Ngày 30/07/2024, biết được hành vi của mình đã bị phát hiện nên Đỗ Thị Hải Y đã tự nguyện đến Cơ quan CSĐT Công an thị xã B để đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Việc kê khai thuế và giám định:

Đỗ Thị Hải Y đã sử dụng toàn bộ 27 (hai mươi bảy) hóa đơn GTGT khống của Công ty T13 để kê khai, báo cáo thuế cho Công ty X2 trong các kỳ kê khai Quý 1, 2, 3, 4 năm 2021.

Ngày 14/11/2024, Cục Thuế tỉnh T đã ban hành Kết luận giám định, kết luận:

  • - Xác định hành vi trốn thuế:
  • Công ty TNHH X2 đã sử dụng 27 (hai mươi bảy) số hóa đơn không hợp pháp để kê khai tăng thuế đầu vào được khấu trừ tại các kỳ tính thuế Quý 1, 2, 3, 4 năm 2021 là hành vi trốn thuế quy định tại khoản 4 Điều 143 Luật số 38/2019/QH14.
  • - Xác định số thuế GTGT trốn:
  • Số tiền thuế GTGT trốn của Công ty TNHH X2 là 1.136.496.055 đồng (một tỷ một trăm ba mươi sáu triệu bốn trăm chín mươi sáu nghìn không trăm năm lăm đồng)
  • - Thuế TNDN: chưa có đủ căn cứ để xác định thu nhập chịu thuế khi tính thuế TNDN của Công ty TNHH X2 tại kỳ quyết toán thuế TNDN năm 2021 và các kỳ tính thuế liên quan.

Như vậy, Đỗ Thị Hải Y có hành vi trốn thuế GTGT số tiền: 1.136.496.055 đồng (một tỷ một trăm ba mươi sáu triệu bốn trăm chín mươi sáu nghìn không trăm năm lăm đồng).

*Vật chứng thu giữ:

  • + 27 (hai mươi bảy) hóa đơn GTGT của Công ty TNHH T13 (gồm 26 số hóa đơn là bản gốc, liên 2 và 01 hóa đơn GTGT bản phô tô có chữ ký xác nhận của Đỗ Thị Hải Y).
  • + 13 (mười ba) Biên bản đối chiếu công nợ, Biên bản xác nhận khối lượng giữa Công ty T13 và Công ty X2 (bản gốc).
  • + Hợp đồng nguyên tắc về việc cung cấp hàng hóa, dịch vụ vận tải, máy móc thi công ngày 01/05/2020 giữa Công ty T13 và Công ty X2 (bản gốc). Toàn bộ các tài liệu trên, Cơ quan điều tra đã chuyển theo hồ sơ vụ án.

* Bản án hình sự sơ thẩm số 01/2025/HS-ST ngày 08/01/2025 của Tòa án nhân dân thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa:

Tuyên bố: Trần Thị Q phạm tội “Mua bán trái phép hóa đơn thu nộp ngân sách nhà nước”; bị cáo Đỗ Thị Hải Y phạm tội “Mua bán trái phép hóa đơn thu nộp ngân sách nhà nước” và tội “Trốn thuế”.

Căn cứ: Điểm d, đ khoản 2 Điều 203, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điều 65 Bộ luật hình sự

Xử phạt Trần Thị Q 28 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 56 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Q cho UBND xã T (trước là xã X), huyện X, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo phải nộp số tiền 10 triệu đồng để nộp vào ngân sách nhà nước.

Căn cứ: Khoản 1 Điều 203, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 3 điều 35 BLHS

Xử phạt Đỗ Thị Hải Y số tiền 80.000.000 đ (tám mươi triệu đồng) để nộp vào ngân sách nhà nước, về tội “Mua bán trái phép hoá đơn thu nộp ngân sách nhà nước”

Căn cứ: Khoản 3 Điều 200, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 điều 54, điều 38 BLHS

Xử phạt Đỗ Thị Hải Y 14 tháng tù về tội “Trốn thuế”, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

Ngoài ra Bản án còn tuyên hình phạt của bị cáo khác, xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

* Ngày 08/01/2025, bị cáo Trần Thị Q kháng cáo xin phạt tiền; ngày 17/01/2025 bị cáo Đỗ Thị Hải Y kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.

Ngày 18/3/2025, bị cáo Đỗ Thị Hải Y có đơn xin rút toàn bộ nội dung kháng cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Q thay đổi nội dung kháng cáo là xin được giảm nhẹ hình phạt tù cho hưởng án treo, bị cáo Q đã nhận thức được hành vi vi phạm của mình. Bị cáo Q đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận nội dung kháng cáo.

* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà:

Toà án cấp sơ thẩm đã cân nhắc tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo để quyết định mức hình phạt đối với các bị cáo là phù hợp, đúng pháp luật.

Tại cấp phúc thẩm, các bị cáo bổ sung thêm tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự; chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo Trần Thị Q, giảm cho bị cáo Trần Thị Q từ 08 đến 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Bị cáo Q không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Đối với bị cáo Đỗ Thị Hải Y có đơn xin rút toàn bộ nội dung đơn kháng cáo, nên đề nghị Hội đồng xét xử quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Đỗ Thị Hải Y.

Lời nói sau cùng, bị cáo Q nhận thức được lỗi lầm, hứa không vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Q.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Trần Thị Q làm theo đúng quy định tại Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Xét nội dung kháng cáo của bị cáo Q.

[2.1] Lời khai nhận tội của các bị cáo trong giai đoạn điều tra và tại phiên toà sơ thẩm, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác và các tài liệu khác thu thập trong quá trình điều tra, đủ cơ sở kết luận:

Trong khoảng thời gian từ năm 2019 đến năm 2022, Trần Thị Q đã thực hiện hành vi “Mua bán trái phép hóa đơn thu nộp ngân sách nhà nước”; Cụ thể:

Trần Thị Q có hành vi mua, bán trái phép tổng số 197 hoá đơn GTGT (mua trái phép 06 hoá đơn GTGT và bán trái phép 191 hoá đơn GTGT). Trong đó, Trần Thị Q thu lời bất chính từ hành vi mua, bán trái phép hoá đơn số tiền 191.438.292

đồng. Đến nay, Q mới tự nguyện khắc phục lại số tiền thu lợi bất chính 100.000.000 đồng. Số tiền 91.438.292 đồng Q chưa khắc phục.

Toà án cấp sơ thẩm đã cân nhắc đầy đủ tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, bị cáo Q không có tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017(Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, thực sự ăn năn hối cải; bị cáo có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội; đầu thú và tự nguyện nộp lại một phần số tiền thu lợi bất chính để quyết định mức hình phạt cho đối với bị cáo Trần Thị Q 28 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Mua bán trái phép hoá đơn thu nộp ngân sách nhà nước” là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Tại giai đoạn phúc thẩm, bị cáo Trần Thị Q kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo. Bị cáo có thêm các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới, cụ thể: Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo đã nộp tiền án phí Hình sự sơ thẩm theo Biên lai thu số 0002438 ngày 08/01/2025 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Bỉm Sơn; bị cáo đã khắc phục số tiền thu lợi bất chính và tiền phạt bổ sung là 106.000.000 đồng theo Biên lai thu số 0002449 ngày 16/01/2025 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Bỉm Sơn; có đơn xác nhận của chính quyền địa phương về việc bị cáo Q có công sức rất lớn trong giai đoạn chống dịch COVIT-19, luôn tích cực trong các quỹ từ thiện của xóm của xã. Hội đồng xét xử xem xét bị cáo có thêm nhiều tình tiết giảm nhẹ mới và đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Thị Q, giảm cho bị cáo Q một phần hình phạt, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Kiểm sát viên đề nghị giảm cho bị cáo Q từ 08 đến 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo là có căn cứ.

[3] Trước phiên toà phúc thẩm, ngày 18/3/2025 bị cáo Đỗ Thị Hải Y đã có đơn xin rút toàn bộ kháng cáo, nên Hội đồng xét xử quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với phần kháng cáo của bị cáo Y.

[4] Về số tiền thu lợi bất chính: Bị cáo Q đã thu lợi bất chính số tiền 191.438.292 đồng. Tại cấp sơ thẩm bị cáo Q đã nộp 100.000.000đồng theo Biên lai thu số 0002426 ngày 01/12/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Bỉm Sơn, bị cáo còn phải nộp tiếp số tiền 91.438.292đồng.

Tại Toà án cấp phúc thẩm, bị cáo Q đã tự nguyện giao nộp số tiền 106.000.000 đồng theo Biên lai thu số 0002449 ngày 16/01/2025 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Bỉm Sơn bao gồm: 10.000.000 đồng tiền phạt bổ sung, 96.000.000 đồng tiền thu lợi bất chính. Như vậy, bị cáo Q đã nộp đủ số tiền phạt

bổ sung và đã nộp thừa số tiền thu lợi bất chính là 4.561.700đồng. Tại phiên tòa, bị cáo xin được nhận lại số tiền thừa trên, nên trả lại số tiền 4.561.700đồng cho bị cáo Q.

[5] Về án phí: Do kháng cáo của các bị cáo Trần Thi Q3 được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[6] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

* Căn cứ các Điều 45, Điều 342 và Điều 348 của Bộ luật Tố tụng hình sự,

Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với phần kháng cáo của bị cáo Đỗ Thị Hải Y.

* Căn cứ: Điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Thị Q; sửa bản án hình sự sơ thẩm số 01/2025/HS-ST ngày 08/01/2025 của Tòa án nhân dân thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa; theo hướng giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

* Căn cứ: Điểm d, đ khoản 2 Điều 203; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị Q phạm tội “Mua bán trái phép hóa đơn thu nộp ngân sách nhà nước”.

Xử phạt: Trần Thị Q 18(Mười tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36(Ba mươi sáu) tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (08/01/2025).

Giao bị cáo Trần Thị Q cho UBND xã T (trước là xã X), huyện X, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án Hình sựTrong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án Hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án

buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước đó và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

Hình phạt bổ sung: Công nhận bị cáo Trần Thị Q đã nộp đủ số tiền 10.000.000đồng(Mười triệu đồng) theo Biên lai thu số 0002449 ngày 16/01/2025 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa để sung vào công quỹ Nhà nước.

* Về số tiền thu lời bất chính:

Công nhận bị cáo Trần Thị Q đã nộp đủ số tiền thu lợi bất chính 191.438.292 đồng theo Biên lai thu số 0002426 ngày 01/12/2024 và Biên lai thu số 0002449 ngày 16/01/2025 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

Trả lại cho bị cáo Trần Thị Q số tiền nộp thừa 4.561.700đồng theo Biên lai thu số 0002449 ngày 16/01/2025 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

* Về án phí:

- Về án phí HSST: Bị cáo đã nộp đủ số tiền án phí hình sự sơ thẩm theo biên lai thu số 0002438 ngày 08/01/2025 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

- Về án phí HSPT: Bị cáo Trần Thị Q không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

* Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

* Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - Vụ I TANDTC;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND, TAND, THAHS Thị xã Bỉm Sơn;
  • - THADS thị xã Bỉm Sơn;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Tổ HC-TP;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà

Lê Ngọc Lâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 38/2025/HS-PT ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về mua bán trái phép hóa đơn thu nộp ngân sách nhà nước và trốn thuế

  • Số bản án: 38/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép hóa đơn thu nộp ngân sách nhà nước và Trốn thuế
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: BC Trần Thị Quyên + ĐP phạm tội mua bán hóa đơn thu nộp ngân sách nhà nước
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger