Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỨC HÒA

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 38/2025/HS-ST

Ngày: 18-03-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Linh Duy

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông La Văn Việt
  2. Ông Nguyễn Thanh Hoàng

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Huỳnh Như – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Phạm Hồng Diễm - Kiểm sát viên;

Ngày 18 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 41/2025/TLST-HS, ngày 18 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trương Trọng N (tên gọi khác: T), sinh ngày 19/5/1993, tại Long An. Nơi cư trú: Ấp Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 10/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Họ và tên cha: Trương Văn H, sinh năm 1964 (sống); H1 và tên mẹ: Nguyễn Thị N1, sinh năm 1964 (sống); Bản thân có vợ tên Nguyễn Thị Mai L, sinh năm 1993 (đã ly hôn), có 02 người con, lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo Trương Trọng N bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 17/01/2025 đến ngày 15/02/2025 tại xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An, bị cáo có mặt.

Bị hại: Võ Thành T1, sinh năm 1997 (có mặt)

Địa chỉ: Ấp Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Bà Phan Thị Yến N2, sinh năm 1997 (có mặt)
  2. Địa chỉ: Ấp Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.

  3. Lê Nguyễn Giang L1, sinh năm 1996 (có mặt)
  4. Địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện B, tỉnh Long An.

Người làm chứng:

  1. Ông Phan Thanh N3, sinh năm 1962 (vắng mặt)
  2. Địa chỉ: Ấp Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.

  3. Võ Hoa Z, sinh năm 1990 (vắng mặt)
  4. Địa chỉ: Ấp Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.

  5. Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1987 (vắng mặt)
  6. Địa chỉ: Ấp Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.

  7. Ngô Huyền T3, sinh ngày 02/9/2007 (vắng mặt)
  8. Địa chỉ: Ấp Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.

  9. Nguyễn Quốc H2, sinh năm 2001 (vắng mặt)
  10. Địa chỉ: Ấp Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.

  11. Võ Văn S, sinh năm 1968 (vắng mặt)
  12. Địa chỉ: Ấp Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ ngày 23/6/2024, Trương Trọng N điều khiển xe mô tô hiệu Honda, loại Vision, biển số 62P2-241.36 chở Lê Thị Giang L2 (sống chung như vợ chồng với N), đi từ nhà của N về nhà của L2 tại thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An. Khi đến khu vực đường Đ thuộc ấp Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An, N quay đầu xe lại để cho L2 lấy cục sạc pin điện thoại. Sau khi quay đầu xe để chạy về nhà, N dừng xe lại sát lề phải để sang đường vào tiệm T4 mua thuốc hút. Khi N vừa dừng xe có Võ Thành T1 điều khiển xe gắn máy hiệu Honda, loại Cub, biển số 70M1-0675 chạy cùng chiều từ phía sau đến va chạm vào phía sau xe mô tô của N. Sau va chạm, cả hai xe không bị ngã nhưng xe của N bị dịch chuyển về phía trước khoảng 02m. Lúc này, L2 vẫn ngồi trên xe, còn N bước xuống xe đi lại đứng trước đầu xe của T1 cự cãi với T1.

Ngoài ra, giữa N và T1 có quan hệ anh em (con C, con Bác) nhưng trước đó giữa N và T1 cũng có mâu thuẩn vì T1 mượn tiền của Giang L2 và còn đánh Giang L2 nên khi cự cãi do va quẹt xe, N không kìm chế dùng tay phải đánh ngang 01 cái theo hướng từ phải sang trái trúng vào vùng mũi của T1 gây thương tích, N tiếp tục dùng hai tay đánh theo hướng ngang trúng vào vùng mặt và đầu của T1 gây thương tích. Sau đó, N lên xe định điều khiển chở L2 đi thì T1 tiếp tục có lời lẽ thách thức “mày muốn gì lại đây” nên N xuống xe và đi lại đứng đối diện T1, N dùng hai tay đánh ngang khoảng 03 đến 04 cái trúng vào hai bên đầu và mặt của T1. Thấy vậy, L2 đi lại can ngăn, kêu N đi về. Sau đó, có Phan Thị Yến N2 (vợ của T1) cùng với Nguyễn Thị T2 (chị dâu T1) đến, N2 hỏi N tại sao đánh T1 và đi đến ôm N lại, T1 thấy vậy nên xông đến dùng tay đánh N và dùng chân đạp N té ngã xuống nhưng không gây thương tích. Lúc này, người dân đến can ngăn nên N điều khiển xe mô tô chở L2 đi về, còn T1 được người thân đưa

đến Bệnh viện Đ điều trị, sau đó chuyển đến Bệnh viện Nhân dân 115 Thành phố H tiếp tục điều trị thương tích.

Đến ngày 08/7/2024, T1 có đơn tố cáo gửi Công an xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An đề nghị xử lý hình sự đối với hành vi của Trương Trọng N theo quy định pháp luật.

Vật chứng thu giữ: Không có.

Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 305/KLTTCT-TTPY ngày 09/10/2024 của Trung tâm pháp y, Sở Y, kết luận tình hình thương tích của Võ Thành T1 như sau:

“1. Các kết quả chính:

  • Gãy xương mũi.
  • Nứt bản sọ ngoài xương thái dương trái.

2. Kết luận:

Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT, ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y1 quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của Võ Thành T1 tại thời điểm giám định là: 14% (Mười bốn phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

Kết luận khác:

  • Gãy xương mũi. Tỷ lệ: 09%.
  • Nứt bản sọ ngoài xương thái dương trái. Tỷ lệ: 06%.
  • Nếu không cấp cứu kịp thời không dẫn đến tử vong”.

Tại bản cáo trạng số 50/CT-VKSĐH ngày 13 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An truy tố bị cáo Trương Trọng N về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự .

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên sau khi phân tích, đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi mà bị cáo Trương Trọng N gây ra; căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Trương Trọng N phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng khoản 1 Điều 134, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50, Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 2, Điều 4, Điều 6 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo; Điều 1 Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 4 năm 2022 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo, đề nghị xử phạt bị cáo Trương Trọng N từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm đến 03 năm, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án.

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 584, 586, 590 Bộ luật Dân sự, ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của bị cáo N và bị hại T1 về việc bồi thường thiệt hại các khoản như sau:

  • Chi phí nằm viện có hóa đơn kèm theo là 11.345.000 đồng.
  • Tiền chi phí đơn thuốc nằm viện là 5.271.000 đồng
  • Chi phí mất thu nhập hàng tháng trong thời gian 03 tháng x 9.000.000đồng/tháng = 27.000.000đồng.
  • Tiền bồi thường tổn thất tinh thần: 05 tháng x 2.340.000 đồng = 11.700.000 đồng.
  • Tiền mất thu nhập của người nuôi dưỡng trong thời gian điều trị bệnh 01 tháng là 9.000.000 đồng.
  • Thuốc điều trị không có hóa đơn trong thời gian tại nhà là 5.000.000 đồng
  • Chi phí tiền xe xuất viện về nhà là 1.500.000 đồng;
  • Chi phí tiền tái khám lần 01 ngày 10/7/2024 và lần 02 ngày 29/8/2024 tổng số tiền là 2.200.000 đồng;
  • Tiền đi lại giám định là 1.500.000 đồng.

Tổng số tiền bồi thường được bị cáo N và bị hại T1 thống nhất là 73.000.000 đồng khấu trừ số tiền 10.000.000 đồng bị cáo N đã tự nguyện tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, bị cáo N phải bồi thường thêm bị hại T1 số tiền 63.000.000 đồng.

Đối với việc bị cáo Trương Trọng N dùng chân đạp Phan Thị Yến N2 (vợ T1) gây thương tích nhẹ, N2 tự nguyện có đơn từ chối giám định tỷ lệ thương tích và không yêu cầu xử lý hành vi của N nên đề nghị không xem xét.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Đánh giá về tố tụng:

[1.1]. Về hành vi, quyết định tố tụng:

Cơ quan điều tra Công an huyện Đ và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, các chứng cứ đã thu thập là có căn cứ, đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[1.2]. Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng:

Đối với những người làm chứng đã được cơ quan điều tra lấy lời khai để xác định sự thật vụ án, sự vắng mặt của những người này không ảnh hưởng gì

đến phiên tòa nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt theo Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2].Đánh giá chứng cứ của Hội đồng xét xử:

[2.1]. Hành vi khách quan của bị cáo Trương Trọng N đã thực hiện:

Tại phiên tòa, bị cáo Trương Trọng N thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như sau: Khoảng 17 giờ ngày 23/6/2024, tại đường Đ thuộc ấp Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An, do có mâu thuẩn từ trước và có xảy ra va chạm giữa xe mô tô nhãn hiệu Honda Cub biển số 70M1-0675 do Võ Thành T1 điều khiển và xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vision, biển số 62P1-241.36 do Trương Trọng N điều khiển dẫn đến N và T1 xảy ra mâu thuẫn cự cãi và sau đó N có hành vi dùng tay đánh 04 đến 05 cái trúng vào vùng mặt, mũi, hai bên đầu của T1 gây thương tích cho T1 với tỷ lệ tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là 14%. Sau đó, bị hại T1 có đơn tố cáo yêu cầu xử lý hành vi của N theo qui định pháp luật hình sự.

Xét lời khai nhận của bị cáo Trương Trọng N tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng, đúng về thời gian, địa điểm bị cáo thực hiện hành vi, đặc điểm thương tích, phù hợp với Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 305/KLTTCT-TTPY ngày 09/10/2024 của Trung tâm pháp y, Sở Y, các chứng cứ khách quan khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa và phù hợp nội dung cáo trạng.

[2.2]. Hội đồng xét xử đánh giá:

Có căn cứ xác định bị cáo Trương Trọng Nghĩa là người đã thành niên có hành vi gây thương tích cho bị hại Võ Thành T1 với tỷ lệ thương tích là 14%. Từ đó, Hội đồng xét xử có căn cứ xác định hành vi của bị cáo Trương Trọng N đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Như vậy, Cáo trạng số 50/CT-VKSĐH ngày 13 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An truy tố bị cáo Trương Trọng N theo tội danh, Điều luật trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi vi phạm pháp luật của bị cáo Trương Trọng N gây ra là nguy hiểm. Hành vi này không những đã xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của bị hại mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự xã hội tại địa phương. Khi thực hiện hành vi, bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho tính mạng, sức khỏe của bị hại và thấy trước hậu quả gây thương tích cho người khác là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn thực hiện với lỗi cố ý. Do đó, hành vi, hậu quả mà bị cáo gây ra cần áp dụng mức hình phạt tương xứng mới có tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[3]. Đánh giá về tình tiết định khung, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

- Về tình tiết định khung: Hành vi của bị cáo Trương Trọng N dùng tay đánh gây thương tích cho bị hại Võ Thành T1 với tỷ lệ thương tích là 14% nên thuộc tình tiết định khung quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:

+ Tình tiết tăng nặng: Bị cáo Trương Trọng N không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

+ Về các tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Trương Trọng N thành khẩn khai báo, có ý thức ăn năn, tự nguyện sửa chữa, khắc phục hậu quả, bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có bà nội - bà Võ Thị M là người có công với cách mạng được chính quyền địa phương xác nhận, bị cáo có hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn được chính quyền địa phương xác nhận, tại phiên tòa, bị hại T1 xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, thấy rằng bị cáo N có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng; do đó việc áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương đối với bị cáo cũng có tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung.

Từ đó, xét quan điểm của Kiểm sát viên đề nghị áp dụng hình phạt tù có thời hạn cho hưởng án treo đối với bị cáo là phù hợp nên ghi nhận.

[4]. Đối với việc bị cáo Trương Trọng N dùng chân đạp Phan Thị Yến N2 (vợ T1) gây thương tích nhẹ, N2 tự nguyện có đơn từ chối giám định tỷ lệ thương tích và không yêu cầu xử lý hành vi của N nên không xem xét.

[5]. Về trách nhiệm dân sự:

Quá trình điều tra, bị hại Võ Thành T1 yêu cầu bị cáo N bồi thường thiệt hại số tiền tổng cộng là 221.816.000 đồng.

Tại phiên tòa, bị cáo N và bị hại T1 đã tự nguyện thỏa thuận được với nhau về trách nhiệm dân sự về bồi thường thiệt hại các khoản cụ thể như sau:

  • Chi phí nằm viện có hóa đơn kèm theo là 11.345.000 đồng.
  • Tiền chi phí đơn thuốc nằm viện là 5.271.000 đồng.
  • Chi phí mất thu nhập hàng tháng trong thời gian 03 tháng x 9.000.000đồng/tháng = 27.000.000đồng.
  • Tiền bồi thường tổn thất tinh thần: 05 tháng x 2.340.000 đồng = 11.700.000 đồng.
  • Tiền mất thu nhập của người nuôi dưỡng trong thời gian điều trị bệnh 01 tháng là 9.000.000 đồng.
  • Thuốc điều trị không có hóa đơn trong thời gian tại nhà là 5.000.000 đồng
  • Chi phí tiền xe xuất viện về nhà là 1.500.000 đồng;
  • Chi phí tiền tái khám lần 1 ngày 10/7/2024 và lần 2 ngày 29/8/2024 tổng số tiền là 2.200.000 đồng;

Tổng số tiền bị cáo N có trách nhiệm bồi thường cho bị hại T1 là 73.000.000 đồng (bị cáo N và bị hại T1 thống nhất làm tròn từ số tiền 73.016.000

đồng), khấu trừ số tiền 10.000.000 đồng bị cáo N đã tự nguyện tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An. Bị cáo N phải bồi thường tiếp số tiền 63.016.000 đồng. Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 584, 586, 590 Bộ luật Dân sự, HĐXX ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của bị cáo N và bị hại T1.

[6]. Về án phí:

Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí tòa án.

Buộc bị cáo Trương Trọng N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm sung vào Ngân sách Nhà nước.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trương Trọng N phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  2. Về Điều luật áp dụng và hình phạt:
  3. Áp dụng khoản 1 Điều 134, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50, Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 2, Điều 4, Điều 6 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo; Điều 1 Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 4 năm 2022 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo:

    Xử phạt bị cáo Trương Trọng N 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án.

    Giao bị cáo Trương Trọng N về Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Trương Trọng N có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

    Trường hợp bị cáo Trương Trọng N thay đổi nơi cư trú thì áp dụng Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.

  4. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 584, 586, 590 Bộ luật Dân sự:
  5. Buộc bị cáo Trương Trọng N có trách nhiệm bồi thường cho bị hại Võ Thành T1 tổng số tiền là 73.000.000 đồng, khấu trừ số tiền 10.000.000 đồng bị cáo N đã tự nguyện tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An theo Biên lai thu số 0003234 ngày 10/02/2025, bị cáo Trương Trọng N phải bồi thường thêm cho bị hại Võ Thành T1 số tiền 63.000.000đồng (Sáu mươi ba triệu đồng).

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) bên có nghĩa vụ chưa thi hành xong số tiền trên thì còn phải trả cho bên được thi hành án khoản tiền lãi suất theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 BLDS năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

  6. Về án phí: Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí tòa án.
  7. Buộc bị cáo Trương Trọng N nộp 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 3.150.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm sung vào ngân sách Nhà nước.

  8. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
  9. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

  10. “Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định các điều 6, 7, 9 Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Thành viên Hội đồng xét xử

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

La Văn V – Nguyễn Thanh Hoàng

Nguyễn Khắc Linh D

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 38/2025/HS-ST ngày 18/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 38/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáoTrương Trọng N về tội cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger