TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOÀ BÌNH TỈNH HOÀ BÌNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Số: 38/2024/HNGD-ST Ngày: 25-09-2024 Về việc: Ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH
- Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Lan.
Các hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Nga
Bà Ngô Thị Như Hoa
- Thư ký toà án ghi biên bản phiên tòa: Nguyễn Thu Trà
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Hòa – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hoà Bình, tỉnh Hòa Bình mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 92/2024/TLST- HNGĐ ngày 12 tháng 4 năm 2024, về việc: Ly hôn. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2024/QĐXX-HNGĐ ngày 09 tháng 8 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 19/2024/QĐH-HNGĐ ngày 27/8/2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Trần Thị M, sinh năm 1996;
- Trú tại: Xóm E, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định.
- - Bị đơn: Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1989.
- Trú tại: Xóm G, xã H, TP ., tỉnh Hòa Bình
(Các đương sự đều vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Trần Thị M trình bày:
- - Về quan hệ hôn nhân: Chị và Anh Nguyễn Văn L kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có thời gian tìm hiểu nhau, có đăng ký kết hôn vào ngày 07/04/2022 tại UBND xã H, Thành phố H, tỉnh Hòa Bình. Sau khi kết hôn, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Sau đó, phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi nhau do bất đồng quan điểm sống. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 10/2023, không ai quan tâm đến ai. Nay, chị thấy tình cảm vợ chồng không còn, nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn L;
- - Về con chung: Không có.
- - Về tài sản chung: Không có, không đề nghị tòa án giải quyết;
- - Về công nợ chung: Không có, không đề nghị tòa án giải quyết;
- - Về án phí: Chị tự nguyện nộp toàn bộ án phí ly hôn theo quy định.
Quá trình giải quyết, bị đơn Nguyễn Văn L đều vắng mặt. Tòa án không thể thực hiện việc cấp, tống đạt, thông báo của Tòa án cho Anh L1. Nguyên đơn chị M có đơn xin xét xử vắng mặt. Tòa án đã tiến hành thủ tục niêm yết theo quy định và tiến hành xác minh như sau:
Anh Trần Mạnh T, hàng xóm và tổ phó tổ an ninh trật tự cung cấp: Anh Nguyễn Văn L và chị Trần Thị M có đăng ký kết hôn tại xã H, thành phố H, tỉnh Hòa Bình. Hai vợ chồng thường xuyên đi làm ăn xa tại Hà Nội, nên mâu thuẫn cụ thể giữa hai vợ chồng thì anh T không biết. Tuy nhiên, từ cuối năm 2023, anh không thấy chị M về nhà, mà chỉ thấy anh L thường xuyên về địa phương. Trong quá trình chung sống, chị M vẫn có hộ khẩu thường trú tại Nam Định, còn anh Nguyễn Văn L có hộ khẩu thường trú tại xóm G, xã H, thành phố H, tỉnh Hòa Bình.
Bà Nguyễn Thị L2, mẹ anh L cung cấp: Chị Trần Thị M và anh Nguyễn Văn L có đăng ký kết hôn và tổ chức cưới hỏi. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng sinh sống cùng bố mẹ chồng tại xóm G, xã H, thành phố H, tỉnh Hòa Bình, nhưng chủ yếu sinh sống ở dưới Hà Nội. Trong quá trình chung sống, hai vợ chồng xảy ra mâu thuẫn căng thẳng, nhưng mâu thuẫn cụ thể như thế nào thì bà không biết. Hai vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2023. Chị M không về nhà bố mẹ chồng nữa, còn anh L thỉnh thoảng mới về. Anh L1 chủ yếu làm việc dưới Hà Nội nhưng cụ thể địa chỉ làm việc ở đâu, anh L1 không nói cho bà biết. Về con chung, vợ chồng không có con chung, về tài sản chung, công nợ chung, không có. Nay chị M nộp đơn xin ly hôn thì bà không có ý kiến, đề nghị toà án giải quyết theo quy định pháp luật.
Anh Nguyễn Xuân B, xóm trưởng xóm G, xã H, thành phố H, tỉnh Hòa Bình cung cấp: Anh Nguyễn Văn L và chị Trần Thị M có đăng ký kết hôn tại xã H, thành phố H, tỉnh Hòa Bình. Hai vợ chồng thường xuyên đi làm ăn xa tại Hà Nội, thỉnh thoảng mới về. Việc chị M nộp đơn ly hôn, anh có biết và toà án nhờ anh tống đạt tài liệu của Toà án. Tuy nhiên, anh L thường xuyên vắng nhà, mẹ đẻ của anh L không biết cụ thể địa chỉ làm việc của anh L ở đâu, chỉ biết anh làm ở Hà Nội. Do vậy, anh không thể tống đạt được tài liệu giấy tờ cho anh L.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình tại phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án: Về quan hệ hôn nhân căn cứ thực trạng hôn nhân giữa vợ chồng chị M anh L đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị M xử cho Chị Trần Thị M được ly hôn với Anh Nguyễn Văn L. Về con chung, tài sản chung và công nợ chung: Chị M khai không có gì, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
Về án phí: căn cứ quy định Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Q, chấp nhận chị M tự nguyện nộp toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong Hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Quá trình giải quyết cũng như tại phiên tòa, đương sự không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đều hợp pháp.
Theo đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ thể hiện quan hệ pháp luật tranh chấp về hôn nhân gia đình, cụ thể là về việc ly hôn. Đồng thời, bị đơn Anh Nguyễn Văn L có đăng ký hộ khẩu thường trú tại xóm G, xã H, Thành phố H, tỉnh Hòa Bình. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình.
Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành gửi các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật. Sau khi đã điều tra xác minh, thu thập chứng cứ đầy đủ, Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử là cần thiết và đúng quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị M và Anh Nguyễn Văn L là vợ chồng hợp pháp, có đăng ký kết hôn. Chị M cho rằng mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, do bất đồng quan điểm sống, không hợp nhau, vợ chồng không sinh sống cùng nhau. Anh L1 sinh sống ở đâu chị không biết. Vợ chồng sống ly thân, không ai quan tâm đến ai. Nay, chị M xác định tình cảm vợ chồng không còn, nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh L1. Hội đồng xét xử xét thực trạng cuộc sống chung vợ chồng Chị M và Anh L1, qua kết quả xác minh cho thấy cuộc sống chung tồn tại rất nhiều mâu thuẫn, anh L1 đi làm và sinh sống ở đâu thì chị M không biết, vợ chồng không còn sự quan tâm đến nhau. Từ nhận định trên thấy rằng, hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không có, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cần áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của Chị M.
Về con chung: Hai vợ chồng không có con chung.
Về tài sản chung, công nợ chung: Chị M khẳng định vợ chồng không có tài sản chung, công nợ chung, không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét.
Về án phí: Nguyên đơn Chị M tự nguyện nộp toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm, sự tự nguyện phù hợp pháp luật, cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng: khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho Chị Trần Thị M ly hôn Nguyễn Văn L.
- Về án phí: Chị Trần Thị M tự nguyện nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được đối trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp theo Biên lai số 0000333 ngày 11/4/2024 của Chi cục thi hành án Dân sự thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình.
3. Về quyền kháng cáo: Chị Trần Thị M và anh Nguyễn Văn L có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận
| TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Hoàng Thị Lan |
Bản án số 38/2024/HNGD-ST ngày 25/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOÀ BÌNH, TỈNH HOÀ BÌNH về ly hôn
- Số bản án: 38/2024/HNGD-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOÀ BÌNH, TỈNH HOÀ BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xử cho chị Trần Thị M ly hôn anh Nguyễn Văn L
