|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 38/2025/HS-ST Ngày: 14/3/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Minh Phương
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị An
2. Bà Lê Thị Sinh Chi
- Thư ký phiên toà: Bà Hà Thị Quỳnh Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 3 năm 2025, tại 02 điểm cầu: điểm cầu Trung tâm tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình và điểm cầu thành phần tại Phân trại tạm giam khu vực thành phố T, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 32/2025/HSST ngày 26 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
Trịnh Văn M, sinh năm 1975; nơi cư trú: thôn B, xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình; Căn cước công dân số [...]; trình độ học vấn: 0/12; nghề nghiệp: lao động tự do; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; giới tính: nam; con ông Trịnh Văn T và bà Lê Thị N (đều đã chết); bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: bản án số 139/2023/HSST ngày 23/8/2023 của TAND thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; tiền sự: không; nhân thân: năm 2018 bị TAND thành phố Thái Bình áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 15 tháng; năm 2019 bị Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; bị bắt tạm giữ từ ngày 06/12/2024, đến ngày 15/12/2024 chuyển tạm giam đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Người chứng kiến:
- Anh Nguyễn Thành C, sinh năm 1987; nơi cư trú: số nhà E, ngõ B, đường L, tổ A, phường K, thành phố T, tỉnh Thái Bình (vắng mặt).
- Anh Đào Văn T1, sinh năm 1989; nơi cư trú: số nhà H, đường N, tổ A, phường K, thành phố T, tỉnh Thái Bình (vắng mặt).
* Điểm cầu thành phần:
1. Những người tiến hành tố tụng:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình tham gia phiên tòa: ông Lê Minh Đ – Kiểm sát viên.
2. Những người tham gia tố tụng:
Bị cáo: Trịnh Văn M.
3. Những người tham gia tố tụng khác: Ông Lưu Thanh T2 và ông Nguyễn Văn D - Cán bộ Phân trại tạm giam khu vực thành phố T, tỉnh Thái Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 06/12/2024, bị cáo Trịnh Văn M đi bộ từ nhà đến khu vực ngõ B đường H, tổ D, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Bình thì gặp và mua được của một người nam giới không biết tên, tuổi, địa chỉ 01 túi nilon bên trong có 03 gói heroin với giá 600.000 đồng. Sau đó bị cáo cầm túi heroin ở trong lòng bàn tay trái rồi đi bộ tìm chỗ để sử dụng. Đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, bị cáo đi bộ đến khu vực ngõ B, đường H, tổ A, phường Q, thành phố T thì bị tổ công tác Công an thành phố T phát hiện. Tại đây trước sự chứng kiến của anh Nguyễn Thành C và anh Đào Văn T1, bị cáo đã tự giác giao nộp cho tổ công tác 01 túi nilon trong suốt có mép cài, viền màu đỏ có chứa 03 gói giấy bạc màu trắng, bên trong gói giấy bạc đều chứa chất bột màu trắng dạng cục và khai đó là heroin bị cáo vừa mua với mục đích để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã niêm phong vật chứng gửi đi giám định. Kết quả giám định đó là ma túy, loại heroin có khối lượng 0,3036 gam. Sau đó tổ công tác đưa bị cáo và mời người chứng kiến về trụ sở Công an phường Q bắt người phạm tội quả tang và làm các thủ tục khác theo quy định.
Bản kết luận giám định số 1776/KL-KTHS ngày 10/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Mẫu gửi giám định là ma túy, loại heroin có khối lượng 0,3036 gam.
Heroin STT: 09 Danh mục 1A phụ lục kèm theo Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ và Nghị định 90/2024/NĐ-CP ngày 17/7/2024 của Chính phủ.
Tại bản Cáo trạng số 42/CT-VKSTPTB ngày 25/02/2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Trịnh Văn M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Trịnh Văn M thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trịnh Văn M phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 50; Điều 38, Điều 35 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Trịnh Văn M từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 06/12/2024.
Hình phạt bổ sung: Phạt tiền bị cáo từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng để nộp ngân sách Nhà nước.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy số ma tuý quản lý của bị cáo được hoàn trả sau giám định.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất ân hận về hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Trong quá trình tiến hành tố tụng, các cơ quan, người tiến hành tố tụng đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Việc ban hành các quyết định tố tụng đúng quy định của pháp luật. Bị cáo không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về căn cứ kết tội với bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo Trịnh Văn M tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của những người chứng kiến. Ngoài ra còn được chứng minh bằng các tài liệu chứng cứ như: biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu người bị tạm giữ; kết luận giám định của Phòng K Công an tỉnh T... cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.
Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hồi 11 giờ 30 phút ngày 06/12/2024, tại khu vực ngõ B đường H, tổ A, phường Q, thành phố T; bị cáo Trịnh Văn M đã có hành vi tàng trữ trái phép trên người 03 gói ma túy, loại heroin, có khối lượng 0,3036 gam, mục đích để sử dụng cho bản thân và bị tổ công tác Công an thành phố T, tỉnh Thái Bình phát hiện, bắt quả tang
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện tội phạm với lỗi cố ý. Vì vậy, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy:
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) Heroine, C1, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 Có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
[3] Đánh giá tính chất, mức độ hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo Trịnh Văn M là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý. Ma tuý là chất gây nghiện, làm suy yếu sức khoẻ con người, gây ảnh hưởng xấu về nhiều mặt cho đời sống kinh tế cũng như đạo đức xã hội. Bị cáo có 01 tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, nhân thân đã một lần bị kết án và một lần bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đều về các tội liên quan đến ma túy; bị cáo biết rõ tác hại của ma tuý và sự trừng phạt nghiêm khắc của pháp luật đối với các tội phạm về ma tuý song bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Điều đó thể hiện thái độ coi thường, bất chấp pháp luật của bị cáo.
[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo có 01 tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do cố ý, do đó bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Tại các giai đoạn tố tụng bị cáo thành khẩn khai báo do đó được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Về mức hình phạt và biện pháp chấp hành hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo Trịnh Văn M, Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, buộc bị cáo phải cách ly đời sống xã hội một thời gian nhất định, có như vậy mới có tác dụng cải tạo bị cáo đồng thời phòng ngừa tội phạm chung.
Xét thấy, bị cáo có nhân thân xấu, nhiều lần vi phạm pháp luật nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền để tăng cường tính răn đe, giáo dục đối với bị cáo.
[6] Xử lý vật chứng: Số ma túy quản lý của bị cáo hoàn lại sau giám định, thuộc loại Nhà nước độc quyền quản lý và cấm tàng trữ, cần áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu tiêu huỷ.
[7] Về nguồn gốc số ma túy: Bị cáo khai mua của một người đàn ông không biết tên tuổi, địa chỉ nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T không có căn cứ để điều tra, xử lý.
[8] Về án phí: Bị cáo Trịnh Văn M phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9] Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trịnh Văn M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trịnh Văn M 02 năm 03 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/12/2024.
Phạt bổ sung bị cáo Trịnh Văn M số tiền 5.000.000 đồng để nộp Ngân sách Nhà nước.
3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,2207 gam ma túy, loại heroin hoàn trả sau giám định, niêm phong trong phong bì số 1776/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh T.
Số vật chứng có đặc điểm như trong trên biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 26/02/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.
4. Về án phí: Bị cáo Trịnh Văn M phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Trịnh Văn M có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 14/3/2025).
|
Nơi nhận:
|
TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Minh Phương |
Bản án số 38/2025/HS-ST ngày 14/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 38/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trịnh Văn M phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
