Hệ thống pháp luật
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NAM ĐỊNH
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Bản án số: 38/2025/HS-ST Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Ngày: 19-3-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:Bà Vũ Thị Mai Hương
Các hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Hào
Ông Phạm Anh Tuấn
- Thư ký phiên toà:Bà Đoàn Thị Kim Phượng
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định tham gia phiên toà:
Bà Đặng Thanh Nga - Kiểm sát viên

Ngày 19 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở, Toà án nhân dân tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 100/2024/TLST-HS ngày 29-11-2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 131/2025/QĐXXST-HS ngày 07-01-2025, đối với các bị cáo:

  1. Vũ Thị Kim D - Sinh năm 1995;Giới tính: Nữ;

    Nơi thường trú: Số D B nhà C - phường N - quận C - TP Hà Nội.

    Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không;

    SỐ CCCD: 0036195001324; cấp ngày 22/2/2023; Nơi cấp: Cục C2 về TTXH

    Trình độ văn hoá: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do

    Bố đẻ: Vũ Xuân H, sinh năm 1954; Mẹ đẻ: Trần Thị K (đã chết);

    Chồng: Đỗ Trí V, sinh năm 1995; Có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2015, con nhỏ nhất sinh tháng 6-2022.

    Tiền án, tiền sự: Không có.

    Bị cáo tại ngoại (đã bị bắt tạm giam từ ngày 03/7/2024 đến ngày 30/9/2024 được áp dụng biện pháp Bảo lĩnh thay thế cho biện pháp tạm giam).

  2. Bùi Thị T - Sinh năm 1997;Giới tính: Nữ;

    Nơi thường trú: Tổ dân phố số F P - phường M - quận N - TP Hà Nội.

    Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không;

    SỐ CCCD: [...]; cấp ngày 16/8/2022; Nơi cấp: Cục C2 về TTXH;

    Trình độ văn hoá: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do

    Bố đẻ: Bùi Tiến M, sinh năm 1960; Mẹ đẻ: Bùi Thị H1, sinh năm 1961;

    Chồng: Nguyễn Hồng S, sinh năm 1997 (đã ly hôn); Có 02 con, con lớn sinh năm 2017, con nhỏ sinh tháng 9-2022;

    Tiền án, tiền sự: Không có.

    Bị cáo tại ngoại (đã bị bắt tạm giam từ ngày 03/7/2024 đến ngày 30/8/2024 được áp dụng biện pháp Bảo lĩnh thay thế cho biện pháp tạm giam).

* Bị hại:

  1. Công ty G (Công ty G)
  2. Công ty Y.
  3. - Đơn vị đại diện theo uỷ quyền của Công ty G (Công ty G) và Công ty Y: Công ty L2; Địa chỉ: P, tầng D, tháp 2, Tòa nhà C, số B L, phường N, quận B, thành phố Hà Nội.

  4. Công ty H4
  5. - Đơn vị đại diện theo uỷ quyền của Công ty H4: Công ty L3 và cộng sự. Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Đức T1; Địa chỉ: Tầng D, số A phố N, B, TP Hà Nội.

  6. Công ty C3
  7. - Đơn vị đại diện theo uỷ quyền của Công ty C3: Công ty TNHH T5 và Bà Nguyễn Thị H2; Địa chỉ: Lầu F, Mê Linh P, số B N, phường B, quận A, TP Hồ Chí Minh

  8. Công ty L4
  9. - Đơn vị đại diện theo uỷ quyền của Công ty L4: Công ty Luật TNHH VINA.IP và ông Nguyễn Đình C, bà Lý Anh T2; Địa chỉ: P, Tầng A, số F L, phường B, Quận A, TP Hồ Chí Minh.

  10. Công ty C4.
  11. - Đơn vị đại diện theo uỷ quyền của Công ty C4 S.A: Công ty TNHH T6; Địa chỉ: Tầng I, tòa nhà V, số A H, phường N, quận C, thành phố Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: Bà Vũ Thị Thanh B.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vũ Thị Kim D hoạt động kinh doanh online trên nền tảng mạng xã hội Facebook từ khoảng năm 2019. Giai đoạn đầu kinh doanh D buôn bán các mặt hàng chủ yếu là vải, quần áo, thời trang; địa điểm kinh doanh đặt tại nhà ở của D (P khu tập thể Đ, Tổ H, Phường C, Q. B, TP Hà Nội). Từ khoảng tháng 3/2020, Vũ Thị Kim D kinh doanh thêm mặt hàng túi xách, ví, mỹ phẩm, bánh kẹo và tìm kiếm các mối hàng, đặt mua hàng này trên mạng bao gồm cả hàng thanh lý, hàng bán theo lô, hàng mới từ nhiều chủ hàng, ở nhiều nơi gồm chợ N2, P (Hà Nội); nhập từ Trung Quốc trong đó có chủ hàng là Nguyễn Thị L (sinh năm 1989, trú tại: tiểu khu T, TT P, huyện P, TP Hà Nội); Nguyễn Thị Lệ M1 (trú tại: tổ A, phường V, quận L, TP Hà Nội); Một người phụ nữ tên H3 (người Trung Quốc - D không biết thông tin cụ thể).... Hình thức thanh toán bằng chuyển khoản và trả tiền mặt. D thuê thêm nhà ông Đỗ Văn C1 (sinh năm 1973 - là bố chồng D, tại thôn Đ, xã V, huyện V, tỉnh Nam Định) để chứa hàng. Tuy nhiên do nhà cũ của ông C1 không để được nhiều hàng nên đến tháng 8/2020, D đưa tiền cho ông C1 để thuê thợ dựng kho trên đất nhà ông C1 và chuyển hoạt động kinh doanh túi xách, ví phụ nữ... đến kho mới từ tháng 9/2020 nhưng D không đăng ký kinh doanh, không thông báo địa điểm kinh doanh với cơ quan chức năng theo quy định. Trong các hàng hóa túi xách, ví phụ nữ mà D kinh doanh có các sản phẩm gắn lô gô, biểu trưng, nhãn hiệu, tên thương hiệu nổi tiếng được bảo hộ tại Việt Nam như GUCCI, YVES SAINT LAURENT, HERMES, CHANEL, LOUIS VUITTON, DIOR nhưng không phải là hàng chính hãng, không được các đại diện thương hiệu uỷ quyền cho phép kinh doanh; toàn bộ hàng hoá đều không có hoá đơn, chứng từ gì.

Quá trình kinh doanh online, D sử dụng hai tài khoản Facebook do D lập, quản lý là “The Queen” và “Trang Anna” (trong đó chủ yếu là bằng tài khoản The Queen) để bán hàng trực tuyến trên nền tảng mạng xã hội Facebook. D là người lên chương trình, chuẩn bị nội dung, địa điểm, phương tiện và tổ chức quay phát các video livestream trực tiếp trên Facebook nhằm mục đích quảng cáo, giới thiệu, chào bán các sản phẩm Dung kinh doanh. Để thu hút khách hàng, từ tháng 3/2020, D thuê Bùi Thị T (Trang Anna) làm công việc livestream, giới thiệu, quảng cáo các sản phẩm túi xách, ví phụ nữ với tiền công 15.000.000 - 20.000.000 đồng/tháng và thưởng thêm tuỳ thuộc vào thời lượng số giờ livestream. Trong mỗi buổi livestream, D và T thường ghi hình giới thiệu, chào bán khoảng 20 đến 50 sản phẩm, trong đó đa số là các sản phẩm túi xách, ví phụ nữ giả mạo nhãn hiệu. Trước các buổi livestream này, D lập danh sách các mã hàng (ghi kèm theo giá bán) để đưa cho Bùi Thị T biết để giới thiệu, chào bán. Trong danh sách các mã hàng, D sẽ đặt tên cho các sản phẩm cần chào bán trong buổi livestream như “Đỉnh của đỉnh”; “Vip 1”; “HM phong thuỷ”, “Thanh lý”; “A1”…… nhưng thực tế là các túi xách, ví phụ nữ giả mạo các nhãn hiệu được bảo hộ tại Việt Nam. Bùi Thị T là người trực tiếp xuất hiện ghi hình trong các buổi livestream để giới thiệu về các sản phẩm túi xách, ví phụ nữ. Quá trình này D đứng ngoài chỉ đạo, chuyển lần lượt các sản phẩm cần chào bán cho T để T đưa lên ghi hình trực tiếp, quảng cáo bán hàng. T sử dụng các thuật ngữ như “hàng thương hiệu”, “logo thương hiệu”; “siêu phẩm Full box, full thẻ cứng”, “hàng chuẩn Like Auth”, “hàng da thật”,... và giới thiệu về các sản phẩm này có đặc điểm như hàng chính hãng, chất lượng tốt nhưng giá bán rất rẻ để thu hút khách hàng mua hàng. Khi các khách hàng comment để lại số điện thoại hoặc liên hệ mua hàng thì các nhân viên “canh live” sẽ trả lời và chốt đơn với khách mua hàng. Các sản phẩm túi xách, ví phụ nữ D bán với giá từ khoảng 100.000 đồng đến 600.000 đồng, thấp hơn rất nhiều so với hàng thương hiệu chính hãng. Mỗi sản phẩm bán được D ước tính thu lãi từ khoảng 40.000 đồng đến 200.000 đồng so với giá nhập vào.

Để các video livestream phát sóng trực tiếp trên Facebook tiếp cận được nhiều khách hàng, D thuê khoảng 34 người làm dịch vụ chạy quảng cáo trên Facebook (trả tiền quảng cáo, share đường link, tăng tương tác,...) nhiều lần với nhiều loại hình thanh toán khác nhau.

Để phục vụ việc kinh doanh, buôn bán, D thuê thêm khoảng 61 nhân viên trong đó có một số người làm việc thường xuyên gồm: chị Vũ Thị N (sinh năm 1984, trú tại: xã V, huyện V, tỉnh Nam Định - là chị gái D) với công việc theo dõi sổ sách, công nợ, lập bảng tính tiền lương cho nhân viên; anh Phạm Văn Đ, chị Phạm Thị N1, anh Phạm Đình U, anh Vũ Xuân D1 (là anh trai D) - đều trú tại xã V, huyện V, tỉnh Nam Định, làm công việc bốc xếp hàng, đóng gói hàng hoá tại kho; ngoài ra D thuê khoảng 56 nhân viên khác làm việc không cố định (là sinh viên, người làm việc bán thời gian D tìm kiếm trên mạng hoặc thuê người quen) làm các công việc canh live, liên hệ khách hàng, shipper, đóng gói hàng hoá.

Sau khi các khách hàng chốt đơn, đặt mua, các nhân viên canh live hoặc Vũ Thị Kim D sử dụng các App (ứng dụng) của các đơn vị chuyển phát để tạo đơn hàng. Sau đó các nhân viên tại kho hàng gồm Phạm Văn Đ, Phạm Đình U, Phạm Thị N1 và Vũ Xuân D1 và một số nhân viên thời vụ khác sẽ in đơn hàng, đóng gói sản phẩm (bọc ni lông, bọc chống sốc), chuyển cho các đơn vị chuyển phát để chuyển cho khách hàng. Để thu tiền khách hàng, D đã thuê 03 đơn vị chuyển phát gồm Công ty Cổ phần G1, Tổng Công ty Cổ phần B1 (V1) và Bưu điện huyện V. Sau khi các đơn vị chuyển phát chuyển hàng cho khách hàng sẽ thu tiền cod (tiền thu hộ khách hàng); trừ đi các chi phí vận chuyển sẽ chuyển tiền bán hàng lại do D theo tài khoản Ngân hàng D2 đăng ký với đơn vị chuyển phát. Để phục vụ việc nhận tiền bán hàng, thanh toán các chi phí D đã sử dụng, mượn 08 tài khoản ngân hàng của các cá nhân sau: 04 tài khoản số 19032537366028, số A, số A đều mở tại Ngân hàng T7 và số [...] mở tại Ngân hàng B2 của anh Đỗ Trí V (sinh năm 1995, trú tại: khu tập thể Đ, tổ H, C, B, Hà Nội - là chồng của D); tài khoản T7 số 19035979421019 của ông Đỗ Văn C1 (là bố chồng D); 01 tài khoản T7 số 19035979449029 của bà Phạm Thị L1 (là mẹ chồng D); 01 tài khoản T7 số 19035850790018 của Bùi Thị T và 01 tài khoản T7 số 19035979488024 của anh Phạm Văn Đ (anh họ chồng D, nhân viên kho).

Để phục vụ việc vận chuyển hàng hoá nhập về, chuyển đi D đã thuê và thanh toán tiền cho khoảng 43 người (lái xe, đơn vị trung gian thuê vận chuyển,...). Trong đó, có những đơn vị trung gian vận chuyển thuê đơn vị vận chuyển hàng hoá từ các kho, bãi gần khu vực các cửa khẩu (Lạng Sơn, Quảng Ninh...) về bãi 81 (khu vực gầm cầu T, Hà Nội), huyện T, Hà Nội; sau đó D thuê các xe vận chuyển để chuyển hàng từ bãi 81 về kho hàng của D ở thôn Đ, xã V, huyện V, tỉnh Nam Định. Ngoài ra, trong quá trình kinh doanh, buôn bán D thuê nhiều xe chở hàng hoá nhận hàng, chuyển hàng khác (thuê xe tải hoặc gửi hàng xe khách chuyển hàng từ các người bán, các chợ về kho; chuyển hàng từ kho đến các đơn vị chuyển phát...).

Ngày 17/3/2021, T8 chỉ đạo Cục Quản lý thị trường tỉnh N phối hợp với Phòng C5, Công an huyện V - tỉnh Nam Định kiểm tra kho hàng tại nhà ông Đỗ Văn C1 phát hiện, thu giữ 13.726 sản phẩm túi xách, ví giả mạo các thương hiệu của nước ngoài (GUCCI, YVES SAINT LAURENT, HERMES, CHANEL, LOUIS VUITTON, DIOR, BY FAR), không có hóa đơn chứng từ chứng minh nguồn gốc xuất xứ.

Ngày 28/4/2021, Cục Q đã chuyển hồ sơ cùng toàn bộ tang vật đến Cơ quan CSĐT – Công an tỉnh giải quyết theo thẩm quyền gồm:

  • - 2220 sản phẩm (túi xách, ví) có ký hiệu, nhãn mác của hãng G2.
  • - 936 sản phẩm (túi xách, ví )có ký hiệu, nhãn mác của hãng Y1.
  • - 5373 sản phẩm (túi xách) có ký hiệu, nhãn mác của hãng H5.
  • - 200 sản phẩm (túi xách) có ký hiệu, nhãn mác của hãng C6.
  • - 4.614 sản phẩm (túi xách, ví) có ký hiệu, nhãn mác của hãng L5.
  • - 04 sản phẩm (ví) có ký hiệu, nhãn mác của hãng D3.
  • - 379 sản phẩm (ví) có ký hiệu, nhãn mác của hãng “by FAR”.

Tại Bản kết luận giám định sở hữu công nghiệp số NH549-21TC.TP/KLGÐ ngày 13/8/2021 của Viện khoa học sở hữu trí tuệ - Bộ K1 và Công nghệ xác định: các sản phẩm túi xách, ví có gắn lô gô, nhãn hiệu GUCCI, YVES SAINT LAURENT, HERMES, CHANEL, LOUIS VUITTON, DIOR là hàng hoá giả mạo đối với nhãn hiệu được bảo hộ tương ứng tại Việt Nam.

Tại Công văn số 6376/SHTT_TTKN ngày 02/7/2021 của Cục sở hữu trí tuệ - Bộ K1 và Công nghệ xác định: tính đến thời điểm tra cứu, trên cơ sở dữ liệu đăng ký nhãn hiệu, nhãn hiệu “by FAR” chưa được đăng ký bảo hộ nhãn hiệu tại Việt Nam.

Các đơn vị đại diện theo ủy quyền của các nhãn hiệu GUCCI, YVES SAINT LAURENT, HERMES, CHANEL, LOUIS VUITTON, DIOR cung cấp: các sản phẩm bị thu giữ không phải là sản phẩm của Công ty H6 bất kỳ chi nhánh, công ty con hoặc đơn vị thứ ba nào được Công ty C7 sử dụng nhãn hiệu sản xuất và cung cấp. Đề nghị xử lý hành vi giả mạo nhãn hiệu theo quy định của pháp luật.

Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 16/KL-HĐĐGTS ngày 11/10/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự tỉnh Nam Định xác định: tổng trị giá 13.347 sản phẩm túi xách và ví giả mạo nhãn hiệu GUCCI, YVES SAINT LAURENT (YSL), HERMES, CHANEL, LOUIS VUITTON MALLETIER (LV), C8 (DIOR) là: 3.775.980.000 đồng. Trị giá 379 sản phẩm nhãn hiệu by FAR là: 128.860.000 đồng.

Các đơn vị giao hàng gồm Công ty CP G1, V, Tổng công ty B3 cung cấp: Từ tháng 5/2018 đến tháng 3/2021, tổng số tiền thu hộ khách hàng liên quan đến toàn bộ hoạt động bán hàng của Vũ Thị Kim D (bao gồm cả túi xách, ví phụ nữ, quần áo, váy, hàng thời trang, mỹ phẩm, phụ kiện, bánh kẹo...) từ 03 đơn vị chuyển phát chuyển cho các shop do D quản lý xác định được là 74.284.258.694 đồng, trừ đi chi phí vận chuyển thì D đã được nhận tổng số tiền 68.989.822.564 đồng.

Các Ngân hàng cung cấp sao kê 08 tài khoản Ngân hàng do D mượn của các cá nhân để thực hiện giao dịch chuyển tiền mua bán. Tổng hợp sao kê xác định: Từ tháng 3/2020 đến tháng 17/3/2021, D nhận tổng số tiền 46.536.205.716 đồng bán hàng do các đơn vị chuyển phát chuyển cho D, D đã chuyển khoản đi tổng cộng 40.556.829.777 đồng để nhập mua hàng, chi phí trả lương, thuê kho, vận chuyển.

Tại CQĐT, Vũ Thị Kim D thừa nhận hành vi phạm tội như nêu trên và khai nhận: D là chủ sở hữu đối với 13.726 sản phẩm túi xách, ví phụ nữ vi phạm bị cơ quan chức năng kiểm tra phát hiện, thu giữ ngày 17/3/2021 gồm 13.347 túi xách, ví giả mạo nhãn hiệu GUCCI, YVES SAINT LAURENT (YSL), HERMES, CHANEL, LOUIS VUITTON MALLETIER (LV), CHIRISTIAN DIOR COUTURE (DIOR) và 379 sản phẩm ví nhãn hiệu By FAR, đây là hàng tồn kho chưa bán được, đang để tại kho để chờ bán. Bản thân D là người điều hành mọi hoạt động kinh doanh, buôn bán tại kho hàng đặt tại nhà ông Đỗ Văn C1 (bố chồng D), địa chỉ thôn Đ, xã V, huyện V, tỉnh Nam Định. D xác nhận số hàng hoá vi phạm trên có nguồn gốc nhập từ 03 người là L1 (P), Mỹ (Q) và H3 (Trung Quốc) và nhiều người khác D không xác định được do D đặt mua trên mạng, mua thanh lý, mua ở các chợ đầu mối... Tuy nhiên hiện nay D không xác định được cụ thể từng loại sản phẩm bị thu giữ là mua từ ai, số lượng cụ thể thế nào; bởi vì khi đặt hàng các cá nhân trên thì có nhiều mã hàng trùng nhau, có mã đã bán hết, có mã tồn kho đã để lẫn vào nhau. Dung xác định trong giai đoạn từ tháng 03/2020 đến ngày 17/3/2021, tổng số tiền bán hàng, thu được từ các đơn vị chuyển về là: 46.536.205.716 đồng. Số tiền trên D đã chi phí hết vào việc nhập hàng và thanh toán chi phí, cụ thể D đã thanh toán bằng chuyển khoản tổng các chi phí: 40.556.829.777 đồng gồm các khoản: thanh toán tiền mua túi xách, ví phụ nữ; tiền mua vải, quần áo, mỹ phẩm, kem tan mỡ...; trả chi phí thuê dịch vụ chạy quảng cáo; chi phí trả lương cho nhân viên; chi phí thuê lái xe, phương tiện vận chuyển hàng hoá; chi phí dụng cụ đóng hàng; chi phí hoạt động kho. Ngoài các khoản thanh toán bằng tiền chuyển khoản nêu trên, D còn thanh toán bằng tiền mặt để mua các hàng hoá; thanh toán các chi phí khác, trả nợ số tiền nhập hàng đối với số hàng hoá tồn kho... Tuy nhiên, tổng số tiền bán hàng túi xách, ví phụ nữ và tiền lãi thu được D không tách riêng được cụ thể bởi vì trong quá trình kinh doanh online D4 ngoài việc bán túi xách, ví phụ nữ thì còn bán cả quần áo, vải, mỹ phẩm, phụ kiện... nên số tiền các đơn vị chuyển phát chuyển về vào tài khoản D không xác định được cụ thể từng khoản tiền là tiền bán hàng cho sản phẩm nào, thu lợi như nào. Đối với số tiền 74.284.258.694 đồng do các đơn vị chuyển phát thu hộ các khách hàng mà D đã bán hàng, trừ đi chi phí vận chuyển thì đã chuyển cho D tổng số tiền 68.989.822.564 đồng; D xác nhận đây là tổng số tiền bán hàng từ năm 2018, 2019 đến tháng 3/2021; tuy nhiên đa phần đây là số tiền D bán quần áo, hàng thời trang, phụ kiện, bánh kẹo, đồ ăn, mỹ phẩm... trước đó. Còn thực tế D chỉ xác định được tổng số tiền bán hàng liên quan đến túi xách, ví phụ nữ là: 27.220.919.810 đồng. Nhưng số tiền này bao gồm cả tiền D bán hàng hoá giả mạo nhãn hiệu vi phạm và cả những loại sản phẩm túi xách, ví phụ nữ không có nhãn hiệu hoặc nhãn hiệu không được bảo hộ tại Việt Nam. Do số lượng đơn hàng rất nhiều, nội dung các đơn hàng lưu giữ trên hệ thống Công ty Giao hàng tiết kiệm ghi không đầy đủ nên D không xác định, giải trình được số tiền thu được từ hành vi buôn bán hàng hoá giả mạo nhãn hiệu là bao nhiêu. Dung nhận thức được việc kinh doanh buôn bán các sản phẩm ví, túi xách phụ nữ có gắn các lô gô thương hiệu, nhãn hiệu của các hãng GUCCI, HERMES, CHANEL, YVES SAINT LAURENT, LOUIS VUITTON, DIOR... nhưng không phải hàng thương hiệu chính hãng, không được quyền sử dụng hợp pháp các thương hiệu, nhãn hiệu này là trái quy định của pháp luật. Vì mục đích buôn bán kiếm lời, D đã thực hiện hành vi vi phạm pháp luật này.

Tại CQĐT, Bùi Thị T thừa nhận hành vi như nêu trên và khai nhận: từ khoảng tháng 2/2020 được D thuê thực hiện livestream trên mạng xã hội Facebook (tài khoản “The Queen” và “Trang Anna” do D quản lý, sử dụng) quảng cáo, giới thiệu về túi xách, ví có nhãn hiệu chữ nước ngoài (GUCCI, HERMES, CHANEL, YVES SAINT LAURENT,LOUIS VUITTON, DIOR, BY FAR) để giúp D kinh doanh bán hàng. D là người trả lương cho T hàng tháng với mức lương cứng là 15.000.000 đồng/1 tháng. Ngoài ra sẽ có thêm tiền thưởng ngoài lương cứng tuỳ vào số lượng thời gian các buổi livestream. D là người lên lịch, chuẩn bị kịch bản, nội dung các buổi livestream bán hàng, D cung cấp các thông tin về giá nhập hàng và giá chào bán hàng của từng sản phẩm cho T biết trước khi thực hiện livestream. Quá trình livestream quảng cáo, T biết các sản phẩm D kinh doanh, chào bán không phải là hàng chính hãng. Nhưng do T được D thuê để livestream bán hàng nên T đã quảng cáo như đối với hàng chính hãng, hàng chất lượng tốt nhưng giá rẻ để thu hút khách mua hàng. Ngoài ra, T cho D mượn tài khoản ngân hàng T7 19035850790018 của T để D sử dụng vào việc kinh doanh bán hàng túi xách, ví, đăng ký nhận tiền thu hộ của khách do V1, Giao hàng tiết kiệm chuyển về; T xác định: tổng số tiền 712.661.845 đồng là tiền bán hàng cho D. Sau đó, T đã chuyển lại toàn bộ số tiền nhận được cho D vào tài khoản của Đỗ Trí V, số 19032537366028; tổng cộng 19 lần, tổng số tiền 707.225.000 đồng. T nhận thức được khi thực hiện việc livestream quảng cáo, bán hàng cho D thì T biết các sản phẩm D bán không phải là hàng chính hãng, là hàng hóa giá rẻ, gắn lô gô thương hiệu, nhãn hiệu của các thương hiệu được bảo hộ tại Việt Nam mà Nhà nước không cho phép kinh doanh là trái quy định của pháp luật.

Tại CQĐT, chị Vũ Thị N, anh Phạm Văn Đ, chị Phạm Thị N1, anh Phạm Đình U, anh Vũ Xuân D1 là những người được D thuê làm thường xuyên tại kho hàng ở thôn Đ, xã V, huyện V trình bày: được D thuê để làm các công việc ghi chép sổ sách, lên đơn đóng gói hàng hóa tại kho, bốc xếp hàng hóa. Không biết nguồn gốc hàng hoá D nhập cụ thể ở đâu, như thế nào và không được D trao đổi, bàn bạc gì về việc kinh doanh các sản phẩm giả mạo nhãn hiệu được bảo hộ như thế nào, chỉ là người làm thuê cho D để lấy công ăn lương, không được hưởng lợi nhuận gì trong việc D kinh doanh

Tại CQĐT, ông Đỗ Văn C1, anh Đỗ Trí V, bà Phạm Thị L1 là những người cho D mượn đất, mượn tài khoản trình bày: không tham gia, không được D bàn bạc trao đổi gì về nguồn gốc hàng hoá, doanh thu, lợi nhuận và cũng không được hưởng lợi gì. Không biết nguồn gốc hàng hóa mà D kinh doanh và không biết gì về việc kinh doanh của D.

Tại CQĐT, chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1989, trú tại: tiểu khu T, TT P, huyện P, Hà Nội - người bán hàng cho D. L khai L kinh doanh nhiều ngành nghề, buôn bán hàng thanh lý mua trên mạng Facebook: quần áo, túi xách, vải, giày dép... L đã bán hàng túi xách, ví phụ nữ rất nhiều cho Shop The queen nhưng L không nhớ chủng loại, số lượng đã bán. Lan chưa gặp Vũ Thị Kim D, cũng như không biết chủ Shop The queen là ai. Nguồn gốc hàng hóa (túi xách, ví phụ nữ) L đã bán cho Shop T3 là do L mua ở trên mạng xã hội và do một số người sản xuất, kinh doanh túi xách, ví phụ nữ trong làng nghề tại TT P, huyện P, TP Hà Nội mang đến cửa hàng nhà L để bán trực tiếp. Từ ngày 31/3/2020 đến ngày 11/3/2021 Shop T4 queen chuyển vào tài khoản ngân hàng của L tổng số tiền là: 16.546.710.000 đồng. Đây đều là tiền do L bán hàng cho S1 The queen. L khai hàng hóa L bán cho Shop T3 là gồm có nhiều loại sản phẩm, mặt hàng thanh lý như: quần áo, túi xách, ví phụ nữ, đồng hồ, phụ kiện, khăn, gấu bông... Tuy nhiên L khẳng định: hàng hóa L bán cho Shop The queen ví, túi xách phụ nữ, đều là hàng không có nhãn hiệu, không có chữ gì trên các sản phẩm túi xách, ví phụ nữ. Tất cả hàng hóa trên L nhập về và bán ra đều không có hóa đơn chứng từ.

Tại CQĐT, những cá nhân đã được D thuê để chạy quảng cáo, vạn chuyển hàng hóa, chuyển hộ tiền hàng đều trình bày: Không biết nguồn gốc hàng hoá D nhập cụ thể ở đâu, như thế nào và không được D trao đổi, bàn bạc gì về việc kinh doanh các sản phẩm giả mạo nhãn hiệu được bảo hộ như thế nào.

*Cáo trạng số 91/CT-VKS-P3 ngày 18-11-2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định đã truy tố các bị cáo Vũ Thị Kim D, Bùi Thị T về tội “Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 226 BLHS.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

*Các bị cáo Vũ Thị Kim D, Bùi Thị T đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân như nội dung cáo trạng đã truy tố, đã xác định VKSND tỉnh Nam Định truy tố các bị cáo là đúng tội, không oan.

*Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định giữ quyền công tố tại phiên tòa trình bày quan điểm luận tội: Giữ nguyên nội dung cáo trạng và quyết định đã truy tố. Sau khi xem xét đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định đề nghị xử phạt:

Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 266; điểm h, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 65 BLHS; Xử phạt:

Bị cáo Vũ Thị Kim D từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách gấp đôi.

Bị cáo Bùi Thị T từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách gấp đôi.

Miễn hình phạt bổ sung cho cả hai bị cáo;

Trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ, buộc 2 bị cáo phải liên đới bồi thường cho Công ty H4 thiệt hại về tinh thần từ 20 triệu đồng đến 30 triệu đồng và chi phí hợp lý thuê luật sư là 49.194.444 đồng.

Các bị cáo không phải bồi thường về vật chất vì số túi Hermes giả nhãn hiệu đã bị thu giữ chưa bán ra trên thị trường nên chưa gây thiệt hại về vật chất cho công ty H4.

Xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Sau khi đại diện VKSND luận tội, trong phần tranh luận đối đáp:

- Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho công ty H4 trình bày quan điểm: Nhất trí về tội danh mà VKSND tỉnh Nam Định đã truy tố, không có ý kiến về hình phạt. Về trách nhiệm dân sự, hành vi của các bị cáo livestream bán các sản phẩm giả mạo nhãn hiệu đã gây ảnh hưởng đến uy tín của thương hiệu Hermes - thương hiệu thời trang xa xỉ và nổi tiếng bởi chất lượng cao cấp và sự khan hiếm của sản phẩm, vì vậy căn cứ Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ, đề nghị HĐXX buộc các bị cáo phải bồi thường thiệt hại về tinh thần là 50 triệu đồng, và toàn bộ chi phí hợp lý thuê luật sư là 49.194.444 đồng. Về thiệt hại vật chất, chúng tôi không đưa ra xem xét tại phiên toà sơ thẩm mà bảo lưu quyền đề nghị để xem xét trong vụ kiện dân sự khi có yêu cầu.

- Trong lời nói sau cùng, các bị cáo Vũ Thị Kim D, Bùi Thị T đều đề nghị Hội đồng xét xử khoan hồng xem xét cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

[2.2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo đã được chứng minh bằng lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay; bằng lời khai của người làm chứng; bằng các tài liệu chứng cứ khác đã được thu giữ trong quá trình điều tra, thấy có đủ cơ sở kết luận:

Vũ Thị Kim D hoạt động kinh doanh online trên nền tảng mạng xã hội Facebook. Giai đoạn đầu kinh doanh D buôn bán các mặt hàng chủ yếu là vải, quần áo, thời trang. Từ khoảng tháng 3/2020, Vũ Thị Kim D kinh doanh thêm mặt hàng túi xách, ví, mỹ phẩm, bánh kẹo. Nguồn hàng D tìm kiếm các mối hàng đặt mua trên mạng, mua của nhiều chủ hàng, ở nhiều nơi.

Vũ Thị Kim D thuê Bùi Thị T (Trang Anna) làm công việc livestream, giới thiệu, quảng cáo và bán các sản phẩm túi xách, ví phụ nữ.

Ngày 17/3/2021, Cục Quản lý thị trường tỉnh N phối hợp với Phòng C5 - Công an tỉnh N, kiểm tra kho hàng của Vũ Thị Kim D tại thôn Đ - xã V - huyện V - tỉnh Nam Định; đã phát hiện, thu giữ 13.347 sản phẩm túi xách, ví giả mạo các thương hiệu của nước ngoài, không có hóa đơn chứng từ chứng minh nguồn gốc xuất xứ, cụ thể:

  • - 2220 sản phẩm (túi xách, ví) có ký hiệu, nhãn mác của hãng G2.
  • - 936 sản phẩm (túi xách, ví ) có ký hiệu, nhãn mác của hãng Y1.
  • - 5373 sản phẩm (túi xách) có ký hiệu, nhãn mác của hãng H5.
  • - 200 sản phẩm (túi xách) có ký hiệu, nhãn mác của hãng C6.
  • - 4.614 sản phẩm (túi xách, ví) có ký hiệu, nhãn mác của hãng L6.
  • - 04 sản phẩm (ví) có ký hiệu, nhãn mác của hãng D3.

Tại Bản kết luận giám định sở hữu công nghiệp số NH549-21TC.TP/KLGÐ ngày 13/8/2021 của Viện khoa học sở hữu trí tuệ - Bộ K1 và Công nghệ xác định: Các sản phẩm túi xách, ví có gắn lô gô, nhãn hiệu GUCCI, YVES SAINT LAURENT, HERMES, CHANEL, LOUIS VUITTON, DIOR đã thu giữ của Vũ Thị Kim D đều là hàng hoá giả mạo đối với nhãn hiệu được bảo hộ tương ứng tại Việt Nam.

Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 16/KL-HĐĐGTS ngày 11/10/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự tỉnh Nam Định xác định: Tổng trị giá 13.347 sản phẩm túi xách và ví giả mạo nhãn hiệu GUCCI, YVES SAINT LAURENT (YSL), HERMES, CHANEL, LOUIS VUITTON MALLETIER (LV), C8 (DIOR) là 3.775.980.000 đồng.

Tai cơ quan điều tra, Vũ Thị Kim D, Bùi Thị T đã khai 13.347 sản phẩm túi xách, ví giả mạo các thương hiệu của GUCCI, YVES SAINT LAURENT, HERMES, CHANEL, LOUIS VUITTON, DIOR đã thu giữ là của Vũ Thị Kim D thu mua từ nhiều mối hàng, nhằm mục đích để cùng Bùi Thị T livestream bán hàng kiếm lời.

Hành vi của Vũ Thị Kim D, Bùi Thị T đã xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với các tổ chức kinh doanh có nhãn hiệu đang được bảo hộ tại Việt Nam. Vì vậy hành vi của Vũ Thị Kim D, Bùi Thị T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp”; Do số lượng hàng hoá mà các bị cáo giả mạo nhãn hiệu có trị giá 3.775.980.000 đồng, nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự với tình tiết định khung quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 266 BLHS

Quan điểm truy tố và luận tội của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định là có căn cứ pháp lý.

Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế, trực tiếp xâm phạm đến uy tín của các tổ chức kinh doanh có nhãn hiệu đang được bảo hộ tại Việt Nam. Trên các phương tiện thông tin đại chúng, Đảng và Nhà nước đã tuyên truyền giáo dục bất cứ hành vi nào xâm phạm đến lĩnh vực kinh tế do Nhà nước quản lý đều bị nghiêm cấm và xử lý nghiêm, vì đây là một trong những nguyên nhân gây ảnh hưởng thiệt hại đến nguồn ngân sách Nhà nước, ảnh hưởng trực tiếp đến việc kinh doanh của các tổ chức kinh tế nước ngoài có nhãn hiệu đang được bảo hộ tại Việt Nam. Các bị cáo đều là những người có đủ năng lực, tự nhận thức và biết hành vi của bản thân là vi phạm pháp luật bị Nhà nước nghiêm cấm, nhưng do mục đích tư lợi hám lời, các bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội, với tính chất tội phạm nghiêm trọng được thể hiện ở số lượng và trị giá hàng hoá mà các bị cáo giả mạo nhãn hiệu. Vì vậy hành vi của các bị cáo cần được xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.

[3] Xếp vai trò các bị cáo trong vụ án nhận thấy, bị cáo Vũ Thị Kim D là người trực tiếp thu mua các sản phẩm túi ví giả mạo nhãn hiệu nước ngoài, là người điều hành quản lý hành vi quảng cáo để bán hàng (dưới hình thức livestream bán hàng); Vì vậy Vũ Thị Kim D giữ vai trò số 1.

Bùi Thị T được D thuê làm công việc livestream bán hàng, vì vậy T giữ vai trò đồng phạm giúp sức tích cực cho D thực hiện hành vi phạm tội, xếp vị trí số 2.

[4] Khi lượng hình xét thấy:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 BLHS.

+ Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân; lần đầu phạm tội thuộc trường hợp tội phạm ít nghiêm trọng; ví xách giả mạo các nhãn hiệu đang được bảo hộ tại Việt Nam do các bị cáo thu mua tàng trữ nhằm mục đích livetream bán hàng đã được Cơ quan chức năng thu giữ kịp thời, nên chưa lưu thông trên thị trường, chưa gây ra thiệt hại về vật chất đối với các nhãn hiệu được bảo hộ tại Việt Nam; cả hai bị cáo đều đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi, nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h, i, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 BLHS.

[5] Trên cơ sở xem xét tính chất mức độ hành vi, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ; đối chiếu với các quy định của pháp luật và các văn bản hướng dẫn thực thi Bộ luật hình sự, nhận thấy các bị cáo Vũ Thị Kim D, Bùi Thị T đã ăn năn hối cải thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân, nhân thân chưa có tiền án tiền sự, lần đầu phạm tội, phạm tội thuộc trường hợp tội phạm ít nghiêm trọng, không có tình tiết tăng nặng, được hưởng 03 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS, có nơi cư trú rõ ràng, đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi; đối chiếu với các quy định của pháp luật và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng xét xử thấy có đủ điều kiện áp dụng Điều 65 BLHS cho bị cáo được hưởng án treo, ở tại nơi cư trú dưới sự giám sát của chính quyền địa phương, tự cải tạo lao động để khắc phục sửa chữa sai phạm.

Như vậy mới tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo, đáp ứng được công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm mà Đảng và Nhà nước đã đề ra đồng thời cũng thể hiện tính khoan hồng nhân đạo của pháp luật Việt Nam đối với người phạm tội đã biết ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân.

[6] Hình phạt bổ sung:

Bị cáo Vũ Thị Kim D, Bùi Thị T đều có đơn có xác nhận của chính quyền địa phương thể hiện các bị cáo hiện đang nuôi con nhỏ, không có việc làm, không có thu nhập, nên xét thấy không áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với cả hai bị cáo là phù hợp quy định pháp luật.

[7] Trách nhiệm dân sự:

Quá trình điều tra xác định, các bị cáo đã thu mua, tàng trữ 13.347 sản phẩm túi xách, giả mạo nhãn hiệu GUCCI, YVES SAINT LAURENT, HERMES, CHANEL, LOUIS VUITTON, DIOR, nhằm mục đích để livestreem bán hàng kiếm lời, đã xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đối với các hãng GUCCI, YVES SAINT LAURENT, HERMES, CHANEL, LOUIS VUITTON, DIOR. Vì vậy các bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường theo Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ.

[7.1] Các thương hiệu GUCCI, YVES SAINT LAURENT, CHANEL, LOUIS VUITTON, DIOR, đều có đơn không có yêu cầu bồi thường tại phiên toà sơ thẩm và xin bảo lưu quyền yêu cầu bồi thường. Vì vậy Hội đồng sẽ không xem xét trách nhiệm dân sự của các bị cáo đối với các thương hiệu này. Khi nào các thương hiệu GUCCI, YVES SAINT LAURENT, CHANEL, LOUIS VUITTON, DIOR có yêu cầu về trách nhiệm dân sự sẽ khởi kiện bằng vụ án dân sự theo quy định của pháp luật.

[7.2] Tại phiên toà sơ thẩm, đối với yêu cầu bồi thường về vật chất theo khoản 1 Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ, công ty H4 không đề nghị tại phiên toà sơ thẩm mà bảo lưu quan điểm để xem xét trong vụ án dân sự khi có yêu cầu sau, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét trách nhiệm bồi thường vật chất của hai bị cáo đối với công ty H4.

Công ty H4 yêu cầu bị cáo Vũ Thị Kim D và Bùi Thị T phải bồi thường tiền thiệt hại về tinh thần, chi phí hợp lý thuê luật sư theo khoản 1, khoản 2 Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ.

Hội đồng xét xử nhận thấy, hành vi của các bị cáo đã gây thiệt hại về tinh thần cho thương hiệu HERMES, thương hiệu HERMES phải thuê luật sư để tham gia tố tụng trong vụ án hình sự, nên các bị cáo phải bồi thường thiệt hại cho thương hiệu HERMES theo quy định tại khoản 2 Điều 205, khoản Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ - như đề nghị của Công ty H4 là có căn cứ pháp lý.

Căn cứ số lượng sản phẩm túi xách, ví giả mạo nhãn hiệu HERMES nhằm mục đích để livetream bán hàng, Hội đồng xét xử buộc các bị cáo phải liên đới bồi thường cho thương hiệu HERMES 50 triệu đồng thiệt hại về tinh thần, và 49.194.444 đồng chi phí hợp lý để thuê luật sư, tổng là 99.194.444 đồng. Bị cáo Vũ Thị Kim D và Bùi Thị T phải liên đới bồi thường cho thương hiệu HERMES theo phần cụ thể như sau:

Bị cáo Vũ Thị Kim D phải bồi thường 69.194.444 đồng
Bị cáo Bùi Thị T phải bồi thường 30 triệu đồng.

[8] Xử lý vật chứng:

- 01 cây vi tính (CPU), 01 Màn hình máy vi tính, 01 Máy in, 01 đầu thu camera, các bị cáo đã sử dụng nhằm mục đích livetream bán hàng, xác định là phương tiện dùng vào việc phạm tội, nên tuyên tịch thu hoá giá sung quỹ Nhà nước.

- 13.347 sản phẩm túi xách, ví giả mạo các nhãn hiệu nước ngoài: HERMES, LOUIS VUITTON (LV), GUCCI, CHANEL, DIOR, YVES SAINT LAURENT (YSL), tuyên tịch thu tiêu huỷ.

[9] Căn cứ Điều 136 BLTTHS và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14:

Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự giá ngạch theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố các bị cáo Vũ Thị Kim D, Bùi Thị T phạm tội “Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp”.
  2. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 266; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 65 BLHS. Xử phạt:

    Bị cáo Vũ Thị Kim D 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (hai mươi bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Bị cáo Bùi Thị T 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Giao bị cáo Vũ Thị Kim D cho UBND phường N - quận C - TP Hà Nội; Giao bị cáo Bùi Thị T cho UBND phường M - quận N - TP Hà Nội, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 BLHS.

    Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

  3. Trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 2 Điều 205; khoản 3 Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ.

    Buộc các bị cáo Vũ Thị Kim D, Bùi Thị T phải liên đới bồi thường cho thương hiệu HERMES số tiền 99.194.444 đồng; theo phần:

    Bị cáo Vũ Thị Kim D phải bồi thường 69.194.444 đồng.

    Bị cáo Bùi Thị T phải bồi thường 30.000.000 đồng.

  4. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 BLTTHS

    - Tuyên tịch thu hoá giá sung quỹ Nhà nước 01 cây vi tính (CPU), 01 Màn hình máy vi tính, 01 Máy in, 01 đầu thu camera.

    - Tuyên tịch thu tiêu huỷ 13.347 sản phẩm túi xách, ví giả mạo các nhãn hiệu nước ngoài HERMES, LOUIS VUITTON (LV), GUCCI, CHANEL, DIOR, YVES SAINT LAURENT (YSL).

    (Chi tiết cụ thể ghi trong Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 25/28 ngày 09-12-2024 giữa Công an tỉnh N và Cục thi hành án dân sự tỉnh Nam Định)

  5. Án phí:

    + Án phí hình sự sơ thẩm: Vũ Thị Kim D, Bùi Thị T, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng.

    + Án phí dân sự giá ngạch:

    Bị cáo Vũ Thị Kim D phải nộp 3.459.722 đồng.

    Bị cáo Bùi Thị T phải nộp 1.500.000 đồng.

Báo các bị cáo, đại diện theo uỷ quyền của Công ty H4 được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Đại diện theo uỷ quyền của Công ty G và Công ty Y; đại diện theo uỷ quyền của Công ty C3; đại diện theo uỷ quyền của Công ty L4; đại diện theo uỷ quyền của Công ty C4; vắng mặt tại phiên toà sơ thẩm, được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì các bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - CA, VKS tỉnh NĐ
  • - Cục THA dân sự tỉnh Nam Định
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Nam Định
  • - Bị cáo; Người tham gia tt
  • - Lưu HS, tòa HS

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Thị Mai Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 38/2025/HS-ST ngày 19/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH về xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp

  • Số bản án: 38/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1. Tuyên bố các bị cáo Vũ Thị Kim D, Bùi Thị T phạm tội “Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp”. 2. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 266; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 65 BLHS. Xử phạt: Bị cáo Vũ Thị Kim D 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (hai mươi bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị cáo Bùi Thị T 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Vũ Thị Kim D cho UBND phường N - quận C - TP Hà Nội; Giao bị cáo Bùi Thị T cho UBND phường M - quận N - TP Hà Nội, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger